Author: editor editor

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG VII: NỐI LẠI TÌNH THÂN

    CHƯƠNG VII: NỐI LẠI TÌNH THÂN

    Mới sáng sớm bà đã gọi điện hỏi người thân về địa chỉ và điện thoại của 3 người con bà Ba. Hoá ra, họ cũng ở không xa khu vườn là mấy. Chuyến xe hôm trước lại đưa hai bà cháu đến đó với mấy túi quà. Ba người con bà Ba đều ít tuổi hơn bà. Cũng đúng thôi bởi khi bà còn ở đó bà Ba vẫn chưa sinh con. Sau một hồi chào hỏi, bà đi thẳng vào vấn đề:

    – Lần này cháu trở lại là có việc muốn hỏi các cậu và dì. Chắc các cậu và dì đều biết ông ngoại khi xưa làm nghề phù thuỷ. Ông đã nuôi âm binh ngay trong khu vườn. Ngoài ra, còn có các hồn ma vất vưởng khi đến chữa bệnh và mất tại đó. Khi ông ngoại mất, chắc chưa kịp làm phép để giải thoát đám âm binh. Mấy chục năm qua cháu vẫn luôn nghĩ về điều đó. Ngày hôm qua cháu đã trở lại. Cháu đã đến khu vườn và cháu cảm nhận họ vẫn còn ở đó. Cháu muốn biết về cái chết của ông ngoại, của bà Ba. Cháu muốn tìm người giúp lập đàn để siêu thoát cho đám âm binh đó. Và cháu cần các cậu, các dì giúp đỡ.

    Đám con bà Ba nhìn nhau rồi cậu cả dè dặt:

    – Chúng tôi biết mẹ tôi có lỗi với cháu. Chúng tôi cũng biết cháu đã khốn khổ ra sao khi sống cùng mẹ tôi. Nhưng mẹ tôi đã bị trả giá. Bà đã sống khổ sở và hối hận trong những năm cuối đời. Chúng tôi muốn thay mặt mẹ xin lỗi cháu. Còn về cái chết của bố và mẹ thì đến giờ chúng tôi vẫn không hiểu. Ông mất đột ngột lắm. Đang đứng mà phun ra một ngụm máu tươi rồi ngã xuống. Chỉ sau mấy tiếng rồi ông đi luôn. Mọi người đều nói ông mất do đột quỵ nhưng nhiều người lại nói ông bị trả thù. Rằng những người làm nghề như ông trước sau gì cũng bị đám âm binh làm phản. Lúc ông ngã xuống dường như có nhiều tiếng lạ lắm. Chúng tôi có người nghe ra là tiếng cười, tiếng khóc, tiếng hả hê lẫn cả hốt hoảng. Những ngày làm đám thì quanh nhà lúc nào cũng ầm ầm như tiếng cãi vã, tiếng của đông người đặc biệt là khi đêm xuống. Họ hàng cũng sợ không dám ở lại lâu. Sau khi chôn cất ông xong những âm thanh đó vẫn còn khiến mọi người rất sợ. Mẹ tôi thì mất sau ông khoảng chục năm. Nhưng những năm cuối bà không hoàn toàn tỉnh táo. Bà cứ lảm nhảm suốt từ trong nhà ra đến ngoài vườn. Đặc biệt, bà rất thích đứng ở cái ao cuối vườn để nói cười một mình. Cũng không ai rõ là bà nói những gì. Chúng tôi có hỏi thì bà chỉ cười, nói không đâu vào đâu. Đôi mắt thì láo liên nhìn sợ lắm. Vài lần bà đang đứng bỗng lao người xuống ao. May là đều có người nhìn thấy và lôi bà lên. Bà đi cũng rất nhanh và dường như biết trước là mình sẽ đi. Sáng ấy, bà dường như tỉnh táo hơn mọi ngày. Sau khi tắm rửa, thay quần áo mới bà đi khắp trong nhà ngoài vườn miệng lẩm bẩm như chào, như tạm biệt ai đó rồi sau đó ôm lấy cây cột và từ từ gục xuống. Chúng tôi đã rất sợ. Sau khi bà mất không lâu thì ngôi nhà và khu vườn đành bỏ hoang. Chúng tôi không còn dám ở đó khi những tiếng thì thầm, những cơn ớn lạnh, thậm chí cả tiếng chân chạy, tiếng cười đùa có thể vang lên bất cứ khi nào. Mấy năm đầu, khi bà mới mất chúng tôi còn về đó làm lễ. Nhưng sau đó thì chúng tôi làm luôn ở đây và rất ít khi về đó. Nếu không có việc bắt buộc thì mọi người trong nhà đều tránh phải đi qua khu vườn đó. 

    Không khí như chùng xuống. Bà dè dặt phá đi sự ngăn cách:

    – Cho cháu hỏi thật, sau khi ông bà mất thì các cậu, các dì và các em sau này có hay gặp các sự lạ hay những bất trắc trong cuộc sống không?

    Con gái bà Ba cười khổ:

    – Phải nói là chúng tôi bị trả giá. Trong khi nhà nhà đều giầu có lên thì cả 3 anh chị em tôi vẫn sống trong nghèo khó. Con cái thì dặt dẹo, ốm đau triền miên. Chả biết đời bố mẹ làm gì mà đời con cháu cứ nghèo mãi, khổ mãi. 

    Bà cân nhắc, thận trọng với từng lời nói ra:

    – Vậy đã bao giờ các cậu và dì nghĩ đến việc hoá giải hay giải thoát cho những hồn ma, những âm binh đã đi theo ông ngoại năm xưa hay chưa? Nếu họ vẫn còn ở đó thì có lẽ sẽ không bao giờ hết oán hận, hết quấy phá. Con cháu sau này cũng sẽ bị ảnh hưởng. 

    Cậu cả thở dài:

    – Tôi cũng đã mời vài thầy cao tay đến làm lễ. Người thì chưa kịp làm đã xin thôi. Người thì làm nửa chừng rồi cũng bỏ. Một, hai người nhận lời rồi nhưng sau đó lại gọi điện từ chối không làm nữa. 

    Con gái bà Ba:

    – Anh chị em chúng tôi cũng đã suy nghĩ, bàn bạc với nhau nhiều lần. Chúng tôi biết có nhiều âm hồn bị kẹt lại nơi ngôi nhà và khu vườn đó. Ông mất quá đột ngột, gần như là chết tươi theo cách dân gian vẫn nói nên chưa kịp giải thoát hết đám âm binh. Mẹ chúng tôi thì không đủ năng lực để điều khiển chúng. Bà thậm chí còn bị chúng hành cho đến phát điên, phát dại. Những ngày còn ở đó, chúng tôi đã gặp không ít sự lạ, đặc biệt những hôm trời quang mây tạnh hay khi giao mùa. Nhiều khi, cứ có cảm giác như mình đang sống giữa bao người. Những tiếng bước chân, tiếng thì thầm, tiếng cười chợt vang lên giữa trưa, lúc tảng sáng, khi chập choạng tối hay giữa đêm hôm khuya khuyắt làm chúng tôi lạnh gáy. Chưa kể, con cái trong nhà cứ khóc ngằn ngặt như bị người đánh, người hành lúc đêm khuya. Rồi những chứng bệnh lạ mà ngay cả các bác sĩ tại những bệnh viện lớn cũng bó tay không tìm ra nguyên nhân. Có đứa ở nhà thì đau bụng vật vã, sốt hầm hập nhưng hễ đưa đến viện lại tỉnh như không bị gì. Nhưng hễ bước chân về đến vườn nhà là bệnh lại lập tức tái phát. Quá nhiều năm như vậy, chúng tôi đã đi cúng, đi kêu cầu tại nhiều nơi nhưng không ăn thua. Ai cũng nói vì cha nuôi âm binh nên con cháu gặp hoạ. Chúng tôi cũng không biết làm sao đành phải bỏ lại mảnh đất ấy mà ra nơi khác sống. Nhưng có lẽ cái oán khí ấy vẫn không buông tha cho chúng tôi. Những năm trước, một năm đôi lần, chúng tôi vẫn về đó làm giỗ cho cha mẹ. Lần nào cũng phải kêu thật đông người cùng đi, cùng làm rồi nhanh chóng rời khỏi nơi đó. Vậy mà có mấy lần, khi thì người già, lúc bọn trẻ con lại bị những âm hồn ở đó trêu chọc. Họ bị dắt đi chỗ nọ, chỗ kia rồi bị dúi vào một bụi cây, một xó xỉnh nào đó làm mọi người tá hoả, tìm mãi mới thấy. Dần dà, nhiều người cũng sợ không dám bước chân vào khu vườn ấy nữa. May mắn là những hiện tượng lạ chỉ xảy ra tại đó. Nhiều người bảo trước khi mất, ông đã kịp khoá lũ âm binh lại khu vườn không cho chúng thoát ra ngoài làm hại người khác.  

    Cậu cả thở dài:

    – Có lẽ vì bị nhốt ở đó không ra ngoài được lại không có người sai khiến, cúng tế nên chúng thành những âm hồn vất vưởng, không thể siêu thoát. Lâu dần, chúng đâm ra oán hận và trút mọi nỗi ai oán đó vào con cháu người đã thu nạp chúng khi xưa. Mà nghe nói, khi cháu còn ở đó, hai chị em con ma nhỏ cũng từng rủ cháu đi theo chúng. Vì cháu cứng vía nên chúng không bắt được. Nhưng chúng lại bắt mất người thanh niên đã giúp cháu. Câu chuyện đó chúng tôi được nghe kể nhiều lần khi còn bé. Bà cũng hay lấy chuyện đó ra để dạy tụi tôi rằng lớn nhỏ không quan trọng. Chỉ cần mình cứng cỏi, không sợ thì dù chúng là ma hay quỷ cũng không thể làm gì mình được. Vì bà luôn lặp đi lặp lại điều đó nên chúng tôi cũng dần vững tâm mà ở đó được mấy chục năm. Nhưng tôi vẫn không hiểu. Tại sao ông là người thu nạp, điều khiển chúng mà lại bị chúng hại chết. Ngay cả mẹ tôi, một người không sợ ma, sợ quỷ cuối đời cũng bị chúng hành cho đến dở điên dở dại. Mấy chục năm qua cháu đi biệt, không một lần trở về. Chúng tôi biết khi xưa mẹ chúng tôi đối xử với cháu không tốt nên cháu oán hận không muốn về. Chúng tôi hiểu cả. Nhưng bây giờ cháu đề xuất giải thoát cho những âm hồn đó. Chúng tôi cũng mong được cháu giúp đỡ để giải thoát cho những âm hồn đã đi theo cha cũng là ông ngoại của cháu ngày trước. 

    Bà lặng người trước những lời đề nghị tha thiết từ các cậu và dì con của bà Ba. Khi bà còn ở đó họ vẫn chưa ra đời. Bao nhiêu năm tưởng như giữa họ không có mối quan hệ nào. Nhưng chuyến trở về lần này, và nhất là linh cảm của bà khi đứng tại ngôi vườn đó cho thấy họ phải cùng hợp lại để giải thoát cho những âm hồn đã đi theo ông ngoại từ những ngày xưa ấy.  

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG VI: ƯỚC NGUYỆN

    CHƯƠNG VI: ƯỚC NGUYỆN

    Bà đã uống gần hết ấm chè. Bà đang cố sắp xếp lại mọi chuyện. Từ ngày nghỉ bán hàng bà đã theo các bà trong xóm quy y cửa phật. Ngoài việc lên chùa, tụng kinh, các bà còn tham gia trợ niệm cho những người đang hấp hối. Nhiều lần, ngay giữa đêm các bà cũng gọi điện rồi rủ nhau đến giúp những nhà có người sắp mất khi được nhờ vả. Một tấm vải vàng, mấy quyển kinh Phật. Bà Quý trưởng nhóm và các bà ngồi vây quanh người sắp mất. Họ yêu cầu người nhà không được khóc. Bà Quý sẽ dùng tay sờ lên người sắp đi xem họ đã lạnh đến đâu. Đi trợ niệm nhiều nên bà biết. Đa phần người mất sẽ lạnh dần từ hai chân lên đến đỉnh đầu. Nhưng có người thì ngược lại, lạnh dần từ trên xuống. Chẳng biết là ai nói nhưng các bà đều truyền tai nhau rằng: chỉ cần sờ vào vùng còn ấm sau cùng của người vừa mất thì sẽ biết người vừa mất được đầu thai vào đâu? Được lên làm người tiếp hay bị đoạ vào ngã quỷ. Bà thì không mấy tin chuyện đó nhưng vẫn thích đi theo. Bà Quý khi nhìn người sắp mất thường hô to: 

    – Tỉnh táo, tỉnh táo nào! Cứ nhìn theo người nào mặc áo mầu vàng sẫm thì đi theo nhé. Đó là các Đức Phật đến đón đi đấy. Nhớ là phải thật vàng, như mầu vàng của vàng 4 số chín nhé. Nếu mầu nhạt thì không được theo. Chúng là ma quỷ, là đám giả danh Phật đấy.  

    Những lời của bà Quý trưởng nhóm trợ niệm cứ lặp đi lặp lại khiến bà thấy thuộc lòng. Bà không mấy tin nhưng lại thích cái không khí ấy. Không khí của sự đưa tiễn bằng lòng tin, bằng sự tín ngưỡng dành cho những người sắp chết. Chồng bà và các con đã nhiều lần tỏ ý không hài lòng khi bà cứ lại gần người sắp mất khi người không được khoẻ. Nhưng bà cũng mặc kệ. Bà cảm thấy như mình được làm việc có ích, được tiễn người ta đi hết đoạn cuối của cuộc đời. Cũng nhờ những buổi đi như thế mà khi con rể bà mất vì bạo bệnh cả đám trợ niệm đã có mặt đông đủ. Họ đã làm nhiều nghi thức ngay giữa đêm khiến nhà thông gia – dù không hiểu gì – cũng thấy ấm lòng. Cuộc đời của bà, dù có lúc này lúc khác nhưng lại cứ như trôi giữa hai miền âm dương ấy. Khi còn bé thì ở cạnh ông ngoại, một thầy phù thuỷ, nên sớm biết đến ma quỷ, đến âm binh. Khi già thì lại tham gia vào đội trợ niệm, thích đi chùa, thích nghe kinh. Dù không mê tín nhưng bà thực tâm tin rằng có một thế giới khác, một cõi âm tồn tại ngay cạnh những người đang sống. Họ sống trong thế giới của họ, bên cạnh những người đang sống. Họ đi lại, vào ra nhưng những người đang sống không phải ai cũng có thể nhìn thấy họ. Ở cái thế giới ấy vẫn còn có những giận hờn, oán thán. Ngay như hai con ma nhỏ đã rủ rê bà ngày ấy. Dù chị em chúng đã mất nhưng vẫn còn ôm oán hận. Và những oán hận ấy đã không mất đi mà càng chất chồng sau khi chúng chết. Nhưng bà không thấy sợ. Đã từ lâu bà tin rằng mình cứ kệ họ. Dù sống trong cõi âm hay cõi dương thì mỗi người đều có phận sự, có phúc phần của riêng mình. Chỉ cần mình không phạm họ, không sợ họ thì mọi thứ cũng bình thường thôi. Tâm thế ấy khiến bà không thấy sợ dù đã nhiều lần nhìn thấy họ. Những người đã mất mà mọi người vẫn gọi là ma. Ngay cả khi bà rời khỏi khu vườn, rời khỏi ông ngoại và về với bố mẹ bà vẫn thi thoảng gặp họ – những con ma, những người đã chết. Mọi người đều nói bà vía cao nên không thấy sợ. Bà thì chỉ nghĩ đơn giản mình sống ngay thẳng thì chả có gì phải sợ dù còn bé hay khi đã già, dù sống một mình hay ở cùng chồng con. Bà cũng không hiểu sao mình cứng vía thế mà hai thằng con trai lại nhát kinh khủng. Dù đã lấy vợ, có con nhưng chúng không dám ngủ một mình. Khi đến chỗ lạ, thường chúng vẫn để vợ hay con nằm ngoài còn bản thân thì rúc vào giữa hay phía trong cùng. Ngược lại ba đứa con gái của bà lại mạnh bạo hơn hẳn. Có lẽ phụ nữ nhà bà nói riêng và thiên hạ nói chung đều vất vả, đều nặng gánh lo toan nên cứng cỏi. Dù có sợ, có nhát thì cơm áo gạo tiền cùng nỗi lo cho gia đình, cho chồng con cũng khiến họ coi nhẹ nỗi sợ. Bởi có nỗi sợ nào lớn hơn nỗi lo về cơm áo, gạo tiền. Nỗi lo không có tiền đóng học cho con. Rồi nỗi lo con đói, con ốm theo bà còn lớn hơn nỗi sợ với ma quỷ. Cả cuộc đời bà đã sống trong những nỗi lo đó. Cho đến khi con trai, con gái đều đã lập gia đình. Bà đã có cháu ngoại rồi cháu nội. Bà đã thoát khỏi những nỗi lo về kinh tế khi con cái dần gặp vận tốt và hiếu thảo. Nhưng bà vẫn ám ảnh về nơi cũ, về những con ma bé. Những ngày lên chùa, đọc pháp, nghe kinh bà đã lân la hỏi dò các thầy. Bà muốn biết có cách nào để giải thoát những con ma bị làm bùa, làm phép khi theo thầy năm xưa. Có cách nào để những tâm hồn mang theo oán hận được giải thoát dù còn sống hay khi đã mất. Bà chợt hiểu vì sao mình lại muốn đi về đó đến thế. Có lẽ bà muốn thấy, bà muốn tin rằng họ đã rời khỏi nơi ấy. Họ đã siêu thoát. Nhưng chuyến đi sáng qua khiến bà tin chắc họ vẫn còn ở đó. Cái cảm giác lành lạnh sau gáy khi bà bước chân vào khu vườn vẫn y như 80 năm về trước. Vậy là họ vẫn còn đó, vẫn ở đó ngay cả khi ông ngoại và bà Ba đã mất. Những năm qua họ đã làm những gì khi ông thầy không còn? Ai sẽ khao cúng âm binh để chúng không thành những ma đói ma khát? Vậy ra bao nhiêu năm qua dù không trở lại nhưng tận sâu trong bà vẫn canh cánh một câu hỏi, một sự thắc mắc dù chưa bao giờ thật sự tìm kiếm một câu trả lời hay một giải pháp cụ thể. Bà chợt nhận ra ý muốn của chuyến đi mà khi bắt đầu bà vẫn còn khá mơ hồ. Bà muốn họ được giải thoát. Bà muốn hai con ma bé không còn sống trong nỗi hận thù. Nhưng phải bắt đầu từ đâu? Bà phải làm những gì? Bà lại không biết phép thuật. Bà không biết những thuật phù thuỷ mà năm xưa ông ngoại từng thu nạp và sử dụng họ. Bà sẽ phải làm gì? Phải tìm đến những ai để có thể hoá giải tất cả những chuyện này. 

  • PHẦN MỘT : ÂM BINH CHƯƠNG V: PHONG ẤN

    CHƯƠNG V: PHONG ẤN

    Nhìn bên ngoài khu vườn không có nhiều khác lạ. Nhưng nếu ai có năng lực tâm linh hay giác quan nhạy bén một chút sẽ nhận ra vài điểm. Ví như dù bị bỏ hoang đã lâu nhưng cỏ cây trong khu vườn luôn xanh hơn những vườn cây bên cạnh. Khi sáng sớm, lúc sẩm tối, quãng giữa trưa nếu ai có việc đi ngang đều có cảm giác lành lạnh sau gáy hay mơ hồ như nghe tiếng lúc thì thầm, khi to nhỏ đâu đó. Có người còn quả quyết có những bóng người, thậm chí nhiều người xuất hiện trong khu vườn trong những quãng thời gian khác nhau. Đặc biệt những hôm trời trăng thanh, những bóng người đi lại trong đó càng nhiều. Hàng xóm đồn rằng khu vườn có ma. Rằng có cả một đội quân âm binh vẫn còn ở đó khi ông thầy bị chết bất đắc kỳ tử. Chính vì cái chết đột ngột ấy khiến đám âm binh chưa kịp rải ráp. Chúng cần một người thầy cao tay có thể thu nạp và sử dụng. Cũng có thể một vị cao nhân nào đó có thể giúp chúng được siêu thoát. Ông thầy ra đi đột ngột mà nghe đồn có liên quan đến sự trả thù của một vài âm binh. Bà vợ thì không đủ năng lực nên sau nhiều năm bị chúng hành lên hành xuống cũng đã ra đi. Đám con ông thầy không một ai theo nghề của cha. Những hiện tượng kỳ lạ, những ám ảnh và cả sự đồn thổi của làng xóm cũng khiến mấy người con không dám ở lại đó. Khu vườn bị bỏ hoang đã khá lâu. Không có người chăm nom, không có ai sai khiến nhưng bùa phép của ông thầy vẫn còn đó khiến chúng không thể rời bỏ khu vườn. Mấy chục năm qua đi, từ chỗ hả hê khi khiến người điều khiển chúng mất mạng giờ chúng lại càng khốn khổ hơn khi không có người cúng tế, nuôi ăn hay sai bảo các việc. Đám âm binh đó vẫn dồn tụ trong vườn đi không nổi mà ở cũng chẳng ra sao. Trong những ngày đó, chúng chỉ ôn lại chuyện cũ. Chúng nhớ về quãng thời gian mới được ông thu nạp về đây. Từ những hồn ma vất vưởng được ông chiêu dụ, cho ăn rồi sai đi làm các công việc khác nhau. Đội quân cũng ngày một đông hơn khi có thêm các linh hồn mới là những kẻ bệnh tật bỏ mạng khi không qua khỏi. Có một điều chúng không hiểu. Là kẻ điều khiển âm binh nhưng tại sao ông thầy lại ra sức cứu người khi họ ốm đau, bệnh tật. Một lúc kiêm ba bốn việc nên ông vắng nhà triền miên. Bà vợ trẻ khát chồng đâm ra cáu kỉnh. Và con bé gái ấy là đứa bị hành hạ đến khổ sở khi nó sống ở đây. Chỉ những ngày ông có ở nhà nó mới được bà Ba cho ăn cơm cùng. Khi ông đi vắng bà Ba kiếm đủ cớ để đánh đập, hành hạ và hắt hủi nó. Mới bé tý mà không ít lần nó bị bà Ba đuổi không cho ăn cùng. Con bé đói quá đành lần mò sang các nhà bên cạnh. Nhưng ai cũng nghèo làm sao có thể cưu mang thêm nó. Chưa kể họ còn nể và sợ ông thầy. Sợ luôn cả bà vợ trẻ vừa tai quái vừa ghê gớm của ông. Nhưng cũng không thể bỏ mặc con bé mà không cứu giúp. Vậy là họ cho nó đi làm cùng. Bữa thì đi mót lạc, khi mót khoai hay đám thóc trên đồng chưa gặt hết. Khi mùa vụ qua, họ lại dẫn nó đi theo để hái chè. Được cái con bé cũng chịu khó nên dù có đói cũng hiếm khi nào đứt bữa hẳn. Những hôm chè hái được nhiều, O Thắm còn xúi nó cất bớt tiền dành khi mưa gió hay không có việc để kiếm tiền. O Thắm còn cẩn thận giữ hộ nó một ít phòng khi không có người thuê hay đồng ruộng hết thứ có thể đi bòn, đi mót. Con bé cũng tiết kiệm. Kể cả hôm kiếm được dư dư cũng không dám ăn hơn. Chỉ tội những hôm bà Ba bắt nó đi chăn trâu. Đã không cho ăn còn bắt con bé làm việc khiến nó không ít lần phải hái quả dại, rau dại để ăn cho đỡ đói. May là vườn nhà ông thầy rộng, cỏ mọc nhiều nên trâu nhà cũng ít phải đi chăn. Chỉ những khi trời rét lâu hay khi nắng rát cỏ không mọc nổi thì mới phải dắt trâu đi kiếm cỏ ở bên ngoài. Ông thầy dường như cũng biết vợ mình đối xử với đứa cháu bà Hai không ra gì nhưng lại không dám nói. Ông thì già, vợ lại trẻ. Công việc lại khiến ông hay phải vắng nhà nên mọi việc ông cứ phải giả ngơ để mặc bà Ba muốn làm gì thì làm. Ngay cả khi bà Ba đem bán con bé ông cũng không dám trách mắng nhiều. Ông chỉ lẳng lặng đi tìm rồi âm thầm chuộc nó về. Người tưởng như chả sợ ai, kể cả ma quỷ như ông thầy lại rất sợ bà Ba. Có lẽ vì bà ấy trẻ, vẫn còn đẹp nên ông muốn giữ. Sự bất công ấy đám âm binh và những linh hồn vất vưởng trong ngôi nhà, trong khu vườn đã chứng kiến hết. Chúng không dám can thiệp vào việc nhà của ông thầy. Chúng chỉ biết xót thương con bé còn nhỏ mà bị bao khổ nạn. Chỉ có hai chị em con ma nhỏ là luôn thấy bất bình. Vì chúng mất khi còn nhỏ nên không được ông thầy thu nạp. Ông cũng không nỡ đuổi khi cha mẹ chúng tiếc tiền không làm lễ cho hai chị em siêu thoát. Chị em chúng đành vất vưởng ở lại khu vườn. Không người cúng lễ chúng thành những ma đói ma khát đôi khi được đám âm binh thương tình vứt cho một ít. Thời buổi khốn khó, ông thầy cũng ít việc nên đám âm binh cũng không dư dả gì. Đồ khao quân cũng ngày một ít khiến chúng ăn còn không đủ nên cũng chả giúp hai chị em con ma nhỏ được nhiều. Sống trong cảnh đói khát nhưng hai chị em con ma nhỏ lại không bị đánh đập, bắt nạt. Những con ma lớn thương lũ ma bé đói khát nên cũng mặc kệ chúng muốn làm gì thì làm. Hai chị em con ma nhỏ lại thấy thương con bé cháu gái ông thầy khi luôn bị bà Ba đánh đập, bỏ đói. Chúng nghĩ khi còn sống chúng cũng không được bố mẹ yêu thương. Khi chết đi cũng chỉ được chôn cất qua loa cho có lệ. Không làm lễ nên đến nhà chúng cũng chẳng về được. Không chốn dung thân nên chúng mới lẩn khuất rồi ở lại nơi này. Nơi linh hồn chúng từ giã cõi đời trên chiếc phản của nhà ông thầy.Và chúng đã chứng kiến con bé bị hành hạ. Chúng muốn rủ con bé đi cùng. Ít ra đi theo chúng dù có bị đói nhưng cũng không bị đánh đập, hành hạ. Nhưng con bé đó cao vía. Dù chúng có ngọt nhạt, dỗ dành ra sao vẫn nhất quyết không đi. Nó vẫn mong một ngày được về lại với bố mẹ, với anh em ở một ngôi làng nào đó xa lắc tận ngoài Bắc. Nó còn gọi cả người đến hỗ trợ. Đó là một thanh niên nhà bên cạnh. Anh ta đã chạy đến mang con bé đi khi nó kêu cứu. Hai con ma nhỏ giận lắm. Chúng không rủ được con bé đi cùng nên quay ra căm hận người thanh niên đã cứu giúp con bé. Chúng hành anh ta ốm lên ốm xuống suốt mấy tháng mà không tìm ra bệnh. Rồi cuối cùng người thanh niên ấy cũng mất. Nhưng anh ta mất lại là xui cho chúng. Cả vùng ai cũng biết ông thầy cao tay. Thầy có thể sai khiến lũ âm binh làm nhiều việc từ trong nhà ra đến thiên hạ. Nhà ai có người ốm, người bị ma hành, quỷ nhập cũng tìm đến ông thầy. Nhưng ông thầy đã không cứu nổi người thanh niên dù là hàng xóm. Sự bất lực của ông khiến danh tiếng bị sa sút đi nhiều. Những người ở gần không còn tin vào tài phép của ông. Khách vắng khiến lũ âm binh đã đói lại càng thêm đói. Chúng bắt đầu ghét hai chị em con ma nhỏ. Chúng muốn đuổi hai chị em nó đi nhưng ông thầy lại làm ngơ. Ông không thu nạp nhưng cũng không đuổi dù biết chúng gây ra tai hoạ. Dường như ông biết điều gì đó mà đám âm binh không hay biết. Dù gì thì người chủ khu vườn không đuổi nên chúng cũng chả đủ năng lực và lý do để đuổi hai chị em con ma nhỏ đó đi. Chúng đâu biết sự hận thù đã biến chị em nó thành quỷ. Một thứ còn đáng sợ hơn cả chúng khi có thể ra tay thật tàn ác. 

    Chuyến trở lại của con bé đó đã làm cả khu vườn xáo trộn. Gần 80 năm đã trôi qua. Nhưng chúng vẫn nhận ra bà lão hom hem kia chính là con bé gầy gò của năm nào. Tại sao con bé ấy lại quay về khi đã đi biệt lâu đến thế. Cả ông thầy và bà Ba cũng đã không còn. Đám con ông bà cũng bỏ ra ngoài sinh sống. Khu vườn bị bỏ hoang đã khá lâu. Vậy mà con bé đó lại quay về.

    Hai chị em con ma nhỏ cũng ngồi đó. Cuộc trở lại bất ngờ của bà lão chính là con bé con năm xưa khiến chúng choáng váng. Vậy là con bé đó đã lập gia đình, đã có con, thậm chí có cả cháu. Nhìn con bé cháu đi cùng có vẻ nó có một cuộc sống khá tốt. Nó trông cao ráo, xinh đẹp, tóc dài, da trắng, mặt mũi tươi tỉnh. Cùng là trẻ con nhưng trong khi chúng và cả con bé năm xưa phải sống trong khốn khổ vì bị bỏ mặc, bị đánh đập, chửi mắng thì con bé cháu giống như một thiên thần. Cả người nó toát lên sự hạnh phúc, toát lên niềm vui. Những thứ đó cả cuộc đời của chị em chúng và quãng thời gian thơ ấu của con bé kia đều không có được. Một thứ ánh sáng của sự hài lòng, của niềm hạnh phúc. Chúng bỗng thấy ghen tỵ. Tại sao lại có người có được thứ mà chúng chưa hề có. Nỗi tức giận, sự ghen tỵ khiến chúng như sôi lên. Khi còn sống cả hai chị em chúng đã không nhận được tình yêu thương. Đến khi chết chúng cũng bị bỏ mặc. Ngay cả đám âm binh, dù không đánh đập, xua đuổi nhưng nhiều lúc cũng xem chúng như không tồn tại. Thi thoảng, thấy chị em chúng đói quá đám đó cũng vứt cho chút đỉnh. Nhưng chút ít ỏi đó làm sao bù đắp nổi hai cái bụng luôn bị cơn đói kêu gào. Túng thì phải tính. Chúng đã muốn rủ con bé đi cùng. Ngoài sự thương xót còn là tính toán. Con bé là cháu ngoại của ông thầy. Nếu nó mà chết, lại chết ngay trong chính ngôi nhà và khu vườn này thì ông thầy sẽ phải lập đàn cúng lễ. Ông có thể có lỗi với người sống khi làm ngơ để bà Ba hành hạ con bé. Nhưng ông không thể có lỗi với người chết bởi ông hiểu quá rõ về bọn chúng. Nếu làm cho bọn chúng giận, chúng có thể quấy phá và gây ra nhiều điều bất lợi. Chúng đã muốn ông thầy hối hận. Muốn ông phải cúng lễ tử tế cho cháu gái nếu chúng rủ được con bé đi cùng. Và nếu được như thế chúng sẽ được ăn, được dự lễ cúng – một nghi lễ mà gia đình chúng đã bỏ qua. Nhưng con bé đó dứt khoát không đi theo chúng. Nó quá khát khao được trở về với bố mẹ, với anh em, với làng quê của nó. Và nỗi tức giận càng dâng cao khi con bé được người thanh niên đó giúp. Không lôi được con bé theo thì chúng phải bắt cho bằng được người thanh niên ấy. Không biết là rủi hay may khi chúng bắt đầu lấy dần các vía và hành hạ người thanh niên ấy ốm quay ốm quắt thì ông thầy lại không có nhà. Gia đình nhà ấy đã mời những ông thầy khác để chữa trị, để cúng lễ. Chúng cũng được vài bữa no khi đứng chầu trực quanh mâm cúng ấy. Khi ông thầy trở về thì bệnh của người thanh niên đã quá nặng. Nếu ông xin chúng thì người thanh niên đó có thể không chết nhưng có sống thì cũng chả ra hồn người khi bảy vía thì đã bị chúng bắt đi năm đến sáu phần. Có lẽ nhìn thấy trước việc đó nên ông thầy đã buông tay. Anh ta chết. Chúng được no thêm vài bữa. Nhưng ông thầy đã phong ấn chúng. Chúng không thể đi đâu được nữa ngoài khu vườn. Mà khu vườn thì chỉ có ông thầy, bà Ba và con bé cháu. Ông thầy thì chúng không dám đụng và cũng không thể đụng tới. Bà Ba thì luôn có bùa bảo trợ. Con bé thì cao vía. Vậy là chúng cứ bị giam lỏng khi không thể đi nhưng ở lại cũng đói vàng đói vật. Ông thầy không xua đuổi chúng lúc mới đến nhưng cũng không thu nhận chúng. Có lẽ ông thấy chúng còn nhỏ, chúng không được việc. Cả hai chị em chúng cứ bị mắc kẹt cả khi sống cũng như khi đã chết. Ở đâu cũng không có ai quan tâm, không ai yêu thương, không ai cần đến chúng. Chúng đã khốn khổ ngay cả khi sống lẫn khi chết. Vậy mà con bé gái đi cùng bà lão ấy lại rạng rỡ đến thế. Đó là điều chúng không muốn, là điều chúng không thể chấp nhận.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG IV: OÁN HẬN CHỒNG CHẤT

    CHƯƠNG IV: OÁN HẬN CHỒNG CHẤT

    Bà trở mình rồi thức dậy giữa đêm. Ngọn đèn trên bàn của phòng khách sạn vẫn bật để bà có thể đi lại khi bất chợt tỉnh giấc. Ở giường bên cô cháu nội đã say giấc nhưng bà thì không tài nào ngủ tiếp được. Cuộc viếng thăm chớp nhoáng với ngôi nhà xưa khiến bà cả ngày chỉ nghĩ về nó. Khi nghe cô cháu gái hỏi những con ma còn sống ở đó không bà đã sợ đến mức vội vã kéo cô cháu gái rời đi. Nỗi sợ đã khiến bà không kịp vào trong nhà, xuống gian bếp hay ra ngoài cái ao nhỏ. Khi chưa đến đó bà đã hình dung mình sẽ đi thăm lại một lượt tất cả. Thăm căn buồng của ông ngoại với bà Ba. Thăm gian thờ có bộ bàn ghế để ông khám bệnh, tiếp khách. Chiếc phản gỗ nhẵn bóng với nhiều lượt bệnh nhân nằm trên đó và một số đã mất. Cả gian bếp nhỏ mà bao lần bà bị bà Ba bắt ngủ dưới đó. Sắp sẵn kế hoạch là thế nhưng chỉ một câu hỏi, một nỗi sợ đã khiến nó bị phá hỏng. Bà đã mất công về đến tận đây. Đã muốn nhìn lại nơi chốn mà bà đã từng sống ở đó 3 năm. Bà vẫn mơ hồ nghĩ cái chết đột ngột của ông ngoại dường như có liên quan đến khu vườn, đến những âm hồn vất vưởng nơi đó. Thậm chí, vài lần bà còn nghĩ cái chết của ông ngoại có liên quan đến đám âm binh mà ông vẫn nuôi giấu. Bởi đôi lần mơ hồ bà đã nghe được họ trách ông khao quân quá kẹt khi bà còn sống ở đó. Tất cả đã bị nỗi sợ kéo tuột mất khiến bà không kịp đứng lâu trong khu vườn, không kịp vào tận phía trong ngôi nhà. Có lẽ bà sẽ ghé thăm các cậu, các dì con của bà Ba. Biết đâu bà sẽ nghe được nhiều câu chuyện về ông ngoại và về bà Ba từ phía họ. Khi bà còn ở đó bà Ba vẫn chưa có con. Nghe nói sau này bà sinh cho ông ba người con, hai trai, một gái nhưng cả 3 người con đều không yêu quý bà. Thậm chí cuối đời bà còn dở điên dở dại mấy lần đâm đầu xuống cái ao nhỏ. May mà lần nào cũng có người bắt gặp và kéo lên. Nếu muốn trở lại đó lần nữa, có lẽ bà sẽ phải nhờ đến họ dẫn bà trở lại. Bao năm không muốn gặp, giờ bà nhờ vả không biết họ có muốn giúp bà hay không? Nhưng tại sao bà lại muốn về lại nơi đó? Câu hỏi đó các con bà đã hỏi và giờ đây bà cũng đang tự hỏi chính mình. Có một thứ gì đó, một nỗi ám ảnh, một sự thôi thúc mà bà muốn làm trước khi chào từ biệt cõi đời này. Nó là thứ gì? Bà cũng không rõ. Bao năm qua bà luôn nghĩ về nó, luôn muốn trở lại nhưng rồi lại tự xua đi, lại không dám trở về.

    Tiếng xe lao nhanh trong đêm vắng với tiếng còi xe đường dài làm bà tỉnh táo hẳn. Căn phòng khách sạn sang trọng khi đám con muốn bà được thoải mái nhất khi đi xa. Bà cắm ấm nước đun nóng để pha trà. Bà cần thật tỉnh táo. Bà phải sắp xếp mọi thứ để chắc chắn không bỏ lỡ điều gì khi rời khỏi nơi đây. 80 năm mới trở lại nhưng có lẽ sẽ là lần trở lại duy nhất. Năm nay bà đã 90 tuổi. Sức khoẻ và thời gian của bà đã không còn nhiều. Những việc bà muốn làm. Những điều bà muốn biết phải được thực hiện hết trong chuyến đi này. 

    Tiếng nước sôi réo làm bà sực tỉnh. Bà lấy ít chè cho vào ấm, tráng qua rồi rót vào nửa ấm nước để ngâm chè. Tráng xong lượt chén bà thêm nước sôi vào ấm rồi rót ra một chiếc chén nhỏ. Uống ngụm trà nóng bà buộc mình phải tỉnh táo để sắp xếp lại mọi chuyện.

    Ngày anh Thường mất, bà không biết tâm trạng mình thế nào? Tiếng gào khóc của người mẹ mất con. Nỗi đau nín lặng của người cha rồi những lời bàn tán của hàng xóm làm đầu óc bà rối bời. Bà cứ lững thững đi trong đám tang nhưng đầu óc không nghĩ được gì. Chỉ có ông ngoại là cứ nhìn bà với ánh mắt rất lạ. Trên đường đưa anh ra đồng bà cứ tự hỏi nếu hôm đó bà không nghe thấy tiếng anh hát, không gọi nhờ anh giúp thì sẽ ra sao? Liệu anh có chết trẻ hay đang đóng quân tại một nơi nào đó. Khi ấy, bà và làng xóm đều biết anh rất muốn được đi bộ đội. Anh đã tập hát nhiều bài hát về cách mạng. Nhưng anh không thực hiện được giấc mơ đi bộ đội nữa rồi. Những con ma đó, có phải chúng đã bắt anh đi? Có phải cái chết của anh là do đã cứu bà? Nỗi ân hận, sự thương xót và cảm giác uất hận đã khiến bà làm một việc mà đến tận bây giờ bà vẫn nhớ. Sau đám tang anh Thường, trong một bữa cơm bà đã nghẹn giọng hỏi ông ngoại:

    – Ông ơi, có phải mấy con ma trong nhà mình đã hại chết anh Thường hay không?

    Ông ngoại sững sờ buông bát cơm xuống còn bà Ba thì mắt long lên sòng sọc. Bà Ba dí tay vào trán bà. Tiếng bà rít qua kẽ răng:

    – Đồ chết toi, ai cho mi nói thế? Mi nói như thế thì làng xóm sẽ ăn tươi nuốt sống ông mi có biết không? Ông ngoại nuôi mi để mi hại ông thế hả? Hai con ma ranh đó tau đã bảo ông ngoại mi đuổi đi nhưng ông cứ thương chúng. 

    Ông ngoại thở dài:

    – Bà cũng đừng đổ lỗi cho nó. Là thằng Thường phận mỏng thôi. 

    Bà Ba vẫn rít lên:

    – Là nó gọi. Là nó nhờ giúp đỡ. Nếu cậu Thường không cứu nó thì sao phải chết. Sao nó không đi luôn với mấy con ma đó đi.

    Bà chỉ biết khóc nhưng vẫn cố hỏi cho rõ:

    – Ông ơi, có phải là tại cháu không ông? Tại cháu mà anh Thường mới chết. Có phải vậy không ông?

    Ông ngoại thở dài:

    – Không tại ai hết. Là cái số mỗi người nó thế.

    Không biết là do ân hận, do bị bà Ba mắng hay mong muốn được biết sự thật khiến bà bỏ qua nỗi sợ để nhìn thẳng vào ông ngoại. Tiếng bà nhỏ nhưng rành rọt:

    – Tại sao ông lại nuôi lũ ma đó? Mọi người nói ông vừa cứu người lại vừa hại người. Họ nói có đúng không ông?

    Bà Ba giơ chiếc đũa cả định vụt vào đầu bà. Giọng bà rít lên nhưng ông ngoại đã ngăn bà Ba lại. Ông trầm giọng:

    – Cũng là vì miếng cơm manh áo của gia đình cả thôi. Ông cũng đâu có muốn thế. Nhưng ông không ngờ hai chị em nó còn nhỏ mà oán hận lại lớn thế.

    Lời ông ngoại khiến bà thêm mạnh dạn. Bà nói khẽ:

    – Chúng bảo với cháu là sống không ai thương, chết không được cúng lễ tử tế. 

    Bà Ba cười khẩy:

    – Là bố mẹ chúng tiếc tiền nên để quá nặng mới mang chúng đi chữa. Rồi khi chúng mất lại không muốn làm ma cho tử tế.

    Giọng ông ngoại trầm xuống:

    – Nào ai nghĩ chúng còn bé mà oán hận lại lớn thế chứ? Cứ nghĩ để chúng kiếm ít đồ ăn thừa cho đỡ tội đâu ngờ chúng lại gây chuyện.

    Bà Ba lại rít lên:

    – Tôi đã bảo ông đuổi rồi mà ông không nghe. Giờ thì hay rồi. Mang danh làm thầy mà không cứu nổi con người ta. Giờ thì họ lại tha hồ nghi kỵ, to nhỏ.

    Giọng ông ngoại buồn hẳn:

    – Bà cứ kệ người ta đi! Miệng người ta thì người ta nói. Cứ để từ từ rồi tôi tính.

    Bà Ba nguýt ông một cái thật dài:

    – Tính gì nữa. Ông sai đám âm binh tống cổ hai chị em nó đi. Bé tý đã chả giúp được việc gì lại còn gây chuyện.

    Ông ngoại đứng lên khỏi mâm, giọng lạc đi:

    – Giờ chúng thành quỷ, thành quái rồi, có đuổi đi cũng khó!

    Tiếng cô cháu gái nói mê rồi hét toáng lên làm bà giật mình. Chẳng biết nó mê thấy gì mà hét to đến thế. Bà lại gần giường kéo chăn lên đắp kín người cho cháu. Nhìn nó ngủ ngon bà chợt thấy yên lòng.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG III: THẾ MẠNG

    CHƯƠNG III: THẾ MẠNG

    Những ngày bị bán làm con nuôi bên đạo xem ra sung sướng hơn khi ở với bà Ba. Bà nghe loáng thoáng đâu như bà Ba phải lòng ông thầy bên này nên mới bán bà cho ông ý. Ông Sĩ là người không có vợ con. Ông không phải thầy tu nhưng hay ra vào làm các việc cho nhà thờ. Ngoài ra, ông còn dạy chữ, dạy hát nên cũng được nhiều người gọi là thầy. Ông Sĩ mua bà về là để đem cho vợ chồng người anh. Vợ chồng người anh lấy nhau đã lâu nhưng chưa có con. Anh ông Sĩ là thầy giáo dạy học trên tỉnh nên thỉnh thoảng mới về nhà. Vợ ông còn trẻ lại chưa có con nên ngoài làm ruộng còn buôn bán trầu cau ở chợ. Khác với ông ngoại, gia đình bên mẹ nuôi theo đạo. Vào các chủ nhật, bà vẫn được theo mẹ nuôi đi lễ nhà thờ. Mẹ nuôi bà hiền lắm. Cả ngày có khi chỉ nói có vài câu. Lấy chồng đã lâu nhưng chồng lại đi suốt nên mẹ nuôi ở cùng bố mẹ và cậu em chồng. Ông bà và bố mẹ nuôi chưa bao giờ trách mắng hay đánh đập bà. Nhưng ông Sĩ thì tính nóng. Mỗi lần kèm học chữ mà bà lâu thuộc là ông dùng cái thước quật thẳng lên tay. Mẹ nuôi xót lắm nhưng không dám can ngăn. Dù bị đánh đau nhưng bà không thấy giận bởi hầu hết là do bà chậm thuộc mặt chữ nên mới bị đòn. Nói đi nói lại cũng phải cảm ơn thầy Sĩ. Nhờ có ông thầy mà bà mới biết chữ nên dù bị đánh bà cũng cam lòng. Mấy lần thấy bà khóc vì bị đánh đau, mẹ nuôi len lén bôi dầu cho bà. Vừa bôi, mẹ nuôi vừa rủ rỉ:

    – Con phải ráng học chữ cho mau thuộc thì sẽ ít bị đánh đòn. 

    Mấy câu nói của mẹ nuôi khiến bà khóc to hơn. Lần đầu tiên kể từ khi xách tay nải quần áo đi theo ông ngoại bà mới khóc to như vậy. Bao nhiêu tủi hờn, bao nhiêu đau đớn cũng không khiến bà thấy tủi thân như lúc này. Đã lâu lắm mới có người thật lòng lo lắng cho bà. Nghe tiếng bà khóc nghẹn, mẹ nuôi cũng trào nước mắt nên càng ôm bà chặt hơn. Cuối tuần ấy khi bố nuôi về nhà, mẹ nuôi của bà đã nhờ ông nói đỡ để thầy Sĩ bớt khắt khe hơn. Nghe vợ nói, bố nuôi của bà chỉ thở dài và nói:

    – Tính thầy ấy nóng. Khó ăn lời lắm!

    Nói rồi bố nuôi bảo bà mang sách vở ra cho ông xem rồi có chỗ nào không hiểu thì hỏi để ông chỉ cho. Có lẽ ông muốn kèm thêm để bà nhanh thuộc mặt chữ, ít phải nhận đòn roi khi học cùng ông Sĩ. Chỉ bấy nhiêu thôi mà bà biết ơn bố mẹ nuôi nhiều lắm. Họ không có con nên nuôi bà làm phúc. Họ nghe người ta mách nuôi một đứa con nuôi thì sẽ dễ có thai hơn. Không biết có đúng vậy không nhưng quả thực là bà chỉ ở đó vài tháng là mẹ nuôi có bầu. Mẹ nuôi vui lắm. Bà hay mang bà đi chợ cùng, chỉ cho bà cách bán hàng và dặn:

    – Mấy tháng nữa mẹ nằm ổ trông em thì con đi bán hàng giúp mẹ. 

    Bà thấy rất hứng thú khi được mẹ nuôi chỉ dạy cách xé cau, cách tước chùm quả sao cho đẹp. Cách ấp miếng vải ẩm lên lớp lá trầu để giữ chúng tươi lâu hơn. Mẹ nuôi còn dạy bà cách têm trầu, quệt vôi khi có người muốn ăn lẻ. Với cây vỏ bà còn dặn kỹ:

    – Con còn nhỏ nên khi cắt vỏ thì nhờ mấy O lớn hay mấy bà cắt giùm cho. Tiền bán hàng con nhớ cất giữ trong ruột tượng rồi buộc ngang bụng. Chỉ vài tháng thôi, em nhơn nhớn là mẹ lại đi chợ được rồi. 

    Bà vui sướng nghe như nuốt lấy từng lời của mẹ nuôi. Được đi chợ khiến bà thấy vui lắm. Ra chợ có đông người. Ai cũng tươi cười, nói chuyện rôm rả. Không khí ở chợ khiến bà thấy vui, lại bớt nỗi nhớ nhà. 

    Nhưng rồi bà đã không có cơ hội được đi chợ một mình. Ông ngoại khi đi chữa bệnh ở xa về thấy bà Ba bán mất cháu đã cuống lên đi tìm. Không dám trách mắng vợ nên ông cứ âm thầm dò hỏi rồi biết được nơi bà bị bán. Ông ngoại đã tìm đến tận nơi và mang tiền chuộc bà về. Trong trận cãi nhau của ông với bà Ba, bà nghe thấy ông ngoại lầm bầm:

    – Bà làm thế là giết tôi đấy. Bố mẹ nó chỉ gửi con cho mình mấy năm thôi. Khi chúng nó vào đón biết con bị bán thì tôi phải ăn nói ra sao với gia đình ngoài đó. 

    Bà Ba bị mắng thì tức lắm nhưng cũng không nói được gì. Sau lần ấy bà Ba lại càng hay đánh chửi bà nhiều hơn. Ông ngoại có biết cũng chỉ nén thở dài. Ông lại càng hay ra ngoài lúc đi cúng, khi thì chữa bệnh. Ngôi nhà và khu vườn lại chỉ còn bà Ba và cô cháu ngoại của bà Hai. Những trận chửi mắng, những đòn roi lại liên tiếp rơi xuống. 

    Trong những tháng ngày u ám ấy, dù ăn đòn liên tiếp nhưng bà không còn tâm sức đâu để đau khổ. Những bóng người thấp thoáng trong vườn, nơi bậu cửa hay khu bếp lúc sáng sớm khi sẩm tối cứ ngày một nhiều. Đa phần là những bóng lưng nam giới. Nhưng một vài lần bà cũng thấy cả những bóng đàn bà. Lạ là chỉ nhìn thấy người mà hiếm khi nào thấy mặt. Ngay cả giấc ngủ ngắn ban trưa cũng thường xuyên gặp họ. Nhiều lúc bà cứ cảm giác ngôi nhà và khu vườn này đang có cả người sống lẫn người mất cùng trú ngụ. Họ sống trong thế giới của họ. Bà và bà Ba sống cuộc sống của mình. Nhưng phải có mội mối liên hệ nào đó mới khiến bà hay gặp và nhìn thấy họ như vậy. Có thời gian bà như không phân biệt nổi đâu là thực đâu là mơ cho đến một ngày. Cả xóm nhỏ nhộn nhạo với tin tức anh Thường bị ma ám. Người con trai khoẻ mạnh ngày nào giờ đang teo tóp dần mà không tìm ra bệnh. Cha mẹ, họ hàng đã võng anh đi khắp các thầy lang nhưng ai cũng lắc đầu không biết anh bị bệnh gì. Khuôn mặt anh gầy rộc, đôi mắt đầy hoảng hốt. Nhiều khi anh nhìn bâng quơ ra cửa rồi lẩm bẩm như đang nói, đang cười với ai đó. Lúc nghe tin bà cũng có sang thăm. Mới mấy tháng không gặp mà bà đã không còn nhận ra. Người thanh niên cao lớn ngày nào giờ gầy tọp, gương mặt ngơ ngác, đôi mắt thất thần. Anh không còn nhận ra bà. Cô bé hàng xóm vẫn thi thoảng được anh đỡ đần khi gánh hộ gánh nước hay lúc dắt trâu. Lần ấy, khi ông ngoại về, người nhà anh sang khẩn khoản:

    – Xin thầy giúp cho. Các nơi đều nói thằng bé bị ma ám. Giờ chỉ có thầy phù thuỷ cao tay là cứu được mạng thôi. 

    Ông ngoại liền xách túi đi ngay. Lát sau thì thấy ông về người trĩu xuống. Bước chân ông như có đá đeo cứ chầm chậm, nặng nề. Ông khó nhọc bước vào nhà, gieo mình nằm xuống phản. Bà Ba hốt hoảng:

    – Nặng lắm hả ông? Có cách gì không? Tội nghiệp cậu ấy quá!

    Ông thở dài, không nói gì rồi xoay người vào trong nằm im cho đến tận bữa tối khi bà Ba vào mời ông mới nhấc người dậy. Bữa tối ấy, ông ngoại ăn rất ít. Thỉnh thoảng ông lại liếc nhìn bà. Thái độ của ông khiến bà Ba sinh nghi. Bà hỏi nhỏ:

    – Có chuyện gì thế ông? Liên quan gì đến con bé này à?

    Ông ngoại thở dài:

    – Bà có nhớ chuyện hai chị em con bé đã mất ở nhà mình khoảng nửa năm trước không?

    Bà Ba ngẫm nghĩ một lát rồi à lên:

    – Tôi nhớ rồi. Hai chị em nó được người nhà võng đến đây khi đang sốt cao. Đêm đó cả hai đứa nó đều mất.

    Ngẫm nghĩ một lúc bà Ba tiếp tục:

    – Mà tôi nhớ gia đình nhà đó tiếc tiền nên không mời ông cúng cho hai chị em con bé. Thế chúng làm sao?

    Ông ngoại thủng thẳng:

    – Chúng không siêu thoát và biến thành ma đói ma khát. Chúng muốn rủ người đi cùng cho có bạn nhưng con bé vía cao nên chúng không bắt được. Chúng nó thù nên quay sang bắt người đã giúp con bé.

    Đôi đũa trong tay bà rơi xuống. Bà nhớ đến hôm hai chị em con ma rủ bà đi theo chúng. Bà đã không đi theo và gọi anh Thường lúc ấy đang tập hát đến giúp. Chẳng lẽ anh ấy vì giúp bà mà bị hai chị em con ma đó hại. Nhưng anh ấy là người lớn sao lại sợ hai con ma bé đó. Bà còn bé hơn anh ấy nhiều sao chúng nó lại không làm gì được? Bà nhìn chăm chăm vào ông ngoại rồi dè dặt:

    – Ông ơi, anh Thường là người lớn mà sao lại sợ hai con ma bé đó?

    Bà Ba nổi cáu:

    – Mi trẻ ranh biết gì mà nói. Quan trọng là cái vía chứ đâu cứ người lớn hay người nhỏ.

    Rồi quay sang ông, bà lên giọng:

    – Mà tôi đã nói với ông rồi. Tụi ma bé là hay quấy nhiễu lắm. Nếu ông kiên quyết thì tụi nó đã chả thể nào ở lại đây được. Giờ nếu ông không cứu được cậu ấy thì danh tiếng của ông ở vùng này còn ai tin chứ. Ông mau bắt bọn chúng tha cho cậu ấy đi. 

    Ông ngoại lắc đầu:

    – Muộn rồi. Giá tôi biết sớm thì còn có thể. Chứ giờ bảy vía của cậu ấy đã mất đi năm đến sáu phần rồi. Giờ chỉ còn chờ ngày, chờ giờ để đi thôi. 

    Bà Ba khó chịu rồi bỗng quay sang bà mắt quắc lên:

    – Bắt ai không bắt lại bắt người ngay bên cạnh nhà thầy. Sao nó không bắt quách con ranh ni đi cho rảnh. 

    Ông ngoại nhìn bà ánh mắt lạ hẳn đi. Bà bỗng chột dạ. Lẽ nào ông cũng biết chuyện chị em con ma đó rủ rê bà đi theo chúng. Nhưng bà có kể chuyện đó với ai đâu. Lẽ nào chúng không rủ được bà đi cùng nên quay sang bắt anh Thường, người đã đến giúp bà. Nhưng giờ anh ấy không xong rồi. Ông nói có năm đến sáu vía của anh đã bị mất. Anh chỉ còn đợi ngày đợi giờ để đi thôi. Lẽ nào là bà đã hại anh ấy? Mảnh đất này, ngôi nhà này đang chứa thứ quái quỷ gì thế? Những ngày sắp tới sẽ thế nào? Liệu sau khi bắt xong anh ấy chúng có quay lại tìm bắt bà tiếp không? Tại sao bố mẹ mãi không tới đón bà về?

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG II: SỐNG CÙNG NGƯỜI ÂM

    CHƯƠNG II: SỐNG CÙNG NGƯỜI ÂM

    Bà ngồi xuống chiếc ghế và mệt mỏi xoa nắn đôi chân hơi đau khi phải đi lại quá nhiều. Cũng không biết cơn cớ gì khiến bà kiên quyết trở lại ngôi nhà xưa cùng với đứa cháu gái. Có lẽ bà chỉ muốn được một lần nhìn lại nơi ấy. Cái nơi bà đã phải sống 3 năm trong cô độc, sợ hãi. Nhưng tại sao bà lại muốn trở lại đó khi biết chắc đã không còn ai? Năm ông ngoại mất bà đang mang bầu đứa con thứ hai. Cả nhà muốn bà về chịu tang nhưng bà nhất quyết không đi. Lấy lý do ốm nghén, bà chỉ gửi về chút lễ. Đến khi bà Ba mất bà cũng không về. Lần đấy, không một ai ép khi biết rõ bà đã phải chịu đựng những gì khi sống cùng bà Ba. Cả ông ngoại, bà Ba đều đã không còn. Nhưng bà vẫn muốn trở lại nơi đó sau từng ấy năm. Có lẽ bà đã linh cảm rằng quỹ thời gian của mình không còn nhiều. Và bà muốn về lại nơi đó. Về một lần thôi!

    Bà vẫn nhớ rõ ông ngoại rất ít khi ở nhà nhưng chưa bao giờ trách mắng hay đánh đập cháu. Dường như ông quá bận! Bận với việc cứu chữa cho bệnh nhân. Bận với việc lập các đàn cúng lễ. Ông còn bận ở trong cái buồng đóng kín một mình và cấm tiệt vợ hay cháu gái được bén mảng tới. Những việc trong nhà ông giao phó hết cho bà Ba. Những ngày ở nhà, tuy có nhìn ra đứa cháu gày gò, quần áo phong phanh nhưng ông cũng chỉ khẽ nhíu mày chứ không hỏi rõ. Thi thoảng thấy cháu rách quá, ông lại lén may cho một, hai bộ quần áo mới dù bị bà Ba mát mẻ hay đá thúng, đụng nia. Những ngày ông ở nhà là những ngày bà được bà Ba cho ăn cơm cùng. Thi thoảng, bà cũng được bà Ba vứt cho nắm xôi hay miếng thịt trong túi đồ lễ ông mang về. Nhưng những ngày ấy không nhiều. Ông cứ đi suốt để mặc bà Ba và cô cháu gái ở nhà.

    Bà cũng nhớ là bà Ba đã bán gần hết số quần áo mà bà mang theo. Có đợt bà chỉ còn độc một bộ quần áo. Khi đi chăn trâu, gặp lúc vắng người bà vẫn tranh thủ cởi ra để giặt rồi phơi lên mấy cây dại gần đó. Đến khi ông về, nhìn cháu mỗi manh quần, tấm áo lại len lén cắt thêm cho một đến hai bộ. Có năm trời rét lắm nhưng bà vẫn chỉ mặc độc chiếc quần ngắn cũn và cái áo cộc tay khi đi chăn trâu. Ra đến đồng, bà phải vơ rơm lại để quấn quanh người cho ấm. Cũng đã mấy lần bà suýt chết khi cho trâu bơi qua sông đến doi đất cao để ăn cỏ. Sông thì sâu, người thì nhỏ. Mấy lần lúc trâu bơi bà đã bị tụt từ lưng trâu xuống đến cổ rồi mắc lại nơi sừng trâu. Hai cánh tay mỏi nhừ khi phải bám chắc đôi sừng để con trâu bơi sang doi đất cao, nơi có mấy đám cỏ non. Mấy lần đó, bà cứ thầm cảm ơn bà cô đã chết trẻ. Tuy phải xa nhà từ sớm nhưng trước đó, đám tang của bà cô vẫn in đậm trong trí nhớ của bà. Cô Ngã ra đi khi còn trẻ lắm, mới khoảng 16, 17 tuổi. Căn bệnh hen quái ác khiến cô không thể thở nổi. Khi còn sống, dù quanh năm ốm bệnh nhưng cứ hễ khoẻ lên là cô lại gọi con bé cháu là bà vào chơi cùng. Có cái gì ngon cô cũng bảo để dành phần cho.Vì được yêu thương nên sự ra đi của cô khiến bà cứ ngơ ngẩn, ra vào buồn nhớ mãi. Khi bị bố mẹ gửi đi theo ông ngoại, nhiều lúc cô đơn bà vẫn thầm gọi tên cô như muốn nương nhờ vào một sự bảo vệ vô hình. Lúc bám lấy sừng trâu, run rẩy giữa làn nước, bà đã thầm khấn tên cô mong cô giúp mình qua cơn nguy khốn. Câu chuyện đó bà cũng đã nhiều lần kể lại với chồng, với con và sau này là các cháu. Chúng nó không hình dung nổi một cô bé mới hơn 7 tuổi là bà đã bám vào sừng trâu ra sao khi con trâu bơi qua quãng sông rộng. Nhưng câu chuyện làm chúng hứng thú nhất vẫn là chuyện về những hồn ma hay chuyện hai chị em con ma nhỏ đã nhiều lần rủ bà đi theo chúng.

    Bà vẫn nhớ như in cái ngày hai chị em ấy được người nhà khiêng trong hai chiếc võng nhỏ đến gặp ông. Cô chị chừng hơn mười tuổi. Cô em chắc ở quãng tuổi của bà khi ấy, tầm 7 đến 8 tuổi. Cả hai mặt đỏ bừng, người nóng như hòn than. Những người nhà đi theo nói cả hai chị em đã sốt tầm 3 đến 4 hôm. Hai hôm nay, hai chị em không ăn được gì trừ chút cháo loãng. Không hiểu họ mắc bệnh gì nhưng bà thấy ông ngoại chỉ thở dài khi bắt mạch cho họ. Cả đám người nhà cứ nhìn chằm chằm vào ông ngoại, chăm chú dõi theo từng diễn biến trên gương mặt ông. Khi ông ngoại lắc đầu, đám đàn bà, phụ nữ đi theo khóc oà. Một người đàn ông lén đưa tay quệt nước mắt. Một người đàn bà cầu xin:

    – Xin thầy cố giúp, còn nước thì còn tát!

    Ông ngoại sai bà Ba đi lấy thuốc. Ông nghiền chút bột nhỏ, hòa với nước ấm và bảo người nhà cố đổ vào miệng cho hai cô bé. Miệng hai cô lúc này đã mím chặt. Những người đi cùng kẻ bóp miệng, người đổ thuốc vào miệng của hai cô. Nhưng thuốc đổ vào đến đâu lại trào ra đến đó. Những người đàn bà càng khóc lớn. 

    Ông ngoại lắc đầu:

    – Đưa đến muộn quá, hết cách rồi. Mọi người võng hai đứa nó về đi!

    Một người đàn bà vội quỳ sụp xuống:

    – Thầy làm ơn cho hai chị em chúng nó ở lại đây. Biết đâu nhờ ơn đức của thầy chị em chúng lại qua được. Giờ mà võng về thì chỉ sợ chị em chúng nó chết ở trên đường.

    Ông ngoại có vẻ mềm lòng. Ông sai bà Ba đi nấu cháo để lấy ít nước loãng bón cho hai chị em. Những người nhà đi cùng cũng về bớt chỉ để hai người ở lại. Đêm hôm ấy, cả hai chị em cùng không qua khỏi. Họ đã mất ngay trên chiếc phản gỗ mà ông ngoại vẫn hay nằm. Người đàn bà khóc ngất. Tiếng khóc vang vọng trong đêm nghe cứ rờn rợn. Sáng ra, những người đã võng hai chị em đến hôm trước lại mang võng đến đưa hai chị em về. Chỉ khác là lần này trên mặt mỗi người phủ một chiếc khăn mùi xoa trắng. Hai cánh võng cũng được buộc lại để không ai nhìn thấy người nằm bên trong. Vì mất ở ngoài nên nghe nói cả hai chị em không được mang về nhà làm lễ. Họ sẽ bị quàn ở ngoài điếm – một gian nhà bỏ không cuối làng – rồi sau đó đem chôn. Lúc cả nhóm rời đi, ông ngoại sai bà Ba đốt một nùi bồ kết và khua khắp mặt phản cũng như dưới gầm. Giọng ông ngoại nhỏ nhưng xung quanh yên tĩnh nên bà nghe khá rõ:

    – Thế là lại có thêm linh hồn ở lại với khu vườn.

    Tiếng bà Ba run run:

    – Ông phải đuổi chúng đi. Chúng còn nhỏ chả giúp được gì mà lại hay quấy quả, phá phách.

    Ông ngoại thở hắt ra:

    – Nghĩ cũng tội! Chả biết người nhà có biết làm lễ để giúp chúng được siêu thoát hay lại chỉ quấy quá cho xong khiến chúng biến thành ma đói, ma khát.

    Bà Ba bĩu môi:

    – Chúng biết ông là thầy mà sợ tốn tiền nên không nỡ mời. Cái đám ấy chắc cũng chỉ qua loa cho có lệ mà thôi.

    Giọng ông chùng xuống:

    – Chúng mất ở đây nên nếu không siêu thoát, không về được nhà thì sẽ lại quanh quẩn ở lại đây thôi. Cứ kệ chúng, trẻ con thì ở nơi nào cũng tội. Cùng lắm thì chúng nhặt cơm vãi, cơm thừa quanh đám âm binh cũng đỡ.

    Bà Ba hứ một tiếng rồi bỏ ra ngoài. Lúc ấy bà mới dám mon men lại gần ông ngoại. Ngập ngừng một lúc rồi bà cũng đánh bạo hỏi:

    – Ông ơi, nếu chị em họ không siêu thoát thì họ sẽ ở đây cùng với mình hả ông?

    Ông ngoại lơ đãng, lẩm bẩm như nói một mình:

    – Ừ, chị em nó đến thì ông cũng không nỡ đuổi chúng đi.

    Một cảm giác lạnh buốt lập tức xâm chiếm. Bà đứng đó nhìn chằm chằm vào chiếc phản nơi hai chị em vừa nằm đấy đêm qua. Suốt từ lúc được võng đến cho đến khi được võng về, cả hai chị em đều không mở mắt. Gương mặt lúc đỏ lúc trắng với cặp mắt nhắm nghiền. Bà bỗng như thấy cả hai vẫn còn nằm đó. Ý nghĩ đó làm bà rùng mình vội chạy vụt ra ngoài. 

    Những ngày sau đó ông ngoại lại đi suốt nên ở nhà chỉ còn lại hai bà cháu. Bà Ba lại đuổi không cho bà ăn cùng. Bà len lén luộc mấy dây khoai lang được chị hàng xóm dúi cho. Cả ngày đi chăn trâu với vài dây khoai luộc buộc vào mấy sợi rơm. Lúc trưa, bà cũng đã ăn bớt đi vài đoạn. Mấy đoạn tý teo này là để dành cho bữa tối. Sau vụ hai chị em mất trên chiếc phản gỗ cứ tối đến là bà lại thấy sợ. May mắn là bà Ba hay bắt bà ngủ ở dưới bếp nên bà cũng tránh được cảm giác sợ hãi mỗi khi đi ngang qua chiếc phản.Vài hôm không thấy gì lạ, bà dường như cũng bớt sợ khi cái đói, cái rét khiến bà phải bận tâm hơn. Nhưng mỗi lần ngang qua chiếc phản bà vẫn luôn lén nhìn dù nỗi sợ đã phần nào phai nhạt. Có lẽ hai chị em đã về được nhà mình. Nghĩ đến đó bà thấy vững tâm hẳn.

    Cho đến một hôm bà Ba có việc đi đám giỗ nên bảo bà buộc trâu và ở lại trông nhà. Bà Ba đi được chừng nửa buổi thì bà bỗng thấy mệt. Người cứ gai gai lại có cảm giác như hơi sốt. Sau khi ăn lếu láo vài quả sung bà leo lên chiếc phản để nằm. Cơn sốt kéo đến làm bà ngủ thiếp đi. Bỗng có tiếng chuột rúc ra, rúc rích phía trên làm bà tỉnh giấc. Bà khẽ mở mắt. Phía đầu phản ở trên cao, ông ngoại đóng mấy gióng tre. Trên đó, ông đặt tấm liếp đan và xếp khá nhiều sách thuốc, sách bói toán. Chắc mấy con chuột đói quá nên gặm đống sách cũ của ông. Giá mà bà khoẻ, bà sẽ ngồi dậy để đuổi lũ chuột đi. Nhưng cơn sốt làm bà mệt quá nên lại thiếp đi. 

    Bỗng có ba tiếng Bong…Bong… Bong… vang lên. Bà mở mắt. Từ trên giá sách hai chị em cô gái hôm trước nhảy xuống. Cánh tay bà đang khoanh trước ngực như bị ai giật bung ra, xoải dài giữa phản rồi cô chị nằm ngoài, cô em nằm trong cùng gối đầu lên một cánh tay của bà. 

    Cô chị rủ rỉ:

    – O – cách gọi của người ở đây với các cô gái – khổ quá. O theo chúng tôi đi!

    Cô em:

    – O giống chị em tôi, sống cũng chẳng ai thương, chẳng ai đoái hoài đến.

    Dù đang trong cơn sốt nhưng bà vẫn tỉnh táo. Bà nhận ra đây là hai chị em đã chết hôm nào trên chiếc phản gỗ. Vậy là họ đã không được làm lễ để siêu thoát. Họ chắc không về lại được nhà mình nên vẫn quanh quẩn ở đây, ngay tại khu vườn này. Nhưng tại sao hôm nay bà mới gặp họ. Chẳng phải họ đã mất được vài tuần rồi hay sao? Hay tại hôm nay bà đã nằm lên chiếc phản nơi mà họ đã nằm khi mất nên mới gặp họ. Nghĩ đến đó bà thấy bình tĩnh hơn một chút. 

    Bà nhỏ giọng:

    – Tôi không đi đâu! Tôi còn phải về ngoài Bắc với bố mẹ, với các em tôi.

    Con ma chị cất lời:

    – Nếu họ thương O sao họ không đưa O về. Họ có biết O rất khổ khi sống ở đây không?

    Bà run giọng:

    – Tại thầy nói số tôi sát cha, sát mẹ nên bố mẹ bắt tôi đi theo ông ngoại để ông giải ách cho.

    Con ma em cười nhẹ:

    – O tin vậy à? Mỗi người đều có một cái số. Số họ không chết thì dù O có cao số họ cũng chẳng sao. 

    Bà vẫn cố cãi:

    – Nếu không phải thế thì tại sao họ lại bắt tôi đi theo ông ngoại. Ông tôi là thầy phù thuỷ. Ông tôi biết cách giải trừ.

    Con ma chị:

    – Thế sao ông không diệt trừ được bà Ba để bà ấy hành O khổ thế?

    Bà luống cuống:

    – Tôi không biết. Bà Ba nói tại bà ngoại, mẹ và dì tôi đã hành bà trước đây nên giờ bà trả thù. 

    Con ma em:

    – Lũ người lớn đến là ác độc. Ai làm người đó chịu sao lại đổ hết mọi tội lỗi lên đầu O.

    Con ma chị:

    – O sống ở đây cũng khổ. O đi theo chúng tôi có khi đỡ khổ hơn.

    Bà giẫy giụa:

    – Không, tôi còn phải về! Bố mẹ đã nói tôi chỉ đi theo ông mấy năm thôi rồi tôi sẽ về.

    Con ma chị bỗng mở trừng mắt. Cả một tròng mắt trắng hếu, không có lòng đen làm bà hoảng sợ. Bà cố sức giẫy giụa nhưng không sao thoát ra được. Hai chị em con ma vẫn nằm gối đầu lên một cánh tay bà. Bà chợt nghe tiếng anh Thường nhà bên đang véo von: Nào anh em ta cùng nhau xông pha, lên đàng…

    Bà vội nhổm người gọi lớn:

    – Anh Thường ơi, anh Thường…

    Tiếng bà gọi thất thanh kéo anh Thường từ bên ngoài xộc vào. 

    Anh hỏi lớn:

    – O có chuyện gì thế?

    Bà lắp bắp:

    – Hai con ma. Hai chị em đã chết hôm nọ ở đây đang rủ em đi theo chúng. 

    Anh Thường ngạc nhiên:

    – Đâu, đâu… Chúng ở đâu?

    Bà cố nhổm người nhưng một cánh tay duỗi dài trên phản vẫn bị hai chị em con ma gối đầu lên khiến bà không thể nhấc người lên cao. Bà cố giơ cánh tay còn lại chỉ vào chúng:

    – Đây, đây… Con em nằm trong, con chị nằm ngoài. Cả hai đứa chúng nó đang rủ em đi.

    Anh Thường nhìn chăm chăm vào cánh tay nhưng vẻ mặt đầy ngạc nhiên. Anh thủng thẳng:

    – Anh có thấy con ma nào đâu. Chắc O mệt nên tưởng tượng ra đấy thôi.

    Nói rồi anh đưa tay sờ lên trán của bà. Giọng anh lớn hẳn:

    – Sốt cao thế này thảo nào lại mê sảng. Để anh bế sang nhà ăn tạm cái gì đấy. Bà Ba lại đi đám giỗ bỏ mặc O không ăn uống gì hả?

    Nói rồi anh cúi người bế bà lên khỏi chiếc phản. Một cánh tay bà vẫn bị hai chị em con ma gối lên khiến bà không thể nhấc tay. Anh Thường mắm môi cố hết sức để bế bà lên. Giọng anh ngạc nhiên:

    – O nhìn gầy mà cũng nặng gớm!

    Cuối cùng thì anh cũng bế được bà lên. Khi anh sắp bước qua ngưỡng cửa bà thấy hai chị em con ma vẫn nằm đó. Con ma chị với đôi mắt trắng dã vẫn nhìn theo hút bóng bà và anh Thường.

    Thoáng đó mà đã 80 năm. Những ngày sau đó thi thoảng bà vẫn gặp lại hai chị em con ma nhỏ. Lúc chúng đến trong giấc ngủ đêm. Khi thì chúng xuất hiện ngay giấc ngủ ban trưa. Thậm chí ngay cả khi bà không nằm ngủ trên chiếc phản đó chúng vẫn cứ mò đến. Chúng cứ rủ rỉ rủ bà đi cùng với chúng. Vài lần như thế khiến bà phát cáu nên doạ:

    – Các O không đi tôi sẽ mách với ông ngoại. Ông tôi sẽ đuổi các O đi không cho ở đây nữa.

    Không biết vì chúng sợ sẽ bị đuổi hay thấy bà không chịu đi cùng nên sau lần ấy không thấy chúng xuất hiện nữa. Nhưng cũng kể từ đó lúc ban ngày, khi sẩm tối thi thoảng bà lại nghe thấy những tiếng động lạ. Lúc thì nghe như tiếng múc nước ở cái giếng lên. Khi thì nghe ra như tiếng vấp ngã. Vài lần bà còn nghe tiếng huỳnh huỵch tựa như có đông người đang cùng đi, cùng chạy. Đặc biệt trong những ngày hiếm hoi ông có ở nhà những hiện tượng lạ xảy ra ngày một nhiều. Có hôm mới tang tảng sáng, bà chợt thức giấc bởi tiếng ồn ào tựa như cãi nhau. Bà mở mắt nhưng lại không thấy ai. Nhưng khi nhắm mắt lại tựa như nghe tiếng tranh cãi ồn ào, tiếng chân người chạy rầm rập. Bà cố lắng tai nghe. Hôm thì nghe ra mấy người trách nhau ra đồng quá chậm nên tát mãi mà không hết nước. Có hôm nghe như tiếng trách ông thầy ngủ quên khiến họ suýt bị lộ khi trời đã sáng mà vẫn chưa có lệnh thu quân. Lại có hôm bà nghe như họ than dạo nào ông khao quân kẹt quá. Tý đồ ăn không đủ cho cả đám làm mệt thâu đêm. Ban đầu bà tưởng mình mệt, mình ngủ mơ. Nhưng hiện tượng đó cứ lặp đi lặp lại khiến bà hoang mang. Có lần bà đánh bạo hỏi bà Ba:

    – Bà ơi, có ai ở cùng với mình ở đây không bà?

    Bà Ba quắc mắt:

    – Ranh con, ăn cho lắm, ngủ cho nhiều rồi suốt ngày mộng mị. Ngoài tau và mi ở đây làm gì có ai nữa mô? Từ mai, trâu về sớm thì mi ra vườn nhổ cỏ cho tau. Cứ làm nhiều vào là khỏi nghĩ linh tinh.

    Bà cứng họng. Biết không thể hỏi thêm gì từ bà Ba nên từ đó bà cũng không nói ra những thắc mắc của mình. Nhưng các sự lạ vẫn không ngừng xảy đến. Thi thoảng bà còn như thấy bóng một ai đó lướt nhanh ngang qua vườn, đi vào bếp hay bước qua bậu cửa. Cảm giác rờn rợn hay lạnh toát sau gáy cũng ngày một nhiều. Đôi khi bà cứ có cảm giác như ai đó đang đứng phía sau mình. Đôi lần bà cảm nhận như có ai lén nhìn mình khi đang cúi đầu thổi lửa hay khi đang nhổ đám cỏ dại trong vườn.

    Đã vài lần bà thấy hàng xóm hay đám trẻ chăn trâu có vẻ đang bàn tán gì đó về gia đình mình, về ông ngoại, về bà Ba. Nhưng cứ khi bà đi đến thì họ lại im lặng hoặc nói lảng sang chuyện khác. Có lần bà lén nghe được họ nói ông ngoại làm nghề phù thuỷ, nuôi giấu âm binh rồi lén sai chúng quấy nhiễu các nhà. Họ còn nói ông vừa làm nghề cứu người lại vừa hại người. Thuốc ông chữa đã giúp cho nhiều người khỏi bệnh. Nhiều nhà có người ốm hay có việc tang đều nhờ ông cúng lễ mà mọi việc suôn sẻ. Nhưng việc ông âm thầm nuôi dưỡng âm binh thì là việc xấu. Lũ ma đói ma khát ấy chỉ theo lệnh làm loạn chứ sao làm việc tốt cho được. Chính vì nuôi lũ yêu ấy mà mỗi khi có việc phải ở nhà ông lại sai bà Ba đi chợ mua đồ về khao cúng âm binh. Họ nói những đồ khao đó bị đám âm binh vầy cho nát bét không ai ăn được. Họ còn nói đã đôi lần thấy bà Ba lén lút đổ chúng xuống cái ao trong vườn hay vất vào một xó xỉnh bẩn thỉu nào đó. Bà cũng thấy nghi bởi cũng có lần thấy bà Ba mua khá nhiều đồ ăn về nhưng đến bữa thậm chí cả ngày sau đó cũng không thấy mấy món đó dọn lên. Vốn nhút nhát lại hay bị mắng, bị đánh nên dù có nghi hoặc bà cũng không dám hỏi. Đôi lúc bà nghĩ là bà Ba cất để ăn riêng nên cũng không để ý. Nhưng có thật đó là những đồ mua về để khao cúng âm binh? Và có đúng là những đồ đó sau khi bị ma vầy thì không ai ăn được nên phải đem đổ bỏ như mọi người bàn tán? Nỗi nghi hoặc trong lòng bà mỗi ngày một lớn cho đến một lần bà quyết phải tìm ra sự thật. 

    Lần ấy, ông ngoại ở nhà những mấy hôm. Sáng đó, bà thấy bà Ba cắp thúng đi chợ. Lúc bà Ba về chiếc thúng có vẻ nặng. Lừa lúc bà Ba không để ý bà lén đến lật giở cái rá úp hờ trên miệng thúng. Một miếng thịt lợn, một con cá to, một khoanh giò cùng ít bỏng ngô. Lại còn có cả mấy bộ quần áo giấy và mấy đồ trông lạ lắm. Đang định xem tiếp thì có tiếng chân đến khiến bà buông tay, cố xếp mọi thứ lại như cũ rồi lỉnh luôn ra ngoài. Đến chiều mới thấy bà Ba lôi những thứ trong thúng ra lúi húi làm trong bếp. Nhưng đến bữa ăn tối tịnh không có miếng thịt hay miếng cá nào được đưa ra mâm. Sớm ngày hôm sau, trong lúc bà còn đang say ngủ, một tiếng chiêng nhẹ vang lên khiến bà thức giấc. Cánh cửa buồng đóng chặt thỉnh thoảng lại hắt lên ánh lửa như thể có ai đó đang thắp, đang đốt thứ gì phía bên trong. Bà nằm im nghe ngóng. Thi thoảng lại rộ lên những tiếng lào thào. Lúc lại nghe như có tiếng tranh cãi rồi lại xoảng, xoảng, cộc, cộc như tiếng thanh la, tiếng mõ cùng gõ. Bà vẫn nằm im giả vờ như đang ngủ. Lát sau bà thấy bà Ba bước đến bên buồng. Ông ngoại đẩy cửa và bà Ba bê ra một chiếc mâm đầy. Chờ bà Ba đi được một đoạn bà mới lén trở dậy đi theo. Bà Ba bê cái mâm ra tít tận bờ ao rồi ném từng thứ một xuống. Trời hơi tối nên bà không nhìn rõ là những thứ gì. Có thứ ném xuống nghe một tiếng ùm chắc là vật nặng. Lại có thứ nghe đánh tõm chắc là đồ nhẹ. Bà Ba mỗi lần ném lại dừng lại lẩm bẩm vài câu gì đó. Bà đã cố căng tai lên mà vẫn không nghe rõ câu nào. Lát sau thấy bà Ba lúi húi quẹt diêm đốt mấy bộ quần áo và mấy thứ đồ giấy. Một mùi khó chịu như mùi ẩm mốc, mùi thối rữa xộc đến. Bà cố ngăn cơn lợm giọng, buồn nôn ập đến. Sợ mình cảm, bà len lén lần mò trở lại trong nhà. Trong bóng tối nhập nhoạng suýt nữa bà đã va phải một người. May khi sắp va phải thì bà nghe thấy tiếng rì rầm nên kịp ghìm chân. Ông ngoại đang đứng giữa sân. Người ông choàng một bộ áo rộng thùng thình. Một tay ông cầm thứ gì đó trông như cây gậy nhỏ. Miệng ông lẩm bẩm như bắt quyết và một tay ông vung cây gậy lên. Bà nín thở nhìn ông như đang múa một bài quyền võ gì đó. Ông cứ đứng đó với miệng lẩm bẩm và các động tác lạ cho đến khi bà Ba mang cái mâm trở về. 

    Bà Ba lầm bầm:

    – Hôm nay, tôi cứ có cảm giác có ai đó đi theo mình và đứng nhìn mọi thứ tôi làm.

    Ông ngoại nhẹ giọng:

    – Chắc lại lũ trẻ con bị tò mò đấy thôi. Bà vào ngủ tiếp đi!

    Bà cố nín thở cho đến khi ông ngoại và bà Ba đi khuất hẳn mới dám nhẹ nhàng về lại chỗ ngủ. Và từ đó cho đến khi trời sáng hẳn bà cũng không thể nào ngủ lại được nữa. Mấy tuần sau thì bà bị bà Ba bán đi cho một nhà không có con ở bên đạo khi ông ngoại đi chữa bệnh chưa về.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG I: KHU VƯỜN XƯA

    CHƯƠNG I: KHU VƯỜN XƯA

    Níu vào cánh tay cô cháu gái, bà bước từng bước thận trọng. Ngay từ rất sớm bà đã thức giấc và không thể nào ngủ tiếp được. Đầu óc bà cứ nghĩ mãi về lần đi này. Bà đã lần nữa, lần nữa hết lần này đến lần khác. Vèo cái mà đã qua tận 80 năm. Khi quyết định sẽ trở lại, bà đã nói ý định với các con. Chúng đã sắp xếp cho bà về thăm quê và cắt cử cô cháu gái đi cùng. Chuyến đi này mục đích là thăm lại ngôi nhà xưa. 

    Ngay từ chiều qua, lúc xe vừa đến khách sạn bà đã thấy hồi hộp. Một đêm ngủ không ngon. Sáng ra, xe đã đến đón hai bà cháu từ khá sớm. Mất gần một tiếng, cuối cùng thì bà và cô cháu gái đã sắp đến nơi cần đến. Xe chờ hai bà cháu ở đầu làng. Bà và cô cháu gái đi bộ vào. Ngôi nhà mà theo bà nhớ là nằm giữa đám cây cối rậm rạp. Sau mấy lần hỏi thăm, hai bà cháu đã đứng trước khu vườn. Men theo khoảng trống nhỏ giữa các lùm cây cả hai bà cháu tiến dần vào trong. Ngôi nhà ngày một gần lại trong tầm mắt.

    Cũng đã lâu lắm bà mới trở lại nơi này. Ký ức của hơn 80 năm trước dường như chưa bao giờ phai nhạt dù gần đây trí nhớ của bà đã sa sút. Trong những câu chuyện về thời thơ ấu, quãng thời gian 3 năm sống với ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại với chồng, với các con và giờ là các cháu của mình. Ba năm đó kéo dài từ khi bà mới 7 tuổi đến khi bà lên 10. Ba năm với không biết bao ngày phải chịu đói, chịu rét, bị đánh đập, hành hạ, bị bán đi bởi sự tai quái, những hận thù tích tụ từ người vợ ba của ông ngoại. Bà vẫn nhớ như in những trận đánh thừa sống thiếu chết với lời rít lên từ miệng của bà Ba: 

    – Con bà, con mẹ, con dì mày đã hành hạ bà. Giờ thì bà hành lại!

    Những ngày đó, cứ cách vài ngày trên người bà lại in hằn thêm những lằn roi mới. Nhớ những ngày vào đông, bà co ro tê tái trong cái rét cắt da cắt thịt khi trên người chỉ có một bộ quần áo cộc. Rồi những bữa bà bị bà Ba đuổi phải lủi thủi nấu ăn một mình khi ông không có nhà. Nhiều khoảng thời gian trong năm bà theo mọi người trong làng đi hái chè, mót lạc, mót lúa để tự lo cái ăn. Ông ngoại cứ vắng nhà suốt. Bà Ba lại ghét bỏ nên một đứa trẻ mới 7 tuổi như bà bị ném cho tự sinh, tự diệt. Nhưng tất cả nỗi cơ cực đó cũng không đáng sợ bằng việc phải đối mặt với những hồn ma lẩn khuất trong khu vườn ấy. Chúng cứ rủ rỉ rủ bà đi với chúng mỗi khi ông ngoại vắng nhà hay khi bà ốm phải nằm còng queo một mình trên chiếc phản gỗ. Ông ngoại bà làm nghề thầy cúng, thầy thuốc và thầy phù thuỷ. Cuộc đời ông xê dịch kiếm ăn tại nhiều nơi, nhiều tỉnh thành. Nó cũng là duyên cớ để ông có nhiều vợ, lắm con. Ngoài bà cả mất sớm vì bạo bệnh, ông còn có bà hai cùng năm người con. Bà Ba thì còn khá trẻ.

    Bà ngoại của bà là vợ hai và bà là cháu ngoại của ông. Chỉ vì lời thầy phán số khắc cha khắc mẹ mà bà bị bố mẹ đẩy cho ông ngoại nuôi. Họ hy vọng ông là thầy cao tay sẽ giải được ách nạn mà bà đang mang. Bảy tuổi, bà lếch thếch tay nải quần áo đi theo ông ngoại về quê, sống cùng bà Ba, người vợ trẻ của ông. Bảy tuổi, bà không biết mình đã bước vào địa ngục khi phải sống xa cha mẹ, quê quán và phải ở với bà trẻ – một người chất đầy hận thù vì những màn ghen tuông, chèn ép giữa các bà vợ. 

    Thoáng đó mà đã 80 năm kể từ ngày bà rời khỏi khu vườn. Bà đã lấy chồng, sinh con rồi có cháu nội, cháu ngoại. Trong những câu chuyện bất tận kể lại cho lũ cháu ký ức 3 năm ở cùng ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại nhiều lần. Có lẽ bởi 3 năm đó có quá nhiều bi kịch, những nỗi sợ đi theo bà suốt cả đời người. Đã nhiều lần, bố mẹ rồi họ hàng, các anh chị em nhắc bà về lại nơi cũ. Họ muốn bà hoà giải với bà Ba. Cũng muốn bà nhận các cậu, các dì do bà Ba sinh ra nhưng bà đều từ chối. Nỗi đau bị đánh đập, bị bán rồi những nỗi sợ mơ hồ khiến bà luôn có lý do để từ chối trở lại nơi này. Cho đến cả khi ông ngoại rồi bà Ba mất bà cũng biện nhiều lý do để không phải trở về. Lâu dần, họ hàng cũng không còn thúc giục khi biết bà không buông bỏ được quá khứ, không quên được 3 năm địa ngục khi sống ở đó. Vậy mà giờ đây, ở tuổi 90 khi trí nhớ bắt đầu lẫn lộn bà lại muốn một lần được trở lại nơi này. Bà còn chủ động dẫn theo cô cháu nội, đứa trẻ gần gũi với bà nhất để cùng trở lại khu vườn xưa. Bà chỉ cho cô cháu gái ngôi nhà đã cũ nát của ông ngoại. Một ngôi nhà 5 gian xập xệ nằm lọt thỏm giữa khu vườn rộng với mái ngói âm dương đã sạt xuống ở một góc chứng tỏ lâu rồi không có người qua lại. Phía ngoài tường, nấm mốc đã kéo lên quá nửa với những mảng rêu vừa xanh vừa xám xen lẫn những đám sần sùi sủi lên từ lớp vôi tường. Xung quanh ngôi nhà, đám cây dại mọc lung tung, phía xa là một hồ nước nhỏ. Giọng bà xa xăm: Cũng tám chục năm rồi, gần một thế kỷ chứ có ít đâu!

    Thấy bà đứng ngẩn ra trước ngôi nhà cũ, cô cháu gái ngây thơ hỏi: 

    – Bà ơi, thế mấy con ma bà kể liệu có còn sống ở đây không ạ?

    Một thoáng rùng mình chạy dọc khắp thân hình già nua. Trên gương mặt đầy nếp nhăn của bà thoáng một vẻ sợ hãi. Bà thì thầm: Bà cháu mình rời khỏi đây thôi! Bà thấy mệt rồi. 

    Bước chân hơi run do tuổi tác, do sợ hãi vẫn cố tỏ ra mạnh mẽ. Bà cố đi thật nhanh trong khi tay vẫn níu chặt lấy cánh tay đứa cháu gái. Cô cháu gái có vẻ như bị sự tò mò lấn át nên dù bị bà kéo đi vẫn nhớn nhác nhìn khắp khu vườn. Một khu vườn bị bỏ hoang với cây cối um tùm, không người chăm sóc. Bóng của hai bà cháu nhỏ dần ra phía ngoài. Cả hai không biết rằng ngay từ khi họ bước chân vào khu vườn đã có những ánh mắt thấp thoáng dõi theo họ. Và khi bà đứng lặng nhìn vào ngôi nhà cũ thì những ánh mắt dường như cũng dần nhận ra bà lão đã gần 90 kia chính là cô bé mà hơn 80 năm trước đã từng sống cùng ông ngoại tại nơi đây. Một con bé bị bứt khỏi gia đình, bố mẹ, anh em, quê quán để theo chân ông ngoại là một thầy thuốc, thầy cúng, thầy phù thuỷ về lại với quê xưa. Trong khi ông ngoại vắng nhà suốt vì đi cúng, đi bốc thuốc, chữa bệnh thì tại khu vườn này chỉ còn lại hai bà cháu. Bà Ba còn rất trẻ và cô cháu ngoại của bà vợ hai. Hai con người không cùng máu mủ nhưng có chung một mối liên hệ gắn bó với ông thầy. Bà Ba còn trẻ, lại hay phiền lòng khi phải sống vắng chồng. Bao khó chịu, bực dọc rồi những uất ức khi bị bà Hai cùng đám con hành hạ khi trước bà đem trút hết vào đứa cháu vô tội. Cứ nhìn nó là bà nhớ lại quãng thời gian bà mới theo ông. Ngày đó bà còn trẻ, lại có nhan sắc. Bà cũng vì ham ông tài, ông giỏi lại kiếm tiền tốt nên mới đi theo. Nhưng cái thói chung chồng khiến bà nếm đủ những đòn ghen khi trực diện, lúc giấu mặt từ bà Hai và đám con của bà. Cũng chính vì những mâu thuẫn liên miên giữa hai bà vợ mà ông quyết chuyển về đây. Bà Ba còn trẻ, lại chưa có con. Ông với bà về quê cũ vừa giúp bà Ba tránh xa đòn thù từ bà Hai lại khiến ông đỡ phải đau đầu khi cứ phải phân xử, phải đứng giữa hai bà vợ. Con bé là thành viên duy nhất của gia đình bà Hai. Vì nó mệnh cao, số sát cha sát mẹ nên con gái và con rể muốn ông mang theo để trừ tai ách. Công việc khiến ông cứ đi suốt. Lúc thì khám bệnh, lúc cúng bái, khi làm lễ cho các gia đình. Khu vườn rộng nên ông trồng nhiều loại cây thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh. Những lúc ông ở nhà, nhiều gia đình cũng hay mang người ốm đến để nhờ ông chữa trị. Một số người khỏi bệnh. Một số khác thì mất ngay tại nhà thầy. Ngoài chữa bệnh, ông còn học được nghề thầy cúng, thầy phù thuỷ. Ông biết, nhiều bệnh nhân mất tại nhà mình đã không muốn rời khỏi khu vườn. Một số đã gia nhập vào đội âm binh mà ông vẫn nuôi giấu. Một số thành những hồn ma vất vưởng.

    Là thầy cao tay, làm việc với cả phần dương lẫn cõi âm nên ông biết khu vườn nhìn bề ngoài chỉ có hai bà cháu nhưng thật ra bên trong có khá nhiều linh hồn cùng trú ngụ. Ngoài đội quân âm binh do ông thu nạp, còn có những bệnh nhân được người nhà đưa đến cho ông chữa trị và đã mất tại đây. Linh hồn họ đã không về lại nhà mà vương vấn mãi với khu vườn. Nhiều người trong số họ đã chứng kiến tất cả. Một người đàn bà trẻ với mối thù hận dai dẳng lại luôn sống vắng chồng. Một con bé bị vứt bỏ vì có số sát cha sát mẹ. Họ đã chứng kiến con bé bị đánh đập, bị ghẻ lạnh, hắt hủi bởi bà trẻ. Vài kẻ trong số đó đã muốn mang con bé theo cùng. Là thầy, ông cũng có biết những việc đó. Nhưng con bé cao số. Nó đã không đi theo những lời rủ rê. Nó đã cầu cứu sự giúp đỡ và rồi nó theo bố đi biệt về tận một làng quê ngoài Bắc. Thoáng chốc đã 80 năm, đã gần một thế kỷ. Những linh hồn ở đây đã ngỡ như quên hẳn hình bóng đó. Nhưng hôm nay, con bé ngày đó đã trở lại. 80 năm đã biến con bé gày gò ngày nào thành một bà lão 90, cái tuổi dường như cũng sắp đi về cùng một cõi với họ. 80 năm biền biệt đến hôm nay mới trở lại. Một cuộc trở lại cũng không có lý do khi cả ông ngoại và bà Ba đều đã mất từ lâu. Bà lão ấy đã đứng đó một lúc rồi rời đi cùng cô cháu gái. Bước chân đi vội như cảm nhận được điều gì đó. Hai bà cháu đi rồi nhưng vẫn có những ánh mắt ẩn nấp đâu đó trong khu vườn dõi theo họ. 80 năm quá dài nhưng lại như quá ngắn với sự trở về này.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XIX: TỪ BIỆT

    CHƯƠNG XIX: TỪ BIỆT

    Bà đã chính thức về với ông bà. Chuyến đi đã được báo trước, đã được chuẩn bị nên mọi việc diễn ra đúng theo ý bà dự liệu. Ngày bà đi cũng là ngày linh hồn con ma chị tan biến khỏi ngôi chùa. Nó cứ thế mà tan đi. Chắc linh hồn nó giờ đang lang thang tại một cảnh giới khác. Để rồi lại tiếp tục học những bài học khác trước khi đi đến một cảnh giới cao hơn. Con ma em khóc nấc khi không tìm thấy ma chị đâu. Nó chạy khắp trong chùa, ngoài cổng, gặp ai cũng hỏi xem có thấy chị mình ở đâu không. Nhiều hồn ma không biết chị nó đã đi đâu. Nhưng bà ma già thì biết. Trước khi đi chị nó còn nhờ bà chăm sóc, bảo ban ma em. Nó còn dặn có thể người nhà sẽ đưa bà lão ấy lên chùa vào vài tuần tới. Khi ấy con ma em sẽ có thêm một chỗ dựa. Nhưng cũng chỉ là tạm thời thôi. Rồi ma em cũng sẽ phải tự mình học lấy mọi thứ khi không còn có chị. Con ma chị đi rồi, bà ma già cũng thấy nhớ nó. Bà cũng ngộ ra hành trình của kiếp người là những chuyến đi dài không nghỉ. Gặp gỡ đấy mà chia ly ngay đấy. Con người cứ đi từ kiếp này sang kiếp khác, từ cảnh giới này sang cảnh giới khác. Có người đi mãi không nghỉ và luôn tiến về phía trước. Lại có người cứ mãi dừng chân tại một nơi vì đã chọn sai hoặc lưu luyến không nỡ rời. Như bà cũng vì lưu luyến với con cháu, với người thân, với bạn bè mà đã dừng chân khá lâu tại nơi này. Nhưng có lẽ cũng phải tính đến sự rời đi thôi. Con ma chị đến sau nhưng nó đã rời đi trước cả bà rồi.

    Những ngày gần đây, nhờ chăm nghe kinh, nghe các thầy giảng pháp bà cũng ngộ ra trong vòng luân chuyển của muôn lượng kiếp, của những cảnh giới khác nhau có những người nhờ tài học, nhờ sự thông minh mà có thể qua lại giữa các cảnh giới. Một số ông thầy có thể tự mình đi qua đi lại giữa các cảnh giới khác nhau rồi lại trở về. Khi còn sống, bà từng xem nhiều video của một thầy trên mạng. Một người có biệt tài bắt ma, diệt quỷ. Ông thầy đó có đôi tay rất đẹp. Tay thầy trắng, mịn, mềm như tay con gái. Ông đã giúp bao gia đình thoát khỏi sự quấy nhiễu của ma, của quỷ. Nhờ hay xem các clip của ông mà bà biết có những linh hồn dù đã mất mấy trăm năm nhưng vẫn chưa siêu thoát. Lại có linh hồn mới mất chưa lâu đã về nhà vì lo cho con, cho cháu. Lại có kẻ đã tự biến mình thành quỷ thành quái khi luôn thích hãm hại người. Có người bị mất khi đang ngủ, đang mê nên không nhớ nổi mình đã mất ở đâu, mất như thế nào? Ông thầy đó đã có lần dặn các đệ tử, những người hay xem clip của mình cứ niệm Natasera vào nửa đêm là sẽ có người đến và đưa đi. Ông còn nói chắc nịch về chuyện câu thần chú đó sẽ đưa mọi người du ngoạn tới cõi âm và các cảnh giới khác. Và nếu có gặp quỷ sứ thì cứ gọi tên ông là bọn chúng sẽ sợ. Khi xem các clip ấy bà cũng không tin lắm. Bà nghĩ là ông thầy ấy đang cậy tài, thị tài mà không ngại xúc phạm tới ma quỷ. Bà cũng không biết có ai làm theo lời ông thầy ấy hay không nhưng chắc chắn là nhiều người, trong đó có bà đều không dám. Cứ cho là đi được đến cõi âm thật nhưng liệu có trở về được nữa hay không thì ai dám chắc. Mà cứ cho là trở về được thì liệu những gì đã chứng kiến, đã trải nghiệm dù là trong mơ có khiến con người ta thấy xa lạ với thực tại đang sống. Khi còn sống, bà đã từng đọc, từng xem những quyển truyện, vở kịch nói về việc con người có thể du ngoạn tới cõi âm hay gặp những cơn ác mộng. Có ác mộng đến vào lúc nửa đêm. Nhưng có ác mộng xảy ra ngay giữa giấc ngủ ban ngày. Có người vì quá khiếp sợ với những đòn tra tấn của quỷ sứ với người phạm tội mà tỉnh ngộ, ăn năn chăm làm thiện, bớt việc ác. Bà cũng đã nghe nhiều chuyện, dù ở những cảnh giới khác nhau nhưng có những tần số vì hợp mà có thể tụ lại hay giao nhau dẫn đến cảm nhận, nhìn thấy, nghe thấy ở một khoảnh khắc nào đó. Cũng có thể, ở một khoảnh khắc nào đó bánh răng của tạo hoá bị sai lệch dẫn đến một vài va chạm, tiếp xúc vượt quá cảnh giới. Dù thế nào thì có lẽ cuộc sống nơi trần thế cũng không phải là duy nhất. Ngay cả cõi âm này cũng vậy. Nó cũng không phải là cảnh giới cuối cùng. Bà ma già thở dài. Bà đã tưởng đây là bến cuối nhưng sự biến mất của con ma chị khiến bà phải suy nghĩ. Bà cũng không thể ở lại mãi nơi này. Bà chợt thấy sự chờ đợi để có thể gặp gỡ lại người nhà, người thân, bạn bè khi họ đến chùa đã không còn quá quan trọng. Giờ thì bà phải đi tìm con ma em và dỗ dành nó. Cũng không biết đến bao giờ con ma em mới nguôi ngoai và quên được chị nó.

    ./.

                                                  Hà Nội, ngày 15/4/2026

    Ngô Thị Minh Nguyệt

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XVIII: SAU GIẢI THOÁT SẼ LÀ GÌ?

    CHƯƠNG XVIII: SAU GIẢI THOÁT SẼ LÀ GÌ?

    Con ma chị bỗng thấy bồn chồn. Đã mấy tuần nay bà ấy không ra chùa. Hình như bà ấy ốm nặng. Nó đã vài lần lảng vảng trước cửa nhà bà nhưng không vào được. Có rất nhiều người tụ tập trong ngôi nhà đó. Có cả người sống lẫn người đã mất trong gia đình bà ấy. Trong khi những người sống lo lắng, tất tả đi đi lại lại thì những người đã mất lại bình tĩnh chờ đợi. Một bên lo lắng về điều sắp xảy ra. Một bên thì như đã biết trước kết cục. Không biết sắp tới đây khi không còn ở cảnh giới này thì sự chia ly giữa nó và em có bịn rịn như những gì đang chứng kiến. Cũng không biết nó có chờ được để gặp lại bà ấy ở cõi âm không? Gần đây, nhiều lúc nó như thấy mình bị một lực vô hình kéo đi. Có lúc lại như thấy mình như đang tan đi. Nó đã phải cố gắng để mình không tan biến. Nó vẫn còn lo cho em. Con bé còn nhỏ quá. Những ngày qua, nó đã dặn em hãy chăm nghe kinh, chăm tham gia các đàn lễ, chăm nghe thầy giảng pháp thay vì chạy chơi suốt ngày bên đàn bồ câu. Nó nói mình có thể phải đi xa. Nhưng em nó dường như không hiểu hết những điều nó chia sẻ. Nó đã quen luôn có chị ở bên suốt bao năm qua. Nó vui khi thấy chị vui. Nó buồn khi thấy chị buồn. Chị oán hận, ghét bỏ ai nó cũng ghét luôn người đó. Chị em nó giống như kiểu cùng cộng sinh, cộng nghiệp. Có lẽ vì thế mà chị em nó đã ở bên nhau lâu đến như thế. Nhưng những gì bà ấy nói và những điều nó nghe được, học được ở ngôi chùa này đã khiến nó thay đổi. Nó hiểu mọi oán hận đều đến lúc phải buông bỏ. Khi không còn chấp niệm vào một điều gì đó thì chính là giải thoát. Nhưng giải thoát rồi thì tiếp theo sẽ là gì? Liệu có tiếp tục bị trói buộc vào một chấp niệm khác rồi đến lúc nào đó lại tỉnh ra, ngộ ra và lại giải thoát tiếp. Trong kinh phật cũng từng nói đến những giải pháp từ thấp đến cao. Nó đã từng nghe giảng khi con người còn đắm mình trong mê muội thì các Bồ tát chỉ có thể hướng họ dần dần, từng chút một. Họ sẽ phải đi từ những bài học thấp nhất, sơ khai nhất rồi đi dần lên cao. Mỗi một bài học họ đi qua là một cách tập buông bỏ, tập giải thoát. Không biết sẽ có bao nhiêu bài học về sự buông bỏ, sự giải thoát. Con đường đó phải đi đến khi nào mới là khúc cuối? Hay cái sự học, sự tu tập sẽ là mãi mãi. Các đức Phật, các đấng Bồ tát liệu có còn phải học tiếp hay họ đã đi đến giới hạn cuối cùng của sự học, của tỉnh ngộ và giải thoát khỏi mọi ràng buộc, mọi khổ đau? Các linh hồn bị kẹt lại như linh hồn cô gái tự tử khi đã tỉnh ngộ liệu có thể tiếp tục tu tập và giải thoát? Có biết bao câu hỏi, bao điều nó muốn biết nhưng lại chẳng thể hỏi ai. Bà ma già đã giúp nó trả lời nhiều câu hỏi khi chị em nó mới tới chùa. Nhưng nhiều điều nó muốn biết sau này bà ấy cũng không thể trả lời được. Những buổi dự đàn lễ, nghe giảng pháp nó cũng ngộ ra nhiều điều. Nhưng vẫn còn biết bao nhiêu điều mà nó muốn biết, muốn tìm hiểu. Ngay như việc các gia đình có người mới mất đến chùa làm lễ rồi hồi hướng công đức đọc kinh, trì tụng cho người mới mất nó cũng không hiểu lắm. Nó được giải thích rằng càng có nhiều người đọc kinh, nhiều người cùng trì tụng và hồi hướng thì người mất càng được thêm công đức. Công đức được tôn bồi thêm ấy sẽ khiến họ bớt đi những tai ách ở thế giới bên kia. Hiểu đơn giản là làm một việc tốt sẽ được xóa bớt đi một việc xấu. Nhưng sao nó hay nghe than người tốt mà không được báo đáp hay ông ấy, bà ấy hiền lành, tử tế thế mà lại gặp nạn hay bệnh tật lúc cuối đời. Liệu có lẽ nào ngoài các việc tốt mà họ đã làm vẫn còn những việc làm xấu, những ý nghĩ xấu mà họ đã làm, đã khởi lên, đã tích tụ từ vô lượng kiếp. Nhiều lúc, nó như muốn nổ tung cả cái đầu bé nhỏ khi có biết bao nhiêu câu hỏi nó muốn hỏi, muốn biết. Nhiều bữa nó cứ lân la, quanh quẩn bên các thầy đến giảng. Nó nghe các thầy giảng trước đám đông, trước các đạo hữu, các gia chủ. Nó còn hóng hớt cả khi các thầy giảng giải cụ thể một vấn đề nào đó cho một vài người hay một nhóm nhỏ. Nó còn muốn hỏi riêng thầy những điều mà nó thắc mắc. Nhưng nó không biết phải làm sao để các thầy nghe được điều nó muốn hỏi. Nhiều lần nó cố ghé tai, cố nói to hay thì thầm để các thầy nghe thấy nhưng chả có ai nghe được lời nó nói. Dường như vẫn có quá nhiều cách trở, quá nhiều những rào cản để con người ở thế giới bên này và những linh hồn ở thế giới bên kia như nó có thể giao tiếp, thấu hiểu. Những việc như nhập hồn, thoát xác, nói lên điều mình muốn không phải lúc nào, người nào cũng làm được. Tại đàn lễ giải thoát ở khu vườn đêm ấy, chị em nó và lũ âm binh đã được các thầy làm phép cho nhập hồn, nhập khẩu để nói lên mọi oán hận. Nhưng có lẽ đó lần hiếm hoi và không dễ lặp lại. Sau này, mọi giao tiếp của chị em nó chỉ còn quanh quẩn trong thế giới của những linh hồn. Chúng có thể nghe, có thể thấy mọi điều những người còn sống đang làm. Nhưng những người đang sống lại hiếm khi nghe trọn, hiểu trọn được những gì chúng muốn. Có lẽ chỉ những người cùng tần số hay các pháp sư, thầy phù thuỷ cao tay mới có thể bước qua được những lằn ranh đó. Chưa bao giờ nó lại khao khát được học, được hỏi, được hiểu về mọi thứ như lúc này. Có lẽ chỉ khi tự giải thoát ra khỏi cảnh giới này và đi tiếp thì nó mới học được, hiểu được những điều mà nó đang thắc mắc.  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XVII: AI CŨNG CẦN GIẢI THOÁT

    CHƯƠNG XVII: AI CŨNG CẦN GIẢI THOÁT

    Bà mệt nặng. Các con đã đưa bà đi khám nhưng bác sĩ nói bà không có bệnh trọng. Chỉ là các chức năng trong cơ thể đang dần suy kiệt, lão hoá vì tuổi tác. Trong khi các con lo cuống lên thì bà lại thấy thật bình thản. Bà đang đi đến những ngày cuối của cuộc đời. Nơi bà sắp tới đây có thể sẽ gặp lại nhiều người thân. Những người đã đi đến đó trước bà. Hồi con rể bà bệnh trọng. Các thầy đều đoán sẽ ra đi trong tháng nhưng rồi con rể bà đã vượt qua lời tiên đoán ấy. Nó đã sống thêm được hai tháng. Có lẽ vì còn trẻ, còn có sức và hơn tất cả là khao khát được sống, khao khát được ở cùng vợ con đã khiến con rể bà kéo dài thêm thời gian. Những ngày cuối cùng, không chỉ người nhà mà hàng xóm cũng vài lần nhìn thấy những sự lạ. Những bóng điện trước cổng chợt tối đi một khắc như có bóng ai đó vừa mới lướt qua. Cô hàng xóm còn quả quyết đã nhìn thấy cả một xe Hải Âu cũ – loại xe mà giờ các tuyến công cộng hay đường dài đã không còn sử dụng – đỗ trước cổng. Xe chở đầy người đứng lố nhố trước cổng nhà của con rể bà. Cô ấy cũng biết điều đó là không thể. Nhưng dường như những đồng đội cũ đang đến đón người đi. Con rể bà cũng có thời là bộ đội. Cậu ấy từng đi lính và chiến đấu ở mặt trận biên giới phía Bắc. Có lẽ vì thế mà đồng đội đã ghé thăm khi biết nó sắp đi xa. Chỉ có điều những đồng đội đó đều đã là người của cõi khác. Và chiếc xe Hải Âu đó gần như đã biến mất khỏi đời sống đô thị hiện đại. Có chăng đám xe cũ đó vẫn còn tồn tại ở những bản làng xa xôi, nơi để chứa chấp, tồn đọng lại những thứ đã cũ, đã bỏ đi từ các đô thị. Cũng không biết khi bà đi đến những thời khắc cuối thì sẽ có những người thân, bạn bè nào đến đón bà? Mà họ có đến chắc cũng chỉ như người đưa tiễn một đoạn rồi thôi. Chặng đường chính bà vẫn phải tự mình đi, tự mình lựa chọn và tự mình đưa ra các quyết định.  

    Những ngày chờ đợi bà cũng đã thu xếp xong mọi chuyện. Từ phân bổ chút ít tiền tiết kiệm đến những dặn dò con cái, người thân. Bà cũng đã nhờ con cháu đưa bà đến những người bà cần gặp, cần thăm, cần chào hỏi, từ biệt trước lúc đi xa. Bà đã làm xong tất cả. Bà đã sẵn sàng để có thể ra đi bất cứ lúc nào. 

    Ngày còn trẻ, có thầy khi xem cho bà đã phán:

    – Cô phải thật cẩn thận vì khi mất có khả năng cao là sẽ chỉ có một mình. 

    Khi ấy bà đã không hiểu. Bà đã hỏi đi hỏi lại rằng chồng con rồi người nhà đâu mà bà lại chỉ có một mình khi mất? Thầy đã giải thích có thể lúc đó người nhà đi vắng, chỉ có một mình bà ở nhà. Hoặc cũng có thể bà ra đi trong lúc đang ngủ. Bà cũng đã thấy vài trường hợp người mất ra đi rất nhẹ nhàng. Họ ra đi ngay trong giấc ngủ rồi không bao giờ trở dậy nữa. Ý thức về điều đó nên bà đã chủ tâm thu xếp ổn thoả mọi việc trước lúc ra đi. Bà cũng cố gắng hạn chế ít nhất những bất ngờ ngoài dự liệu. Sẽ không có những điều muốn nói mà không kịp nói. Tất cả đã được bà làm gọn ghẽ để có thể nhẹ nhàng buông xuống bất cứ lúc nào. Bà chợt nghĩ tới hai chữ giải thoát. Có lẽ nào bà đang thu xếp, đang chuẩn bị mọi thứ để tự giải thoát cho mình? Những ngày ốm bệnh bà đã nghĩ nhiều về 90 năm của cuộc đời mình. Trong đời mỗi con người do mê lầm, cố chấp mà đã tự trói buộc mình vào không ít chuyện. Có người bị trói vào nghĩa vụ chăm lo cho bố mẹ, anh em, con cháu dù đôi lúc đó không phải phận sự cũng như không ai bắt họ phải làm. Có người lại nghĩ mình phải đấu tranh cho bất công, cho người khác mà không biết mình chỉ đang nhìn sự việc ở một phía dẫn đến những sai lầm, ngộ nhận. Lại có người lấy việc hy sinh vì chồng, vì con, vì gia đình làm lẽ sống mà quên đi chính bản thân mình. Không ít người, ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đời đã tin lầm, chấp mê vào một người hay một tư tưởng, giáo phái nào đó rồi đến lúc ngộ ra lại phải chật vật tự mình giải thoát. Có cái giải thoát về mặt tinh thần khi không còn bị chấp mê vào một điều mình từng tin tưởng. Có cái giải thoát về mặt trách nhiệm và nghĩa vụ khi bao lâu nay mình cứ tự quàng vào. Nhưng nhiều nhất có lẽ là sự giải thoát khỏi tình yêu khi nhiều người nghĩ mình sẽ chết nếu thiếu đi tình yêu đó. Nhưng khi tình yêu hết hoặc bị phản bội họ đã phải chật vật bước qua đoạn tình cảm đó. Và khi đã giải thoát khỏi sự lệ thuộc, nhiều người như bừng tỉnh và nhận ra hoá ra không có người ấy mình vẫn có thể sống tốt. Đời bà đã chứng kiến không ít những câu chuyện như vậy từ người thân, người quen, từ bạn bè và cả chính mình. 

    Nghĩ đến giải thoát, bà chợt nhớ đến bà Đốc Nhân – một bà cô họ xa – với cuộc đời đầy những thăng trầm, xa xót. Ngày bà cô về làm vợ ông Đốc Nhân cả họ mừng lắm. Mừng vì bà cô được gả vào nơi yên ổn, giầu có. Mừng vì họ hàng có thể nhờ vả được chút đỉnh từ ông Đốc không chỉ về tiền bạc mà cả công việc. Ông ấy học nhiều, lại đang làm việc cho Tây nên trong mắt mọi người bên vợ ông ấy cao quý lắm. Cao quý không chỉ vì tiền bạc mà cả cái cách ông đi đứng, ăn mặc và nói chuyện. Mỗi lần về làng, ông ấy đều mặc một bộ comple trắng, đội chiếc mũ phớt, tay chống cây batong mạ vàng. Ông đi đến đâu là mùi nước hoa sực nức bay theo đến đó. Các ông bố bà mẹ khi nhìn thấy ông Đốc đều ước ao con gái mình được gả cho một người sang trọng, giầu có như thế. Bà cô của bà được gả khi vợ đầu của ông Đốc bỏ đi. Ai cũng nghĩ bà vợ bỏ đi ấy dại quá. Đâu phải ai cũng vớ được một ông chồng thơm tho, giầu có đến như thế. Nhưng mãi sau này thì mọi người mới hiểu. Ông Đốc Nhân không có khả năng sinh con. Ông lại quá sạch sẽ, kỹ tính nên người nào ở cùng ông cũng không dễ để chiều theo. Nhưng cô của bà là người khéo léo. Bà chấp nhận chuyện ông bà không thể có con chung. Bà cũng chấp nhận những kỹ tính thái quá của ông trong các sinh hoạt thường ngày. Nhưng bù lại bà có tiền bạc để lo cho bố mẹ, cho anh em và các cháu trong nhà. Được cái bà là người biết điều nên không chỉ chăm lo cho gia đình bên mình mà gia đình bên chồng bà cũng rất chu đáo. Bà nhận nuôi 3 đứa cháu bên chồng và 3 đứa cháu bên mình. Những người được bà nhận nuôi đều được cho ăn học. Năm 1954, bà theo ông Đốc vào Nam. Cả 6 người con nuôi đều đi theo bà. Nhiều gia đình còn tiếc khi không được gửi con đi theo với ông bà. Ai cũng biết bà không có con nên bao nhiêu tiền của, tâm sức bà dồn lo cho các cháu – cũng là các con nuôi của ông bà. Sau này nghe nói cả 6 người con nuôi đều được bà dựng vợ gả chồng tử tế. Thậm chí, bà còn lo vốn làm ăn, lo nhà cửa cho họ. Nhưng đến cuối đời, khi ông Đốc đã mất thì không một người con nào nhận bà về nuôi. Buồn chán, xót xa bà đã cắt đứt quan hệ với họ và với mọi người rồi vào tu trong chùa. Ai cũng trách 6 người con nuôi tệ bạc. Mấy lần, họ hàng bên chồng rồi bên bà tìm đến chùa để khuyên nhủ và muốn mang bà về sống cùng. Nhưng bà kiên quyết không gặp mặt một ai. Nhiều người thương bà cứ năn nỉ sư thầy cho gặp nhưng bà nhất quyết không ra. Bà nhắn với mọi người qua sư thầy rằng cả đời bà đã hy sinh cho họ hàng hai bên, cho anh em, cho các cháu, các con nuôi của bà. Nhưng đến cuối đời bà lại gặp phải cảnh trái ngang khi cả 6 người con nuôi đều không muốn đón bà về nhà. Bà không còn muốn bất kỳ một liên hệ nào với họ cũng như họ hàng hai bên nữa. Bà đã quy y theo Phật. Bà đã tự giải thoát mình khỏi tất cả những mối liên hệ với họ hàng. Xin mọi người đừng đến làm phiền việc tu tập của bà. Ngay cả khi mất bà cũng không muốn gặp lại họ. Bà cũng đã gửi gắm phần hậu sự của mình cho nhà chùa lo liệu. Bà không còn muốn có bất kỳ sự dính dáng nào tới họ hàng hai bên nữa. Bà muốn giải thoát khỏi tất cả. 

    Những lời bà ấy nhắn ra làm nhiều người đau đớn. Có người ôm ngực khóc nghẹn. Một người đã hy sinh tiền bạc, công sức, tuổi trẻ của mình cho bố mẹ, cho anh em, họ hàng như bà mà đến cuối đời lại muốn từ bỏ, muốn giải thoát khỏi tất cả những mối dây liên hệ thì hẳn là phải đau lòng lắm lắm. Bà Đốc Nhân đã gặp phải chuyện gì? Sáu người con nuôi của hai bên dòng họ đã đối xử ra sao để bà ấy đi đến quyết định như vậy? Có lẽ nào dòng con nuôi bên chồng lại tị nạnh với dòng con nuôi bên bà và ngược lại dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm. Không ai biết chắc nội tình nhưng ai cũng cảm thấy cả 6 người con nuôi đều rất đáng trách. Bà Đốc Nhân sẽ không đi đến quyết định cực đoan như vậy nếu chỉ cần có một người con nuôi đứng lên đảm nhận, chăm lo cho bà. 

    Đời bà cũng từng chứng kiến nhiều gia đình mâu thuẫn, tị nạnh lẫn nhau không phải do nghèo khó. Thậm chí, một số đứa con trong nhà còn thuộc dạng có của ăn của để. Nhưng sự so bì, tị nạnh giữa các con đã khiến nhiều bố mẹ già phải khổ sở, phải ngậm đắng nuốt cay lúc cuối đời. Chứng kiến nhiều chuyện bà mới hiểu không chỉ nghèo, không có tiền lo cho nhau mới khổ. Ngay cả khi giầu vẫn có thể xung đột, bất hoà khi người này người kia tị nạnh. Có của thì tị của. Không có của thì tị công. Ai cũng nghĩ mình vất vả. Ai cũng sợ mình và gia đình nhỏ của mình chịu thiệt khi phải bỏ công, bỏ của chăm bố, chăm mẹ. Những lúc ấy liệu có đứa nào nghĩ đến việc cha mẹ đã bỏ công, bỏ sức ra bao nhiêu để nuôi chúng lớn khôn. Rồi đứa khoẻ, đứa ngoan thì tốn ít tâm sức, tiền của. Đứa nào đau yếu lại lười nhác, hư hỏng thì tốn không biết bao sức, bao công, bao tiền của và cả mồ hôi, nước mắt của cha của mẹ. Các con ruột, anh chị em ruột còn đối đãi với nhau như thế thì bà Đốc Nhân với 6 đứa con nuôi của hai bên dòng họ liệu có phải cũng rơi vào vòng xoáy của sự so bì, tị nạnh? Bà Đốc Nhân đã tìm đến chùa để giải thoát mình khỏi họ hàng hai bên, khỏi 6 người con nuôi. Có người trách bà Đốc Nhân cạn nghĩ khi họ hàng còn cả đống đấy có phải ai cũng lòng dạ bạc bẽo đâu. Nhưng nhiều người thì hiểu. Đến 6 người con nuôi được bà dốc công chăm bẵm còn chả có trách nhiệm với bà lúc cuối đời thì trông mong gì ở đám họ hàng chỉ chăm chăm nhờ vả hay mong ngóng vào đống tài sản của bà. Không biết ở những ngày cuối đời bà ấy có buông bỏ được mọi thứ hay không? Bà ấy đã ra đi trong nhẹ nhàng, thanh thản hay trong đau xót, uất hận? Những ngày nương náu nơi cửa Phật, liệu bà ấy có bình tâm để tự giải thoát mình khỏi tất cả những đau đớn, hy sinh, những trách nhiệm, sự kỳ vọng mà cả đời bà đã theo đuổi. Không một ai biết thêm tin tức gì khi bà Đốc Nhân đã quyết cắt đứt, quyết tuyệt giao với tất cả. 

    Cứ vẩn vơ những câu chuyện về mình, về người bà chợt nhận ra, không chỉ những âm binh, những linh hồn đã chết bị giam giữ ở khu vườn đó mới cần đến giải thoát. Ngay cả người sống cũng phải tự giải thoát mình khỏi những sai lầm, lệ thuộc. Bà không biết tâm trạng của những người khi biết mình sắp mất sẽ như thế nào? Nhưng bà đã chứng kiến nhiều người không cam lòng. Nhất là những người còn trẻ, những người mang trong mình trọng bệnh. Họ ra đi nhưng vẫn còn nuối tiếc cuộc đời lắm. Tiếc cho đến tận phút cuối khi luôn hy vọng sẽ có một phép mầu nào đó xảy đến giúp họ chiến thắng bệnh tật và kéo dài sự sống. Cũng có lẽ họ chưa muốn rời đi vì còn quá trẻ. Còn nặng nỗi lo về cha mẹ, vợ chồng và những đứa con. Những hồn ma đó chắc sẽ còn quanh quẩn mãi bên gia đình, vợ con mà chưa thể siêu thoát. Bà không muốn mình ra đi trong tâm trạng tiếc nuối. Bà muốn được giải thoát, tự giải thoát để có thể nhẹ bước và đi.