Author: editor editor

  • Lời mở đầu (Theo nguyên bản gốc)

    Lạm dụng lòng tin của thiên hạ. Không còn biết kiêng nể sự đau đớn và sự lo âu của bệnh nhân là gì nữa, lại chắc rằng không bao giờ bị búa rìu của pháp luật, bọn lang băm ấy là bọn hèn nhát xấu xa nhất trong bọn đi lừa… cho nên nghề lang băm mỗi ngày một lan rộng, yết thị ra phố phường, quảng cáo ra báo chí, truyền lời bằng máy truyền thanh, đặt chi nhánh khắp mọi nơi, bài bác những phương pháp khoa học, công nhiên nhạo báng cái y học chính thức là vô hiệu.
    Bác sĩ Mô rít I Bơ

    Việc loại trừ nạn lang băm chỉ mới là một phương diện trong sự giữ gìn sức khoẻ chung; vì thế nên người ta kêu la đến đâu cũng là chưa đủ.

    Giáo sư Lê ông Bơ na
     

  • PHẦN THỨ HAI: DAO CẦU THUYỀN TÁN

    Nội dung đầy đủ phóng sự Dao cầu thuyền tán của Ngô Tất Tố đăng gọn trên báo Công dân từ số 9 ngày 20 tháng 11 năm 1935, gồm các phần:

    Lời mở đầu

    1. Tôi còn sống vì không uống thuốc

    2. Chữa khoán hết các bệnh

    3. Từ đôi bồ đến mấy cửa hiệu

    4. Giết người bằng vương đạo

    5. Thầy lang Thỏ Đực.

    Phóng sự Dao cầu thuyền tán đã được tái bản nhiều lần, hầu hết các lần in lại đều đề là Trích do chỉ có các phần I, II và V mà không có phần Lời mở đầu và các phần III và IV, kể cả trong Ngô Tất Tố Toàn tập Tập 5 (Sách đã dẫn), và Phóng sự Việt Nam 1932 đến 1945, Tập 3 Nhà xuất bản Văn học 2000.
     

  • Chương 6. Nguyên nhân chỉ tại trái lễ

    Theo tin một bạn đồng nghiệp, ngày mười tháng hai âm lịch, tại Văn Miếu của làng Trường Lâm, huyện Gia Lâm có xảy ra một tấn náo kịch.

    Hôm ấy, làng đó làm lễ Xuân Đình, phó lý Âu Văn Tảo được vào đọc văn. Tế xong, viên độc chúc đó còn đương xúng xính mũ áo, thình lình hai người cùng làng xông vào, xé nát cả bộ lễ phục. Anh ta đã phát đơn kiện.

    Tin đó có lẽ đã bị nhiều người bỏ qua, vì nó là việc nhỏ mọn. Điều đó rất không nên. Việc này tuy nhỏ mọn thật, nhưng nó thuộc về lễ nghi của Khổng môn.

    Cái gì dính đến cửa Khổng đều quan hệ, huống chi là việc lễ nghi. Vì vậy tôi muốn đưa cuộc xung đột đó ra trước dư luận để tìm nguyên nhân.

    Ngày xưa thì có thể bảo nó chỉ là sự cạnh tranh xôi thịt. Bây giờ không thể nói thế, cần phải căn cứ vào lễ mới được.

    Phải, Văn Miếu không giống đình chùa, của nhà nước và của hàng tỉnh là nơi thờ đức Khổng Tử, còn của các tổng các làng thì là chỗ cúng tiên đạt trong xứ. Tiên đạt cũng là môn đồ cụ Khổng, vì có học hành thi đỗ mới được ở địa vị ấy.

    Khổng Tử lúc sống rất trọng lễ. Ngài đã bảo ông Nhan Uyên những cái phi lễ chớ trông, chớ nghe, chớ động đến và chớ nói đến.

    Các vị tiên đạt Trường Lâm đã là môn đồ của ngài, tất nhiên cũng phải theo lời dạy ấy. Cuộc lễ Xuân của làng Trường Lâm hôm ấy có hợp lễ không? Nhất định không.

    Bởi vì những cuộc tế đình ở các Văn Miếu, trong luật đã có định rõ: quốc tế dùng ngày thượng đình, quan tế dùng ngày trung đình, dân tế dùng ngày hạ đình. Làng Trường Lâm tế ngày mồng mười tháng hai tức là tiếm lễ. Vì ngày đó chính là trung đình, ngày để quan tế.

    Vả chăng Văn Miếu cũng là một nơi cửa Khổng, những người dự lễ cũng phải là người cửa Khổng mới hợp lễ. Âu Văn Tảo đã làm phó lý, quyết không là môn đồ cụ Khổng, sao lại vào đó đọc văn?

    Một cuộc tế phàm đến hai điều phi lễ, cố nhiên động đến các vị tiên đạt ở đó không buồn trông đến. Vì vậy ngài mới run rủi hai tên trai đinh gây sự, để tỏ ý không thèm thừa nhận. Phải vậy chăng?

    Hy Cừ
    Đông Pháp, Số 5092, ngày 2 tháng 4 năm 1942
     

  • Chương 6. Cái ngòi tranh kiện ở quê

    Tại các thành thị có lẽ ít người còn có can đảm dám muốn đội mũ, đi hia, mặc áo thụng xanh ở các cửa đình. Nhưng ở thôn quê việc ấy vẫn long trọng. Nó vẫn làm cho nhiều người phải hao gia tài.

    Vừa rồi ở làng Bái Dương suýt xảy ra việc lôi thôi, chỉ vì ngôi tế chủ đó.

    Làng ấy có ngôi đền Dính vào bậc cổ nhất trong các đình chùa Nam Định.

    Hàng năm cứ từ mồng một đến mồng mười tháng chạp, bốn xã trong tổng phải sửa cỗ bàn, đem đến đền ấy cúng tế. Theo lệ, khi lễ, làng Bái Dương phải cắt những ông khoa mục vào làm chủ tế.

    Nhưng khoa cử đã bị bỏ gần ba chục năm nay, bây giờ khó còn được khoa mục nữa. Vì thế cái ngôi chủ tế đền Dính năm nay, dân làng Bái Dương đã định giao cho một người lý trưởng có phẩm hàm.

    Thế nhưng trong làng lại có một người chánh hội cũng muốn được lên ngôi đó. Biết rằng người làng không nghe, hắn mời quan phủ Nam Trực về làng điều đình.

    Song sự điều đình của quan phụ mẫu cũng không có hiệu quả. Ngài mới khuôn xếp cho viên chánh hội làm chủ trong cuộc tế các hôm trước, còn người lý trưởng thì vẫn làm chủ về cuộc tế chính hôm sau.

    Cố nhiên, dân làng không dám từ chối.

    Tưởng thế là yên. Chẳng ngờ sắp đến ngày tế, chánh hội lại nói có tờ sức cho hắn được làm chủ cuộc tế chính, không rõ là thực hay hư.

    Dân làng thấy vậy tức thì dùi đục, tay thước, gậy tày, mã thò tấp nập ra đình để phòng thủ cái ngôi tế chủ của họ. Kết cục chánh hội phải xin lính phủ về giữ trật tự mới khỏi xảy ra ẩu đả.

    Than ôi, Bái Dương là quê cụ Nghè Trúc Đường, mà đến có sự mục nát như vậy, thì cũng đáng buồn cho linh hồn của một vị sư biểu của sĩ lâm thuở trước.

    Hy Cừ
    Đông Pháp, Số 5054, ngày 12 tháng 2 năm 1942
     

  • Chương 4. Những việc đáng ghi chép của phòng canh nông Nam Kỳ

    Hồi này phòng Canh nông Nam Kỳ thật là hết lòng với dân cày trong ấy. Nhân viên của phòng ấy săn sóc đến công việc của dân cày luôn luôn.

    Cái nạn tai hại thứ nhất cho dân cày là nạn sâu bọ ăn lúa ăn mạ. Xưa nay ai cũng biết vậy.

    Vậy mà mấy nghìn năm nay, ông cha chúng ta cứ phải chịu phép với nó, vì lập đàn cúng lễ, cắm cờ xanh đỏ ở khắp cánh đồng mà nó không thôi ăn cho. Bây giờ phòng Canh nông Nam Kỳ đã phát minh ra một phương pháp trừ giống côn trùng ác nghiệt ấy rồi. Phương pháp này cực kỳ thần diệu, ngoài phòng Canh nông Nam Kỳ, chưa ai nghĩ ra.

    Có ai đoán được người ta làm thế nào không?

    Treo cái giải thưởng hễ ai nghĩ được cách trừ sâu bọ hại hoa màu, thì thưởng 5 vạn đồng bạc.

    Đó, cái phương pháp thần diệu của phòng Canh nông Nam Kỳ là như vậy đó!

    Dưới sự trọng thưởng, tự nhiên sẽ có đại tài, rồi đây trăm năm, nghìn năm, chắc đâu giống sâu bọ kia không vì cái giải thưởng ấy mà chết. Đừng bảo các ông bác học ở phòng Canh nông Nam Kỳ không nghĩ nổi cách trừ sâu bọ, mà phải treo giải cầu hiền. Các ngài còn đang bận lo đường luân lý cho dân cày.

    Việc phòng Canh nông Nam Kỳ định dựng tượng vua Thần Nông mà Thời vụ đã có nói qua, các bạn chắc cũng còn nhớ. Đó là một việc rất ích lợi cho dân. Giá như phòng ấy mà không làm vậy có khi dân cày Nam Kỳ sẽ bị cái nạn quên vua Thần Nông, không biết ngài là người đã dạy nghề cày cấy, như sách hoang đường của Tàu vẫn nói.

    Chẳng những thế thôi.

    Phòng Canh nông đối với vua Thần Nông còn hậu tình hơn nữa, người ta đã định tế cho vua ấy một tuần. Không phải chuyện đùa, các báo trong Nam có đăng rõ ràng như thế. Việc ấy mới càng ích lợi cho dân và là nhiệm vụ của phòng Canh nông phải làm.

    Phải, ăn quả nhớ kẻ trồng cây, vua Thần Nông tuy chẳng dạy dân ta cày cấy, nhưng đã dạy dân Tàu cày cấy, cố nhiên ngài là một người đáng được kỷ niệm đời đời, dầu không chắc ngài ấy có hay không có. Trong lúc dân chúng xô về Âu hoá, sự tế bái nhạt dần, có lẽ lâu nay dân cày Nam Kỳ đã bỏ vua Thần Nông không tế. Bởi thế, phòng Canh nông mới phải đứng đầu cho dân theo.

    Một điều mà xưa nay chưa ai trông thấy, là đã tế, tất phải mặc áo thụng xanh, đội mũ đuôi én, đi hia và ôm đài tiến tước, mấy ông quan Tây mà làm những việc ấy chắc là ngộ nghĩnh hơn người An Nam.

    Tiếc thay, lời đề nghị này của phòng Canh nông lại vì nhiều ông đi đạo, không muốn tế kiểu An Nam, người ta lại phải đổi làm một lễ cúng xoàng. Chưa rõ trong tuần cúng ấy ông nào đứng làm mệnh bái. Có lẽ là ông Chánh Canh nông.

    Ôi! Những việc ghi vào lịch sử!

    Xuân Trào
    Thời vụ, Số 11, ngày 15 tháng 3 năm 1938

     
     

  • Chương 3. Chung quanh cái đình

    TẠI SAO CÁI ĐÌNH CỦA TA
    LẠI BỊ DÙNG LÀM CHỖ ĂN UỐNG TỤ HỌP?

    Cái đình của ta…, lúc mới lập ra chỉ là chỗ để vua nghỉ và hành khách trú chân mà thôi, chớ không phải là nơi để cho dân quê tụ họp ăn uống và cúng tế quỷ thần như bây giờ…

    Trong một cái đình, từ địa vị ông đầu chóp đến địa vị thằng cuối chót, biết bao nhiêu là giai cấp, nghiễm nhiên như một cái sân trào vậy.

    Thâm ý của chế độ đình trung này là cốt thu hẹp tầm tư tưởng của dân quê lại. Vì theo đúng chế độ đấy, thì những người ăn trên ngồi trốc ở một làng, đối với dân làng cũng có quyền bính lộc vị như người ăn trên ngồi trốc của một nước. Điều đó đủ làm cho hạng người tư tưởng nông hẹp lấy làm vinh dự. Và cũng đủ khiến cho nhiều kẻ thấy cái vinh dự ấy mà suốt đời chỉ mơ mộng vào cái ngôi ăn chốn ngồi ở đình trung mà không nghĩ gì đến việc khác. Nói cho rõ nữa, cái chế độ ấy cốt làm cho dân quê chỉ biết có làng mà không biết có nước, chỉ tranh nhau quyền bính lộc vị ở trong làng mà không biết đến quyền bính lộc vị ở trong nước.

    Đó, cái thuật “ngu dân” là ở chỗ đó. Chỗ đó rất lợi cho việc cai trị mà rất hại cho tư cách người dân.

    Hiện nay ở các thôn quê, mỗi khi có việc công mà tụ họp ăn uống, giai cấp trong đình rất là phiền phức, ngoài các ngôi tiên chỉ, thứ chỉ ra, tả văn chưởng lý, chức sắc lão nhiêu ra, lại còn “bàn” này, “bàn” khác, có làng có đến sáu “bàn” ở dưới nữa, rồi mới đến hạng bạch đinh. Bổng lộc (như phần biếu, phần cỗ) theo thứ tự đó mà chia cấp quyền bính theo thứ tự đó mà thi hành. Ta cứ tưởng tượng ra thì thấy trật tự trong đình chẳng khác gì tầng bậc của một cái tháp, những kẻ cùng đinh tức là chân tháp vậy.

    Cái trật tự ấy nó làm cho hạng cùng đinh suốt đời chỉ phục tòng mà những kẻ hơi có kiến thức một chút thì chỉ cứ quanh quẩn tranh nhau cái danh dự ở làng mà không nghĩ đến việc gì nữa…

    Lộc Hà
    Đông Phương, Số 480, ngày 15 tháng 7 năm 1931
     

  • Chương 2. Chung quanh cái đình

    TỤC THỜ THÀNH HOÀNG CỦA CÁC LÀNG

    Nói đến tục thờ cúng tại đình của các làng quê, lẽ ra phải kể hết nguyên ủy của nó, nghĩa là phải xét xem tục ấy phát sinh từ đời nào, rồi sau biến cải ra sao, thì việc khảo cứu mới có giá trị…

    Hiện nay các làng nhà quê, nhất là nhà quê ở Bắc Kỳ, làng nào cũng có thờ cúng thành hoàng.

    Số ngạch thành hoàng của các làng thường không hạn định, hoặc một làng thờ năm bảy vị, hoặc năm bảy làng thờ chung một vị. Thành hoàng nghĩa là vua của một thành, tức là vua của một vùng vậy.

    Nơi thờ thành hoàng, mỗi làng đều có hai sở, một sở là đình, một sở là đền (có làng gọi là miếu). Ngày thường bài vị của thành hoàng vẫn để ở đền. Đến kỳ vào đám, dân làng mới sắm sửa hương án long đình, các thứ nghi trượng tới đền rước Thần bài về đình mà thờ trong một hạn năm mười ngày hay nửa tháng một tháng chi đó. Lúc ấy ở đình thường thường tế lễ chèo hát, đèn hương thắp suốt ngày đêm. Tới ngày rã đám, dân làng lại rước Thần bài sang đền.

    Tư cách thành hoàng của các làng không nhất định là hạng người nào: làng thì thờ những tôi trung gái liệt, làng thì thờ những quỷ lạ ma thiêng, lại có làng thờ cả thằng ăn trộm, đứa ăn mày nữa.

    Mỗi vị thành hoàng đều có một bản tiểu truyện, các làng gọi là thần tích hay sự tích. Bản thần tích ấy chép ông thành hoàng lúc còn sống thân thế ra sao, lúc chết đi thiêng liêng thế nào. Những thần tích đều có trình qua bộ Lễ, để xin sắc mịnh cho thành hoàng.

    Theo lệ của bộ Lễ, những vị thành hoàng nào đã có sự tích rành rọt, dân trong hạt đã nói là linh thiêng, thì đều được sắc mịnh tất cả.

    Lộc Hà
    Đông Phương, Số 476, ngày 8 tháng 7 năm 1931
     

  • Chương 1. Điều tra về phong tục các làng

    VỀ VIỆC ĐÌNH TRUNG Ở THÔN QUÊ

    Mấy lời nói đầu

    Chắc ai cũng biết thôn quê xứ ta hãy còn nhiều nơi nhân dân rất hủ lậu.

    Thế giới của họ thu gọn vào bốn dãy thành tre, ngoài cổng làng trời đất chi chi, tự họ chân chưa từng qua, mắt chưa từng thấy.

    Công việc của họ, tóm lại chỉ có ba mục: cúng tế, ăn uống và kiện cáo.

    Có ba mục đó, họ cùng nhau theo đuổi suốt năm này sang năm khác, từ đời nọ đến đời kia, mà vẫn không hề thay đổi.

    Biết bao người vì cúng tế mà phải bán vợ đợ con,
    biết bao người vì ăn uống mà phải mang công lĩnh nợ, biết bao người vì kiện cáo mà phải tan cửa nát nhà, hết cơ hết nghiệp, ấy là chưa kể những việc hại đến tính mệnh, hại đến chủng tộc.

    Cái tình trạng hủ lậu ở thôn quê, thật không thể mô tả cho cùng. Nói tóm một câu, hằng hà sa số những nơi hoa gạo đỏ, lá đa xanh, mà người ta vẫn kêu là xóm tử làng phần kia, hầu hết là những đám tối như đêm, đen như mực vậy.

    Cái đình ở thôn quê, cũng như cái sân đại trào của nước quân chủ vậy, trong mắt người quê, cái đình tức là chỗ tôn nghiêm vô thượng mà cũng là nơi hy vọng cuối cùng…

    Nói cho đúng, cái đình tức là chỗ gây ra cho dân quê thói mê tín, tục giai cấp và nhiều thảm trạng khác, như đánh nhau kiện nhau v.v…, nó lại là cái cạm làm cho dân quê suốt đời chỉ quanh quẩn ở xó làng mà không dám đi đâu nữa.

    Giữa lúc sinh hoạt khó khăn này, cuộc kinh tế cạnh tranh không để cho một dân tộc vừa khờ hớ vừa hoang phí được cơm no áo lành. Những cái hủ lậu ở thôn quê, nay đã đến ngày kíp phải bài trừ.

    Song, trước khi bài trừ những cái hủ lậu ấy, ta cần phải biết rõ chân tướng của nó ra sao.

    Vì vậy bản báo mở ra mục này.

    Chúng tôi muốn rằng, từ nay sẽ đem những tội ác của cái đình, nghĩa là những cái hủ lậu ở thôn quê kia, hàng ngày cống hiến cho bạn đọc và mong các ngài ai nấy lưu tâm nghiên cứu, tìm cách bài trừ những cái hủ lậu đó…

    Thục Điểu
    Đông Phương, Số 474, ngày 6 tháng 7 năm 1931
     

  • Chương XII. Vừa tế vừa ngủ

    Đám ma cụ Bá Tr.Th. chắc là lớn lắm. Hôm nọ, khi mà cụ ấy giở chứng, tưởng chừng không thể qua khỏi, ông Lý, con cụ, đã cho người nhà đi tậu sáu, bảy con trâu và nhờ họ mạc xay hộ hơn trăm thúng gạo tám thơm, ấy là chưa kể bò, lợn, gạo nếp.

    Thôi, còn phải nói! Trước kia nhà ấy đã có tiếng giàu. Từ năm vỡ đê Canh Dậu, đồng làng Tr.Th. được bồi mấy thước phù sa, những ruộng chiêm khô, mùa thối đều thành ra nhất đẳng điền, nhà cụ lại càng giàu bội. Giết bao nhiêu trâu, ăn bao nhiêu gạo mà chẳng được.

    Nghe đâu quan tài còn để trong nhà ba, bốn ngày nữa mới đưa ra đồng, nhưng đã bắt đầu ăn uống từ bữa trưa hôm nay. Người ta bảo rằng: Ông Lý sẽ mời nhiều nóc đến tế: ngày mai tư văn trong làng, ngày kia chức sắc hàng xã, ngày kìa thân hào hàng tổng; hàng tổng, hàng xã, mỗi nóc chỉ tế một tuần, còn làng thì tế ba tuần. Đám ấy chắc là
    vui lắm.

    Những người đi chợ kháo nhau như thế trong khi có tin cụ Bá Tr.Th. từ trần.

    Té ra thế gian lại có cái đám ma vui. Tôi rất muốn được tới nơi tìm thêm hạnh phúc cho hai con mắt. Chết vì với nhà ấy, tôi chỉ là người cùng tổng, không có họ hàng quen thuộc gì hết. Thế thì lấy danh nghĩa gì mà vào trong đám? Đóng vai đi xem thì không được rồi.

    Bỗng có thư của tang gia cậy người đưa lại. Thư bằng chữ Hán, đại ý nói rằng: Chúng tôi bất hiếu, thân phụ chúng tôi đã bỏ chúng tôi từ sáng hôm nay. Anh em chúng tôi vâng mệnh thân mẫu, định đến ngày… thì nộp lệ làng. Vậy tới ngày đó, xin rước các ngài tạm dời gót ngọc tới tệ xá, dạy bảo lễ nghi, thì kẻ còn, người mất đều được cảm ơn….

    Nhìn ở cuối thư, chỗ tin những người bị mời, thấy có tên rõ ràng. Thì ra ngoài đám thân hào dự tế, hiếu chủ còn mời tất cả những người có tiếng trong tổng, bất kỳ người quen hay người không quen.

    Thật là buồn ngủ gặp chiếu manh, may cho tôi quá. Đúng ngày hẹn, tới tang gia ngay từ sáng sớm, với một món đồ lễ, không bạc không hậu.

    Cách cổng nhà chủ độ vài chục bước, đã ngửi thấy mùi thịt trâu. Bước vào trong sân, mùi thịt trâu lại càng nồng nực, tôi đã lợm giọng, rức đầu, cực kỳ khó chịu, nhưng trót vào tới đó, không thể lùi ra, đành phải mạo hiểm tiến đến trước rạp.

    Khách khứa đã đông nghìn nghịt. Người ta mời tôi ngồi lên chiếc phản giữa rạp sau khi người đón đồ lễ đã dùng mâm đồng mà đệ đồ lễ của tôi vào bàn thờ.

    Hiếu chủ cúi mặt xuống đầu gậy tre, lom khom từ trong bậc cửa đi đến chỗ tôi. Ông ta gật đầu chào tôi và giơ ống tay áo sô bưng miệng mời tôi vào ngồi trong nhà. Đó là người ta đãi tôi vào bậc thượng khách. Nhưng tôi nhất định từ chối. Không phải là sự khiêm tốn, chỉ vì tôi cân nhắc rằng: Ở đây ngửi mùi thịt trâu tuy có nguy hiểm nhưng cũng còn hơn vào tận trong nhà mà sưởi bên cái hòm đựng người.

    Một bọn khách nữa vừa đến. Họ cũng bị mời vào ngồi một chiếu với tôi. Hết một tuần nước, người ta cất dọn đèn điếu, ấm chén để đặt vào đó một chai rượu và một mâm cỗ. Cái mâm mới giống cái phản bán thịt ở chợ làm sao, trong mâm chỉ có thịt trâu là thịt trâu, đĩa nào đĩa ấy đều đỏ hon hỏn. Ngó qua tôi đã hết vía, liền phải dịch ra chiếu ngoài. Một ông thay mặt hiếu chủ mời tôi trở lại chỗ cũ uống rượu.

    Nhưng tôi khất đến trưa, lấy cớ không quen ăn cơm sáng quá. Phải hai, ba lần trần tình một cách thiết tha người ta mới để cho tôi ngồi yên.

    Mâm cỗ liền bị đưa vào trong nhà với mấy ông khách mới đến.

    Bây giờ không thấy mùi thịt trâu nữa. Khứu giác của tôi đã bị cái kỳ hương ấy ám ảnh làm cho mất hẳn bản năng, nó không đủ sức để làm phận sự của nó. Thảo nào những nhà hàng mắm không hề ngửi thấy mùi mắm bao giờ.

    Lúc này mới kịp ngắm cảnh tượng nhà đám.

    Đám to thật!

    Khắp các cột nhà, cột rạp, cột nào cũng có câu đối giấy xanh. Ngoài rạp cũng như trong nhà, trướng xa tanh, câu đối cát bá che kín các bức vách và các bức thuận. Quan tài cụ Bá lù lù nằm ở gian nhà chính giữa. Hợp với hương án trong kê trước giường thờ và hương án ngoài kê giáp bực cửa, nó đã thành ra hình chữ công để chứa một lũ con cháu trắng lốp giống như một đàn bồ câu trắng.

    Trâu làng xong rồi! Các anh vào nhà sắp sửa chỗ tế! Mau lên! Kẻo chạ sắp tới bây giờ.

    Tiếng quát tháo thình lình nổi lên giục tôi phải quay đầu lại.

    Bao nhiêu bàn ghế ở gian giữa rạp đều phải khiêng đi nơi khác để nhường chỗ cho một cái nong và một đôi đẳng. Qua mấy phút nhốn nháo, lộn xộn, cái nong được an trí ngay ở phía trước thềm, đôi đẳng thì kê đối nhau ở ngoài cửa rạp. Đài rượu, be rượu, cây đèn, cây nến bày lên ngổn ngang.

    Ngoài cổng, bỗng có tiếng reo ầm ầm. Một bọn chừng hơn mười người xúm nhau khiêng con trâu thui vào rạp, rồi đặt nó nằm phủ phục vào trong chiếc nong dưới thềm. Con trâu đẹp lạ, thật giống như con voi ở các cửa miếu. Làng vào.

    Tất cả độ hơn chục ông, ai cũng như nấy, guốc gỗ, áo nâu, quần cháo lòng và tấm áo thụng trắng vắt ở trên vai lủng lẳng. Sau một cuộc chào mời rất cung kính của tang gia, cả bọn ngồi lên dãy phản bên kia.

    Các áo thụng trắng quăng đầy mặt chiếu. Tan tuần trầu nước, và vài ba lượt thuốc lào, người ta mới cắt công việc. Sau khi ai nấy đều khoác tấm áo thụng trắng vào mình, các ông quan viên chia làm hai đội: tám ông cứ ở bên ấy, còn tám ông nữa thì sang dãy phản bên này.

    Trước rạp nổi một hồi trống cái, tiếp đến tiếng kèn tò te, rồi đến tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng tam, tiếng nhị.

    Lâu lâu, các thứ nhạc khí đều im.

    Ở dãy bên tả, một ông quan viên đứng ra đầu phản, giơ tay áo thụng và gào một câu Củ soát tế vật thật dài, rồi lại ngồi xuống chỗ cũ để nói chuyện gẫu. Dàn sáo trống phách lại thấy vi veo.

    Một cái bàn đèn, hai cái bàn đèn, rồi ba cái bàn đèn, bốn cái bàn đèn. Bốn ông mặt xanh như cỏ cùng rước bốn cái bàn đèn ở nhà khách lên trước cửa rạp.

    Người ta làm gì thế này? Hay là cụ Bá sinh thời có làm bạn với ả Phù dung, cho nên bây giờ con cháu dùng nó để làm tế phẩm?

    Không! Những ông rước ban tĩnh đó vào khỏi cửa rạp liền chia làm hai cánh, họ đặt cái tĩnh của họ xuống phản và cùng móc túi lấy cỗ tổ tôm để vào cái đĩa.

    Con hương của thánh a phiến khêu bấc thắp đèn, xin phép đám người mặc thụng trắng, rồi họ lấy gối nằm nghiêng xuống đó, diễn trò Triệu Tử múa đao.

    Một ông đại biểu của tang gia tất tả chạy đến mời chạ thưởng thức cái thú phun mây thở khói và lập tại mỗi dãy phản một bàn tổ tôm.

    Tôi cũng dự một chân trong cuộc tổ tôm ấy.

    Cái này thông lắm. Bởi vì, coi cái bộ điệu kéo dài của đám quan viên, cũng biết cuộc tế chắc còn lâu lắm. Nếu không có một trò gì tiêu khiển thì khó mà ngồi xem cho được từ đầu đến chót.

    Đàn, sáo, kèn, nhị vẫn inh ỏi. Mùi thuốc phiện bay ra ngào ngạt. Người ta mời ông Đông tán nằm xuống nằm cả áo thụng hút luôn hai điếu. Ông ấy hãm một chén nước nóng, thở hết khói thuốc, rồi mới đứng dậy và ngân giọng xướng:

    Tế chủ dĩ hạ tựu vị.

    Hiếu chủ lom khom chống chiếc gậy tre đem đám đàn bà trẻ con bước qua bậc cửa.

    Ông Đông tán lại ngồi vào cạnh bàn đèn.

    Đàn, sáo, kèn, nhị vẫn réo rắt xuống chìm lên bổng. Cuộc tổ tôm đã hết năm ván, hiếu chủ nhúc nhích đi hết cái thềm và bước xuống sân. Rồi hết một hội tổ tôm ông ấy mới tới bãi rơm trải ở giữa rạp là chỗ của tế chủ. Ông Đông tán lại đứng lên xướng Cử ai.

    Những tiếng Cha ơi của đàn bà nhịp nhàng theo nhau hòa với điệu của kèn sáo. Khi ông Đông tán xướng đến Ai thì bàn tổ tôm đã đánh đến ván thứ ba.

    Các ông quan viên ngồi mãi cũng buồn, người thì đứng dậy tiểu tiện, kẻ thì ra đồng đại tiện, buổi trưa, tang gia bưng mấy mâm rượu ra đó mời chạ vừa uống rượu vừa tế. Bây giờ không còn cách từ chối, tôi phải uống rượu với bọn khách tổ tôm.

    Hết tuần rượu thứ nhất, ông Đông tán xướng một tiếng Bái rồi lại ngồi xuống uống rượu. Theo lời xướng, hiếu chủ phục ở trước hương án.

    Mâm rượu gần tàn, ông Tán đứng lên xướng hàng.

    Mãi không thấy hiếu chủ ngẩng lên, tôi tưởng ông ấy cố làm như thế.

    Một lát, trước hương án có tiếng ngáy khè khè.

    Té ra tế chủ đương giấc.

    Ngô Tất Tố
    Báo Con Ong, Số 34, ngày 24 tháng 1 năm 1940

    Hết chương 12. 

  • Chương XI. Các cụ chỉ chung nhau có bát nước mắm

    Nhìn theo sổ sách, ai cũng phải cho C.L. là làng văn vật. Bởi vì nó là kinh đô của vua An Dương, trước mấy nghìn năm, hẳn đã từng chứa cái phồn hoa của áo xiêm, cung điện. Trong nước Việt Nam, làng ấy khai hóa rất sớm. Với bấy nhiêu năm tiến hóa, tự nhiên nó phải văn minh hơn những thôn xã mới lập sau này.

    Có đến mới biết. Sự thật ít khi đi với tưởng tượng.

    Hình như đã bị một dải thành đất giam hãm trong vành trôn ốc quanh co, con ốc cổ ấy tuy có sống lâu, nhưng vẫn không thể nhích đi bước nào.

    Nó chỉ hơn người cái lớn. Tính cả nam, phụ, lão, ấu, làng ấy có tới trên một vạn người. Riêng về số người phải đóng thuế thân, cũng đã đến gần ba nghìn.

    Ba nghìn người chung nhau một cái đặc tính. Các ngài về tỉnh Phúc An, bất kỳ hàng cơm hay quán nước, hễ thấy có kẻ ăn tục nói khoác, thì cứ hỏi họ có phải là người C.L. hay không. Nếu họ đáp không, ấy là họ nói dối.

    Đào tạo cho họ nên đặc tính ấy, một phần do ngôi chợ Sa, cái chợ rất lớn của tỉnh Phúc An. Hàng hóa nhiều nhất trong chợ là lợn. Cứ đến phiên chợ, lợn lớn, lợn nhỏ đo nhau nằm một dãy dài. Vì thế, trong cố đô của nhà Thục, sản xuất rất nhiều lái lợn. Họ đã tổ chức thành một nhóm hội, hội viên chừng cũng khá đông. Với một vành khăn tai chó ngất ngưởng trên bộ trán da đồng, hàng phiên, các hội viên ấy thi nhau xưng hùng bá ở dãy hàng lợn. Bất cứ kẻ mua, người bán, nếu không qua tay họ không xong.

    Nghề ấy rất có sức mạnh, nó đã làm cho cả làng biến thành quân thù của văn học. Họ cũng học đấy, song mà không cần phát đạt. Trong cái thời đại Hán học dằng dặc gần một nghìn năm, họ chỉ góp với các xứ một ông Tú tài. Từ ngày Tây sang đến giờ, chưa có người nào thi đậu Cao đẳng tiểu học.

    Nhưng mà người họ rất thọ.

    Các làng Bắc Kỳ, phần nhiều có lệ năm mươi nhăm tuổi thì được lên lão. Những ông gọi là lão nhiêu đáng lẽ phải đóng thuế thân thêm sáu năm nữa mới được miễn trừ, song vì tục dân trọng lão đã quen, cho nên dân phải vui lòng chia nhau gánh đậy cho các lão ấy. Làng này hơi khác. Hạng lão của họ già hơn hạng lão các nơi năm tuổi, bởi vì cái tuổi lên lão của họ phải đúng sáu mươi. Vậy mà số lão ở đây mới đông làm sao! Có thể bằng một làng nhỏ.

    Chợ Sa họp vào ngày sáu, ngày một. Trong những ngày ấy, khoảng chín, mười giờ, đứng ở cổng chợ phía bắc, người ta sẽ thấy những ông tóc bạc, râu dài, lộc chộc chống chiếc gậy trúc kéo vào trong chợ từng lũ. Rồi đến buổi chiều, cũng ở chỗ ấy, từng đoàn gậy trúc lại đưa những ông cụ ấy trở vào cổng làng với những bộ mặt đỏ như mặt trời và những hơi thở sặc sụa mùi rượu.

    Các cụ no say về lợn. Bao nhiêu con lợn đem đến bán ở chợ Sa đều phải nộp thuế cho các cụ cả.

    Giữa chợ có một cái quán khá rộng, người ta thường gọi là cầu các cụ. Cứ đến phiên chợ, các cụ ăn cơm thật sớm, rồi rủ nhau ra ngồi tại quán đó, để ra lệnh cho tên mõ chợ đi lùng trong dãy hàng lợn.

    Những người đi bán lợn con thường có một bộ đồ dùng đặc biệt. Họ nhốt lợn vào rọ, họ đựng rọ bằng chiếc lồng to, rồi họ dùng cây đòn tre khiêng cái lồng ấy vào chợ.

    Lồng lợn của họ vừa đặt xuống đất, mõ chợ đã đến thu mất cây đòn để đem về quán trình với các cụ.

    Bán hết lợn, muốn khiêng lồng về, người ta phải đến quán ấy mà chuộc lấy cây đòn ấy. Tiền chuộc tùy ý các cụ định liệu, ít nhất cũng phải hai hào. Đó là thuế một lồng lợn.

    Một cái thị trường rộng lớn như ngôi chợ Sa, mỗi phiên phải có hàng trăm lồng lợn. Bởi vì lợn của mấy huyện gần đấy đều phải bán ở chợ ấy. Cho nên, riêng số thuế lợn, mỗi ngày đã có vài chục đồng. Trừ ra một phần để dành, món tiền ấy sẽ làm cho các cụ no say trong ngày hôm ấy. Vì vậy, các cụ mong đến phiên chợ, chẳng khác con gái mong đến ngày cưới. Mưa bão chết cò, cũng cố dò đi, chỉ có khi nào ốm nặng mới chịu ở nhà.

    Trong lúc ăn uống, các cụ không thèm dùng đến đầy tớ, nhà bếp. Đã có cụ dưới đi phục dịch cụ trên.

    Thì ra cái tuổi lục tuần, ở các làng khác là tuổi cơm bưng, nước rót, con cháu dưới gối sum vầy, nhưng ở làng này, vẫn còn là tuổi chỉ để năm ngày một lần ra chợ thái thịt, đun bếp, xách bát, bưng mâm cho các người khác.

    Đấy là nạn hàng phiên. Cái nạn hàng năm còn khổ
    hơn nữa.

    Một làng C.L. tất cả trên sáu trăm cụ. Mỗi năm một lần, cứ đến hồi cuối tháng chạp, mấy trăm cụ đó họp nhau đánh chén một bữa.

    Chi phí về bữa chén đó đã có số tiền thuế lợn để dành trong hàng phiên. Các cụ chỉ cần người chứa.

    Những ai phải đóng vai ấy?

    Thì lại mấy cụ ngồi dưới.

    Họ kêu là chức các cụ.

    Tôi đã bị một phen sặc cười khi nghe một cụ làng ấy thuật lại chi tiết của công cuộc đó.

    Cái đặc sắc của cỗ việc làng làng này chỉ là thịt chém mấu nứa.

    Các ngài nếu chưa ăn cỗ nhà quê, chắc chưa biết thứ thịt ấy. Nó là những miếng thịt luộc chặt ra, lớn bằng nắm tay đứa trẻ lên năm trùng trục như mấu cây nứa, người ta đựng bằng lá chuối và để lù lù giữa mâm, cỗ của làng này ăn uống tại đình, phần nhiều chỉ có món đó. Nhưng đến bữa tiệc tất niên của các bô lão thì lại không dùng kiểu ấy, các cụ ăn lối nửa chợ nửa quê.

    Đã có điều lệ nhất định, mỗi mâm phải tám thứ nấu, tám thứ giò nem, chả, lòng, thịt, tất cả cũng tám thứ nữa. Cộng trong một mâm, lớn, nhỏ hai mươi bốn thứ.

    Cứ thế cũng đủ chết người chứa rồi, vì không có hạng mâm nào đựng được hết bấy nhiêu thứ. Nhưng nào có thế mà thôi, nó còn gấp lên nhiều lần.

    Theo tục làng ấy, mỗi cỗ đều phải đóng sáu. Sáu người ngồi chung một cỗ, tránh sao cho khỏi cái tệ ăn tham? Với hạng trai trẻ, người ta có thể dùng cách bẻ đũa để trừng phạt những kẻ gắp nhiều, nhưng các cụ là bực đạo mạo, không thể làm theo kiểu ấy. Chắc hẳn ngày xưa đã có cụ nào nghĩ đến chỗ đó, nên mới đặt ra lệ ăn riêng.

    Trong một mâm, bất cứ món gì đều phải đủ con số sáu. Sáu giò, sáu nem, sáu bong bóng, sáu mắm mực. Cái gì cũng sáu tất cả.

    Các ngài hãy thử tưởng tượng hình dạng mỗi mâm ấy ra sao! Sáu lần hai bốn, thành ra một trăm bốn tư. Một trăm bốn tư bát, đĩa xếp vào một đống. Kém gì một cái gò nhỏ. Cố nhiên trong thế gian này, không có một thứ mâm nào bày được nhiều đĩa bát. Người ta phải đặt nó vào chiếc chiếu. Thế rồi, khi ăn, phần của ai thì người ấy gắp, các cụ chỉ chung nhau một bát nước mắm.

    Những cái dạ dày già nua chứa sao hết bấy nhiêu món ăn? Ăn không hết các cụ lấy phần. Mỗi phần ít ra cũng đầy một rổ.

    Chỉ khổ các cụ nhà chứa. Nhà nào sắm cho đủ bấy nhiêu đĩa bát. Trước ngày phải nhờ họ hàng đi mượn, sau ngày chứa lại cậy họ hàng đi trả. Bao nhiêu con lợn chết theo với cuộc chứa đó. Nhiều người làm ăn gom góp từ trẻ đến già, chỉ chứa một bữa là hết.

    Ngô Tất Tố
    Báo Con Ong, Số 33, ngày 17 tháng 1 năm 1940

    Để giúp bạn hiểu rõ hơn về nội dung, sau đây là phần chú thích của chương 11. Mời bạn nghe cùng BÚC CÁC:

    Chú thích 1: Gánh đậy: Chịu phần trả bù lại cho đủ.

    Hết chương 11.