Author: editor editor

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG VI: ƯỚC VỌNG LÀM NGƯỜI

    CHƯƠNG VI: ƯỚC VỌNG LÀM NGƯỜI

    Sau lần nghe bà ấy giãi bày, chị em chúng cũng suy nghĩ nhiều. Chúng bắt đầu nhìn mọi việc theo hướng tò mò, tìm hiểu chứ không còn thờ ơ hay giữ định kiến như trước. Chúng lờ mờ nhận thấy nhiều người không thật vui, thật hạnh phúc như những gì họ thể hiện ra với mọi người. Có cô trông xinh lắm, mặt hoa da phấn, ăn diện ngất trời. Nhưng nghe qua lời của mấy ông thầy khấn thuê thì cô ấy cũng bất hạnh lắm lắm. Dù xinh đẹp, giầu có nhưng cô ấy cũng không hạnh phúc khi chồng suốt ngày chơi bời tìm hoa, ghẹo nguyệt. Cô ấy đã đi nhiều nơi, đến nhiều cửa để lễ lạt xin cắt bớt nhân duyên đào hoa cho chồng nhưng vẫn chẳng ăn thua. Nhìn cô ấy sụt sùi, kể lể với mấy thầy cúng thuê chúng thấy cũng thương. Đẹp thế, xinh thế, sang thế mà xem ra cũng không mấy vui vẻ. Chúng đem chuyện của cô ấy kể với bà ma già. Bà ấy cười bảo chuyện như gia đình cô ấy cũng không phải hiếm. Cô ấy còn chưa bị phát điên, chưa tìm đến cái chết là vẫn còn bản lĩnh hơn một số người. Bà chỉ cho chúng một hồn ma xanh lướt, lúc nào cũng co ro, cúm rúm đầy sợ hãi. Hồn ma đó lúc nào xuất hiện cũng chỉ thấy khóc, khóc và khóc. Cô ta khóc lúc ngồi một mình trên ghế khuất. Cô ta khóc lúc quỳ rạp làm lễ. Cô ta khóc khi nhìn mọi người và thỉnh thoảng lại hét lên thảm thiết rồi biến mất. Bà ma già bảo đó là kiếp nạn mà cô ấy đã chọn. Nghe đâu vì thất tình, vì bị bạn trai bỏ mà cô ấy đã tự tử. Theo kinh nhà Phật những người tự huỷ đi tấm thân cha mẹ đã ban cho là tội nặng lắm. Họ sẽ bị đày đoạ. Sẽ bị quỷ sứ tra tấn hàng ngày vào đúng khung giờ họ đã quyên sinh. Những người như vậy cũng không bao giờ được siêu thoát lên lại làm người. Họ cứ phải sống trong cái tội lỗi mà họ đã chọn.

    Chị em chúng đã bàng hoàng cả một buổi chiều khi nghe bà ma già kể về hồn ma xanh lướt đó. Hoá ra, có những hồn ma còn đau khổ hơn chị em chúng gấp vạn lần. Họ đã chết mà vẫn không thoát khỏi bị hành hạ, kìm kẹp. Chắc hồn ma ấy cũng không hình dung ra kết cục khi lựa chọn cái chết như vậy. Hoá ra ngoài đói, ngoài rét, ngoài không được bố mẹ, gia đình yêu thương như chị em chúng thì còn có những nỗi đau khác. Mà nỗi đau này xem ra còn khủng khiếp hơn nỗi đau của chị em chúng. Đau đớn thế nào mà lại tự tìm đến cái chết, tự huỷ hoại cả bản thân mình? Bà ma già nói đó là tội bất hiếu. Bất hiếu với cha mẹ đã mang nặng đẻ đau yêu thương, chăm sóc mình. Bất công với chính mình khi bao năm trời tu luyện mới được đầu thai làm người mà lại tự huỷ đi cái thành quả đó. Ngay như chuyện của bà ma già. Bà ấy nói đã từng đau đớn vì bệnh tật chỉ muốn chết, muốn giải thoát khỏi những nỗi đau đó. Nhưng bà ấy không dám. Bà ấy vẫn phải gồng mình lên chịu đựng nỗi đau của bệnh tật và xem đó như một kiếp nạn mà mình phải trả, phải tự đi cho hết đoạn đường khổ ải đó. Bà ấy biết việc từ bỏ mạng sống sẽ phải trả giá đắt thế nào sau khi chết. Bà ấy còn nói làm như vậy sẽ không được lên lại làm người. 

    Lên lại làm người ư? Đời người có gì vui, có gì hay mà bà ma già rồi cả người chồng đã chết của bà lão ấy đều nói đến nó một cách đầy mong ước như thế. Chính ông ấy đã bảo chúng: 

    – Đi đi, đi mà giải thoát rồi đầu thai lại làm người. Các ngươi chưa được hưởng những lạc thú và niềm vui của kiếp người quả là đáng phí. Hãy cứ đi, cứ tu và trở lại.

    Vì muốn biết, muốn hiểu thêm nhiều chuyện mà chị em chúng cứ bám riết lấy bà ma già. Chúng lẽo đẽo đi theo bà ngồi nghe kinh, nghe thầy giảng pháp. Chúng chờ đợi bà ấy hành lễ cả buổi chỉ mong được giải đáp vài điều mà chúng thắc mắc. 

    Một lần chúng hỏi bà:

    – Bà ơi, tại sao bà lại không giận các con khi họ đưa bà lên chùa mà bà không muốn?

    Bà ma già cười:

    – Ta không trách vì chúng vô minh. Chúng không biết là mỗi người mỗi sở thích. Chúng cứ nghĩ làm thế là rất tốt cho ta. Nhưng ở đời, nhiều người cũng nghĩ như chúng lắm. Họ cứ nghĩ họ đang làm điều tốt nhất cho người khác nhưng thật ra lại không phải vậy. Đôi khi, họ làm điều đó chỉ để thoả mãn mong muốn của họ thôi.

    Con ma chị:

    – Phức tạp quá bà nhỉ? Tại sao lại cứ làm những điều mà người khác không thích thế? Kệ họ có hơn không?

    Bà ma già cười lớn:

    – Cũng không hoàn toàn như cháu nghĩ đâu. Có những điều tuy người khác không muốn nhưng vẫn phải làm ví dụ như việc cha mẹ bắt con phải học dù chúng không thích học, chỉ thích chơi. Hay có người cha mẹ, bạn bè ngăn cản đến cùng không cho yêu vì biết đấy là người xấu, lăng nhăng nhưng cái người đang yêu lại không nghe, lại oán trách những người can ngăn họ.

    Con ma em thỏ thẻ:

    – Cháu chả hiểu gì cả. Sao lại rắc rối thế? Loạn cả lên thế thì sao mọi người vẫn thích được lên làm người hả bà?

    Bà ma già mơ màng:

    – Ôi đời người có những cái thú vị mà các cháu chưa biết được đâu. Đó là khi mắt ta, miệng ta, vị giác của ta được tận hưởng trọn vẹn một món ăn mà ta yêu thích. Là khi ta được đi đến một nơi mà cảnh vật khiến ta phải chìm đắm trong nó và thấy mình thật bé nhỏ trước vũ trụ, trước bao la đất trời. Rồi khi ta đọc được một cuốn truyện hay khiến ta phải thay đổi, phải suy nghĩ lại những gì mình đã nghĩ, đã làm. Lại có những người khi gặp khiến ta rung động, muốn yêu thương, gắn bó trọn cả một đời. Đó là những cái lớn, ngoài ra còn rất nhiều những cái nhỏ bé, thú vị như khi ta đắm chìm trong một bản nhạc hay, một giọng ngâm thơ trầm ấm, một điệu khiêu vũ sôi động hay lả lướt. Rồi khi trời chuyển mùa ta bỗng thấy hạnh phúc khi đón nhận đợt gió heo may đầu tiên. Hay những lúc bâng khuâng nghe một tiếng chuông chùa, nhìn một chiếc lá vàng rơi… Ôi ta thấy nhớ tất cả. Ta thèm được cảm nhận lại từng hương vị của đời người. 

    Nói rồi bà ma già ngẩng mặt, nhắm mắt, gương mặt tràn đầy hạnh phúc. Bà cứ im lặng như thế một lúc lâu. Có lẽ bà ấy đang nhớ lại những ngày còn sống. Chúng bỗng như lây cái thèm được làm người của bà. Chúng cũng mong muốn được nếm trải những thứ thú vị mà bà ấy mô tả. Cuộc đời con người vui thú đến thế ư? Có lẽ là thế thật. Cứ nhìn con bé cháu bà ấy cũng như đám bạn bè nó và cả đám cư dân trong con ngõ ấy. Ở họ luôn toả ra niềm vui sống, sự hạnh phúc, vui vẻ với cuộc đời. Các bài kinh, những câu chuyện khuyến đạo, răn đời treo bên hông tường nhà chùa đều hướng con người ta đến việc thiện. Và một trong những phần thưởng của việc tu tập ấy là thoát khỏi ngạ quỷ, thoát khỏi kiếp làm súc vật và được lên lại làm người. Đời người theo như bà ấy nhớ lại và mô tả thì có rất nhiều khoảnh khắc vui sướng và tỉnh ngộ. Những hồn ma của mấy kẻ bặm trợn đang trú ngụ tại chùa cũng hay kể về những cảm giác sung sướng khi đu bám theo mấy thầy khấn thuê đi ăn, đi chơi, đi hưởng lạc thú. Nhưng nếu đời người vui đến thế thì tại sao hồn ma xanh lướt lại khổ sở tìm cách rời bỏ nó. Rồi cả cô gái xinh đẹp khóc nức nở khi nhờ mấy thầy khấn thuê cách hoá giải nghiệp đào hoa của chồng. Cả bà ma già nữa. Dù luôn nhớ về cuộc sống, về kiếp làm người nhưng bà ấy cũng có lúc thở than, ngầm trách người thân không hiểu, không làm theo ý mình đấy thôi. Ôi đúng là rối não. Càng dấn sâu vào tìm hiểu chị em chúng càng thấy mông lung. Có lẽ nào đúng như bà ấy nói. Ngày còn rộng, tháng còn dài chị em chúng cứ phải từ từ mà suy ngẫm, mà tìm hiểu. 

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG V: BUÔNG BỎ THÙ HẬN

    CHƯƠNG V: BUÔNG BỎ THÙ HẬN

    Hai chị em con ma nhỏ vẫn ngồi vắt vẻo trên đầu đao cong cong của mái đình xây thêm. Đình này nghe nói nhà chùa đã cho xây thêm trên khoảng đất trống bên hông chùa. Vừa có thêm điểm để thờ cúng, lễ bái vừa giúp chùa đỡ trống trải. Vì xây sau nên đình trông khá mới dù tốp thợ đã sử dụng mầu ngói, mầu sơn thật trầm cho ăn nhập phần nào với ngôi chùa đã xây từ lâu. Từ chỗ ngồi này, chúng dễ dàng đọc được các bức tranh được treo bên bức tường đầu hồi của nhà chùa. Những bài học răn dạy, những hình phạt dành cho kẻ phạm lỗi làm chúng có chút chờn chợn. Vốn chữ tuy ít ỏi nhưng cũng đủ cho chúng đọc hiểu nội dung các bức tranh. Đang đánh vần từng từ thì một bà ma già gọi chúng:

    – Ngồi vắt vẻo thế làm gì. Xuống đây với bà nào!

    Hai chị em chúng nhẩy xuống. Bà ma già kéo chúng ngồi xuống bên thềm rồi bảo:

    – Bà thấy hai chị em chúng mày hay dừng lại nơi mấy bức tranh. Chúng mày có hiểu nội dung không?

    – Bọn cháu đánh vần từng từ thì cũng hiểu nhưng hơi lâu bà ạ – Con ma chị thật thà.

    Bà ma già cười xoà:

    – Ừ, cứ từ từ mà tìm hiểu. Cái chúng ta có bây giờ chả có gì ngoài thời gian cả.

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Bà ơi, bà ở đây lâu chưa? Sao bà không ở nhà mà lại ở đây?

    Bà ma già lặng đi: 

    – Ta cũng muốn ở nhà nhưng con cháu nó thích mang ta lên chùa. Những ngày đầu ta buồn lắm. Ta nhớ nhà, nhớ con cháu. Nhưng bây giờ thì ta quen rồi. Chỉ thi thoảng ngày giỗ, ngày lễ chúng lên mời thì ta mới về thôi. 

    – Thế là họ không thích cho bà ở nhà ạ? Con ma em tò mò.

    Bà ma già cười hiền: 

    – Không phải là chúng không thích mà chúng không nghĩ sâu xa thôi. Chúng thấy mọi người đưa cha mẹ ông bà đã mất lên chùa thì chúng làm theo. Chúng không biết rằng mỗi người mỗi sở thích khác nhau. Ta thích ở cùng người thân hơn là lên chùa nhưng chúng sợ không làm thế thì thiên hạ lại chê cười nên chúng cứ làm theo số đông.

    – Thế nghĩa là họ đưa bà lên đây là vì họ chứ không phải vì bà đúng không ạ? Con ma chị dò hỏi.

    – Đúng vậy! Bà ma già xác nhận.

    – Thế sao bà không nói với họ là bà không thích lên chùa ạ? Con ma em ngập ngừng.

    Bà ma già thở dài: 

    – Ta có nói với chúng vài lần khi còn đang bệnh nặng. Ta nói khi khoẻ mẹ hay thích ra công viên, thích nhẩy múa, đàn hát với bạn bè. Mẹ thích không khí vui tươi, náo nhiệt. Mẹ không thích sự vắng vẻ, cô tịch của nhà chùa. Sau này mẹ mất thì đừng đưa mẹ lên chùa, cứ để mẹ ở nhà thôi.

    – Thế nhưng họ không nghe và vẫn đưa bà lên chùa ạ? Con ma em lại hỏi.

    Bà ma già cười buồn: 

    – Ta nghĩ chắc chúng chả nhớ những gì ta đã nói. Chúng cứ nghĩ đưa ta lên chùa như mọi người là báo hiếu, là tốt cho ta. 

    – Thế bà có ghét bọn họ vì đã làm trái ý của bà không? Con ma chị lại hỏi.

    Bà ma già cười buồn: 

    – Lúc đầu thì ta có giận, có trách chúng vô tâm, chúng làm trái lời ta. Nhưng sau ở đây lâu, nghe kinh nhiều ta cũng tha thứ cho chúng. Có thể chúng đã quá mệt mỏi khi phải chăm sóc một người mẹ ốm đau lâu năm như ta. Có thể chúng cũng muốn giải thoát cho chính chúng.

    Con ma chị giật mình. Giải thoát ư? Nó tưởng chỉ có đám âm binh và những hồn ma bị nhốt trong khu vườn mới cần giải thoát. Sao bà ấy lại nói các con mình muốn giải thoát. Ngẫm nghĩ một hồi, nó dò hỏi:

    – Bà ơi, sao bà lại nói các con đưa bà lên đây là vì họ muốn giải thoát ạ?

    Bà ma già bâng quơ: 

    – Các cháu còn bé quá chưa hiểu biết nhiều đâu. Dù là ông bà, cha mẹ hay vợ chồng khi mà ốm đau lâu quá thì người chăm cũng đều mệt mỏi. Mình chết khi đó không chỉ là giải thoát cho mình mà là giải thoát cả cho người chăm mình nữa. Chả có ai muốn chăm người ốm lâu trừ khi đó là cha mẹ chăm con. Các cụ ngày xưa nói cấm có sai mà. Nước mắt chảy xuôi. Chỉ có cha mẹ là yêu thương con vô bờ bến, vô điều kiện mà thôi. 

    Con ma chị giãy nảy:

    – Không phải đâu bà ạ. Chúng cháu cũng là trẻ con nhưng ngay cả khi còn sống lẫn khi đã mất bố mẹ cũng có yêu chúng cháu đâu.

    Bà ma già trầm ngâm:

    – Vậy là các cháu thuộc số ít trẻ con không may mắn rồi. Ta đã sống trên đời gần bảy chục năm. Ta đã chứng kiến nhiều bố mẹ bỏ công, bỏ việc bán nhà, bán cửa để chăm sóc, chạy chữa cho con. Nhưng ta ít thấy đứa con nào chịu bán nhà để cứu cha cứu mẹ khi bệnh nặng cả. Chúng cứ nghĩ đó là số giời, là thuận tự nhiên. Nhưng khi con chúng bị bệnh thì chúng lại luôn muốn cãi lại mệnh số, cãi lại mệnh trời để giữ mãi các con bên mình.

    Hai chị em con ma nhỏ lặng thinh. Những gì bà ma già nói quá lạ lẫm đối với chúng. Bà ý nói trẻ con được yêu thương, được ưu tiên hơn hết thảy. Nhưng hai chị em chúng đã thấy điều ngược lại. Chúng đã bị thờ ơ, bị ghẻ lạnh ngay trong chính căn nhà của mình. Con ma chị nhìn bà ma già rồi ngập ngừng:

    – Vậy bà có hận các con của bà không?

    Bà ma già lắc đầu:

    – Không, ta từng khó chịu nhưng ta không hận chúng. Chúng đối với ta cũng không xấu hơn con nhà người khác đối với cha mẹ. Chúng cũng chăm sóc ta khi ta bệnh nặng. Chỉ có điều trong cán cân tình cảm thì ta mãi không thể quan trọng hơn con của chúng mà thôi.

    – Sao bà không nói điều làm bà khó chịu với các con của bà? Con ma em ngập ngừng.

    Bà ma già cười buồn:

    – Nói thì giải quyết được gì chứ? Ai cũng sống như vậy mà. Ngay cả ta cũng yêu thương con của ta hơn bố mẹ ta đấy thôi. Tình yêu với con cái là bản năng không ai phải dạy. Ngay đến các con vật vô tri cũng yêu thương và bảo vệ con mình. Nhưng tình yêu với cha mẹ thì lại cần đến lý trí, cần đến trách nhiệm mới có thể chu toàn được. Ta thấy có người nói tình yêu cha mẹ đối với con cái là thiên tính tức bẩm sinh ra đã vậy, không phải cưỡng cầu, không phải cố gắng. Còn tình yêu của con cái đối với cha mẹ thì là lý tính tức cần đến trí tuệ, nhận thức và cả sự cố gắng, trách nhiệm mới có thể chu toàn. 

    Thấy hai chị em con ma bé ngẩn ngơ nhìn mình, bà cười xoà: 

    – Hai chị em cháu còn bé quá chưa hiểu được cái đạo lý ấy đâu. Đến như ta, phải sau vài năm ốm bệnh thì mới ngộ ra nhiều chuyện. Ngộ ra để hiểu thôi chứ cũng không hờn trách, oán hận gì. Nó là nợ đồng lần cả thôi mà. 

    Một đám các bà áo váy loè loẹt ùa vào chùa. Họ mang theo nào hoa, nào quả cả những gói bánh kẹo nhiều mầu sắc. Bà ma già nhận ra người quen liền vội vã chạy lại. Bà ý cứ lượn lờ quanh mấy bà bạn vẻ vui mừng rạng rỡ. Con ma chị trầm ngâm. Nó cứ nghĩ chỉ có chị em nó bất hạnh. Nhưng xem ra nhiều người cũng có những nỗi buồn riêng. Ngay cả bà ma già thường ngày trông thanh thản, nhẹ nhàng là thế mà cũng có những điều không vừa ý. Nhiều điều bà ấy nói chị em chúng không hiểu. Sao lại không ghét, không hận những người đã làm mình giận, mình buồn chứ? Chúng phải hỏi kỹ lại bà ma già chuyện này mới được. Nhưng giờ bà ý đang vui vẻ, đang xoắn xuýt bên mấy bà có tuổi lại ăn mặc loè loẹt. Bà ý cứ lượn quanh người này, ngó mặt người khác với vẻ vui mừng, rạng rỡ nhưng nào có ai nhìn thấy bà ấy đâu. Bà ấy chỉ là cái bóng mờ không thể chạm cũng không thể thấy dù đã cố chen, cố đứng sát vào các bà bạn. Giữa họ giờ đã là hai cảnh giới, là âm dương cách biệt. Không phải ai, không phải người nào cũng có thể cảm nhận, dù là mơ hồ cái ranh giới ấy.

    Con ma bé giật tay con ma chị và đánh ánh mắt về phía cổng chùa. Bà già ấy lại đang chậm rãi bước qua cánh cửa phụ. Thường mọi người hay đi cái cửa này dù vào những dịp mùng một, ngày rằm hay khi đông khách nhà chùa vẫn mở cả hai cánh cổng chính. Nhưng hôm nay bà ấy có vẻ lạ lắm. Không còn nét bình thản như thường thấy. Bà ấy cứ đi loanh quanh rồi lại nhìn quanh nhìn quẩn. Hết ngó lên ngọn cây cao lại nhìn chăm chăm vào các phù điêu, các bức tượng quanh chùa. Có vẻ như bà ấy đang muốn tìm kiếm ai đó. Chắc là tìm chị em chúng. Hôm trước bà ấy đã đánh tiếng bảo chúng đừng làm hại con bé cháu. Chắc bà ấy cũng đã đoán ra rồi. Những người như bà ấy luôn rất nhạy khi cảm nhận các luồng âm khí. Hai chị em chúng cũng muốn nghe xem bà ấy muốn gì.

    Cả hai chị em chúng từ từ tiến lại. Chúng đến trước mặt rồi lại gần bà ấy. Chúng cảm nhận bà ấy thoáng rùng mình. Chắc luồng âm khí từ chị em chúng đã khiến bà ấy thấy lạnh. Bà ấy chọn một chiếc ghế đá khuất sau cái cây to rồi từ từ ngồi xuống. Trong chùa có khá nhiều những chiếc ghế như vậy. Chúng là của các doanh nghiệp, các cửa hàng lớn đem cung tiến vào chùa. Hai chị em chúng cùng ngồi xuống hai bên cạnh bà. Chúng cũng muốn nghe xem bà ấy muốn gì?

    – Vậy là hai chị em ngươi đang ở trong ngôi chùa này – Bà ấy nhỏ giọng. Ta cũng đã lờ mờ đoán ra khi gần đây luôn cảm nhận được cái cảm giác của ngày xưa ấy. Cái cảm giác sống lẫn với người âm trong từng khoảnh khắc khi ta còn bé, khi ở trong khu vườn của ông ngoại. Ta không bao giờ quên được cảm giác ấy. Tám mươi năm qua, ta ngỡ đã quên đi tất cả. Nhưng thật ra, không có gì bị lãng quên cả. Ngay khi cái cảm giác ấy trở về, ta đã cảm nhận được. 

    Bà ấy dừng một chút rồi tiếp tục:

    – Tại sao chị em ngươi không nghe lời sư thầy, không tỉnh ngộ mà theo Phật, nghe kinh để giải thoát. Tại sao chị em ngươi lại bám theo hai bà cháu ta về đến tận đây? Ở đây quá xa với quê nhà của các ngươi. Đây cũng là chốn phồn hoa đô hội rất khó để tĩnh tâm, tu tập hay giác ngộ, giải thoát. Ta không biết giữa ta và các ngươi có mối liên hệ hay có ân oán gì? Nhưng ta biết ta chưa từng có lỗi với các ngươi. Con bé cháu của ta cũng vậy. Nếu chỉ vì bà cháu ta đã có một cuộc sống khác với chị em ngươi thì đó cũng không phải lỗi của chúng ta. Ai cũng có một số phận. Ai cũng cần chọn lựa, phấn đấu để đạt tới những gì mình mong muốn. Cả đời ta đã không ngừng cố gắng. Cả đời ta đã chăm chỉ làm lụng, chắt bóp từng chút một. Ta từng giận bố giận mẹ khi đem ta cho ông ngoại và bà Ba nuôi khiến ta chịu bao khốn khổ trong 3 năm thơ bé ấy. Nhưng ta đã tha thứ cho họ khi hiểu rằng họ đã quá sợ, quá tin vào lời phán của các ông thầy. Các ngươi cũng hãy buông bỏ thù hận với cha mẹ, với người thân đi. Ta nghĩ cha mẹ, ông bà và người thân của hai chị em ngươi cũng phải trả giá rồi. Cái giá họ phải trả chính là không có được tình cảm yêu mến, gắn bó, sự tôn trọng từ hai chị em ngươi. Đối với bậc làm cha mẹ, không có gì đau xót hơn khi bị chính con cái mình căm ghét, oán hận. Cha mẹ các ngươi chắc cũng đã mất từ lâu rồi. Những ân ân oán oán, những thù thù hận hận rồi bùa phép trấn yếm có lẽ đã khiến cho các ngươi không gặp được cha mẹ, gặp được người thân của mình ở thế giới bên kia. Giờ ta chắc chị em ngươi cũng không nhớ nổi đường về nhà. Đã gần một thế kỷ trôi qua rồi. Bao làng mạc, tỉnh thành đã đổi khác vì bom đạn cày phá, vì sát nhập hay thay đổi. Ngay cả đến tên đường, tên xóm, tên làng ngày xưa chắc gì đã còn giữ được. Chị em các ngươi lại chưa từng đi xa. Làm sao còn biết lối, còn nhớ được địa chỉ mà quay về. Mà nếu quay về được thì quê nhà các ngươi liệu có còn người thân nào còn ở đó hay không? Gần một thế kỷ trôi qua rồi. Bãi bể, nương dâu cũng biến cải hết rồi. Hãy buông bỏ kiếp đời ngắn ngủi ấy đi. Hãy bắt đầu lại. Hãy tu tập để giải thoát, chuyển kiếp, siêu sinh. Chắc chị em các ngươi cũng không muốn vạ vật mãi ở nơi này. Cứ mãi phải nghe, phải chứng kiến những tham luyến, sân si của người khác. Chị em các ngươi hãy nương nhờ Phật pháp, nương theo chỉ dẫn của các linh hồn tốt mà giác ngộ, tu tập. Chị em ngươi phải tự cố gắng thôi. Phải tự cứu lấy mình. Các người đừng so bì, đừng oán hận khi thấy người khác vui vẻ, hạnh phúc hơn mình. Sự oán hận đó sẽ chỉ làm khổ các ngươi. Nỗi oán hận cũng sẽ nhấn chìm để các ngươi mãi vùng vẫy trong biển khổ mà không sao thoát ra được. Hãy lắng nghe, hãy mở lòng mình ra. Các ngươi sẽ thấy có rất nhiều lựa chọn. Ta chỉ nói đến đây thôi. Ngày còn rộng, tháng còn dài chị em các ngươi cứ từ từ mà suy ngẫm. 

    Bà ấy thở ra một hơi dài sau khi trút xong những lời gan ruột ấy. Dường như việc nói dài, nói một hơi đã làm bà ấy mệt. Chị em chúng ngồi lặng. Chúng không biết phải nghĩ gì? Những lời bà ấy nói có cái chúng hiểu có cái không. Nhưng chúng biết bà ấy đã nói thật lòng, đã trút gan ruột của mình ra với chị em chúng. Cả ba cùng ngồi lặng nhìn ra khoảng sân chùa. Cái tĩnh mịch, yên ả, thưa vắng của buổi chiều khiến cho lòng dịu xuống. Lần đầu tiên, chị em chúng thấy không còn ganh ghét, không còn thù hận đối với bà ấy. Dù không hiểu hết những gì bà ấy nói nhưng chúng mơ hồ nhận ra một mối liên hệ. Dường như giữa chúng và bà ấy có một mối duyên, dù không biết là duyên thuận hay duyên nghịch. Những ngày ở chùa, khi buồn chúng vẫn hay nghe những bài kinh bài kệ được nhà chùa bật suốt từ sáng tới tối. Chưa kể nhiều buổi lễ, khoá tu ở chùa chúng cũng nghe được kha khá. Chúng hiểu mọi người, mọi vật có gặp mặt, có liên hệ đều là nhân duyên. Nếu nhân duyên tốt sẽ khiến mọi người cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Nhân duyên xấu thì chỉ mang lại khổ đau, oán hận. Nhưng dù nhân duyên tốt hay xấu thì luôn có sự chuyển hoá. Có nhân duyên tốt nhưng không được vun trồng, tưới tắm lâu dần biến thành nhân duyên xấu. Ngược lại, có những nhân duyên xấu nhờ lắng lại, bình tĩnh, hoá giải mà dần trở lên tốt. Không biết mối nhân duyên của hai chị em chúng với bà ấy là tốt hay xấu. Nhưng lần đầu tiên nghe bà ấy nói chúng không còn thấy khó chịu. Chúng thấy mình có thể thấu cảm, có thể gần gũi với người đàn bà đã đi gần hết cuộc đời này.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG IV: MẤT PHẠM GIỜ XẤU

    CHƯƠNG IV: MẤT PHẠM GIỜ XẤU

    Bà nằm mãi mà vẫn không ngủ nổi. Kể từ sau cái đêm lập đàn lễ ấy, câu chuyện về các hồn ma, về một thế giới khác tồn tại song song với thế giới người sống ngày càng nhận được sự đồng tình của các con, các cháu và những bạn bè, hàng xóm của bà. Nhiều người đã kể lại những trải nghiệm mà họ từng có. Những câu chuyện đó càng làm cho niềm tin về một thế giới tâm linh, thế giới của những người đã mất thêm vững chắc. Cô con dâu út của bà đã kể cho mọi người nghe một câu chuyện mà chỉ những người chứng kiến mới dám tin. Đó là vào một buổi tối mùa hè khi con bé vẫn đang là sinh viên và thuê trọ cùng mấy đứa bạn. Buổi tối đó cả dãy nhà trọ bị cúp điện. Vì nóng nên cả mấy đứa đều chưa ngủ, vừa quạt tay vừa tán chuyện gẫu. Đang nằm ngồi ngả ngốn bỗng một đứa hét to:

    – Ai đấy? Sao lại vào đây? 

    Cả đám nhốn nháo sau tiếng hét. Con bé vừa hét mếu máo, giọng đã lạc đi vì sợ:

    – Tao vừa thấy một cái bóng bước thẳng lên giường của bọn mình. Nó còn chen vào giữa tao với con Hạnh. 

    Một đứa khác đồng tình:

    – Tao cũng nhìn thấy cái bóng đó. 

    Cả bọn hú hét rồi tháo chạy toán loạn ra khỏi phòng. Tiếng hét làm mấy phòng trọ bên cạnh cũng ùa ra. Khi nghe mấy cô gái kể lại câu chuyện, các phòng khác cũng nhao nhao khi có người nói đã nhìn thấy một cái bóng lướt qua khu vệ sinh vào lúc sáng sớm. Người thì nói đã nhìn thấy một cô gái với mái tóc dài ngồi trên bể nước khi đi kèm gia sư về muộn. Ngay cái ao đầu đường dẫn vào khu trọ cũng nghe nói có nhiều ma quỷ trú ngụ. Có người quả quyết đã gặp ma khi đi làm về muộn ngang qua cái ao đó. Họ kể đang đi thì bất chợt nghe tiếng rào… rào… như có ai đó hất cả một chậu nước ra hồ. Nhưng khi ngoảnh lại thì xung quanh lại chả có ai. Hay như có một tối, khách đến chơi nhà một ông bên cạnh hồ. Khi ra về, thay vì đi đường cái người khách lại lững thững bước thẳng xuống mặt hồ. May mà chủ nhà theo ra nhìn thấy mới hô hoán và chạy xuống kéo lên. Những câu chuyện hư hư thực thực khiến tối đó, cả mấy cô đều không dám về phòng. Chỉ đến khi có điện trở lại cả đám mới dám dẫn nhau về. 

    Cô con dâu cả thì kể cho mọi người nghe một chuyện còn kinh sợ hơn. Ngày đó cô chưa lấy chồng và còn làm ở nhà máy may. Có một lần cả nhóm đi thăm một người bạn làm cùng đang nằm viện. Cô kể người bạn ấy bị sốc khi trước đó nhiều đêm đang ngủ thì có những người đến rủ đi cùng. Khi cô ấy từ chối vì còn phải đi làm gửi tiền về cho chồng nuôi con thì bị doạ: 

    – Nếu mày không đi thì bọn tao sẽ về bắt chồng và bắt con mày. 

    Cô ấy vốn mạnh mẽ nên chỉ coi những giấc mơ ấy là chuyện mộng mị không đáng tin. Nhưng một ngày đang giờ làm thì cô ấy nhận được điện báo cả chồng và con đã mất đêm qua. Lý do hai bố con mất đến giờ vẫn là một ẩn số. Họ hàng, làng xóm đều nói buổi tối cả hai bố con vẫn sinh hoạt bình thường. Nhưng sáng hôm sau đã qua giờ đi học của thằng bé mà vẫn không thấy hai bố con mở cửa nên mọi người sinh nghi. Khi phá cửa xông vào thì cả hai bố con đều đã chết. Người cũng cứng nên mọi người đoán cả hai đã mất từ đêm. Xung quanh nhà, các cửa không có dấu hiệu bị trộm, bị cướp nên nhiều người tin là cả hai bố con bị cảm rồi mất. Nhưng việc cả hai bố con cùng chết thì vẫn luôn là một dấu hỏi lớn. Họ hàng cũng mời công an đến khám nghiệm nhưng không tìm ra dấu vết khả nghi. Chỉ có cô bạn là mơ hồ về lý do mà cả chồng và con đều mất đột ngột. Cô ấy cứ khóc và bảo nếu tao đi theo chúng thì có lẽ giờ này cả chồng và con tao vẫn còn đang sống. Đám bạn đến thăm đã gạt đi phần để an ủi người bạn bất hạnh, phần thì bán tín bán nghi với câu chuyện. Cũng trong buổi đến thăm ấy, cô con dâu bà và đám bạn còn được bà bệnh nhân cùng phòng kể cho nghe những câu chuyện ma đáng sợ trong bệnh viện. Đó là có những người mất ở bệnh viện mà linh hồn họ cứ quanh quẩn mãi nơi ấy. Có nhiều phòng bệnh, không chỉ bệnh nhân mà người nhà cũng nhìn thấy những bóng người thấp thoáng khi sáng sớm, lúc ban trưa hay khi trời sẩm tối. Nhiều người giữa đêm thức dậy rồi không dám ngủ tiếp khi kể có những bóng người đến ngồi, thậm chí nằm cạnh khi họ đang ngủ. Đặc biệt ở những khoa phòng ung thư, nơi cái chết diễn ra hàng ngày, hàng tuần thì những sự lạ không còn là chuyện hiếm gặp. Nhiều người không chỉ gặp trong mơ mà còn như nhìn thấy phảng phất bóng người đi ra đi vào phòng bệnh ngay cả khi thức. Không chỉ nhìn và nghe, một vài người còn bị người đã chết nhập vào khi có cùng tần số. Bà bệnh nhân hôm ấy còn kể nhiều chuyện ma kinh sợ và dặn mọi người một chi tiết mà con dâu bà vẫn nhớ. Đó là khi đến chỗ lạ, đi qua chỗ vắng hay khi cảm thấy rờn rợn, không an tâm thì hãy lấy đầu ngón tay cái bấm vào đốt đầu tiên của ngón tay đeo nhẫn. Bà ấy bảo đó là cách khoá để những linh hồn lạ không nhập được vào người. 

    Những câu chuyện ấy cho đến giờ vẫn có người tin người không. Nhưng bà thì luôn thắc mắc. Dường như vẫn có một mối liên hệ nào đó giữa hai thế giới. Thế giới của người sống và thế giới của những người đã mất. Câu chuyện về người bạn đồng nghiệp của con dâu bà có nét trùng hợp với câu chuyện của bà. Đó là bà và cô ấy đều bị những linh hồn đã mất rủ rê đi theo họ. Cả bà và cô ấy đều vượt qua cửa ải đấy. Nhưng có những người đã không vượt qua được. Thậm chí có những người đã bị thế chỗ. Nếu ngày ấy anh Thường không cứu bà thì đã không bị hai chị em con ma nhỏ bắt đi. Nếu cô đồng nghiệp của con dâu bà thuận đi theo chúng thì chồng và con cô ấy có thể đã không chết. Bà thấy ớn lạnh. Thế giới người sống đã có nhiều chuyện phức tạp. Những ân oán mà cha làm con gánh, chồng làm vợ chịu. Nhiều gia đình chỉ vì một thành viên gây thù chuốc oán với người khác mà cả nhà gặp nạn khi cùng bị sát hại. Thế giới người sống phức tạp là vậy. Nhưng xem ra thế giới người chết còn phức tạp hơn gấp bội phần. Không biết bà và cô đồng nghiệp của con dâu bà có liên quan gì đến thế giới ấy khi bị họ rủ rê? Rồi khi bà và cô ấy không đi thì họ lại giận dữ và bắt sang người khác. Trường hợp của bà là anh Thường hàng xóm. Người thanh niên mà bà đã kêu cứu, đã nhờ giúp. Trường hợp của đồng nghiệp con dâu bà là chồng và con trai cô ấy. Không lẽ chỉ vì một lời rủ không đi mà họ sinh oán giận? Không lẽ vì không bắt được người này nên họ bắt sang người khác. Phải có một thứ gì đó kinh khủng hơn thế mới khiến sự việc thành ra như vậy. Nhưng thứ đó là gì? Bà đã từng nghe thế giới người sống tuy phức tạp nhưng dễ hoà giải khi con người biết quay đầu, mở lòng và hối lỗi. Thế giới người âm thì phức tạp hơn nhiều. Bà là người sắp đi đến thế giới ấy. Nếu nó thật sự đáng sợ như vậy thì bà sẽ thế nào? Bà sẽ phải chuẩn bị sẵn tâm thế hay những hành trang gì để không bị nó cuốn lấy và bắt phải làm theo dù lòng mình không muốn, không thuận?  

    Bà đã từng nghe kể nhiều người khi còn sống yêu thương chồng con và tính toán khôn ngoan lắm. Thế nhưng khi chết phải giờ xấu, theo dân gian gọi là bị phạm vào giờ trùng, ngày trùng, tháng trùng hay năm trùng nên bị quỷ sứ tra khảo, đánh đập. Nhiều người không chịu được đau nên đã dắt quỷ, dắt ma về nhà bắt chồng con, bắt người thân. Người nào còn giữ được chút khôn ngoan thì thay vì dẫn quỷ, dẫn ma về bắt người nhà sẽ dẫn chúng ra cầu, ra cống, ra đường, ra chợ để không đụng mặt người nhà. Nhưng cái sự khôn hay dại khi sống nhiều khi lại chả liên quan gì khi người ta chết. Có người khi sống rất khôn ngoan nhưng lại dẫn ma về bắt người nhà. Có lẽ họ bị đánh đau quá nên không chịu nổi hoặc có thêm lý do nào khác. Nhiều nhà khi người thân vừa nằm xuống phải cử ngay một người đến gặp thầy để xem giờ, xem ngày người vừa mất có phạm vào trùng tang hay không? Bà thấy các thầy đều tính bốn yếu tố khi mất là năm tháng ngày giờ đem so với tuổi người mất để tính ra được người đi lành hay dữ. Lành là khi cả bốn yếu tố năm, tháng, ngày, giờ khi mất đều rơi vào các cung thiên di hay nhập mộ. Lúc đấy người ta quan niệm người mất là đúng số, là hết dương thọ. Thiên di là di rời đến nơi khác khi đã hết hạn, hết số, hết duyên. Nhập mộ là thể hiện sự yên ổn về mặt âm phần hay phần mộ của người đã mất. Nó cũng thể hiện sự yên ổn, vững bền của người vừa mất. Trong cách xem ngày mất, cả thiên di lẫn nhập mộ đều thể hiện điềm lành, sự chuyển tiếp là đúng quy luật, đúng phần số của con người. Cái mọi người sợ nhất là người mất phạm phải một hay nhiều trùng tang. Càng có nhiều yếu tố trùng tang ở các cung giờ, ngày, tháng, năm ở người vừa mất thì càng xấu. Tuy nhiên, dân gian lại có phép hoán đổi khi cứ một trùng tang thì sẽ có một nhập mộ hoá giải. Nếu con số xấu tốt cân bằng, hoá giải được cho nhau thì vẫn được xem là tốt. Cá biệt có người được đến ba, thậm chí bốn yếu tố đều nhập mộ. Nhưng có quá nhiều nhập mộ cũng không tốt. Giống như khi đi rút quẻ mà bốc được quẻ thượng cát hay thượng thượng thì các thầy lại bảo nên cẩn thận vì tốt quá hoá lốp. Xem ra, trong vũ trụ này không thể quá tả hay quá hữu. Quá nhiều cái tốt dồn vào một chỗ, dồn vào một nơi cũng không hay lắm. Còn quá nhiều cái xấu dồn tụ lại thì tất nhiên là rất xấu rồi. Với những nhà có nhiều yếu tố trùng tang của người vừa mất, người nhà sẽ phải mời thầy làm lễ. Người trong nhà từ vợ chồng, con trai con gái, con dâu, cháu nội đều phải đeo bùa để tránh bị tà ma bắt đi. Trong khi con dâu, cháu nội phải cẩn thận, phải đeo bùa thì con rể và cháu ngoại lại không bị phạm. Các thầy giải thích con rể và cháu ngoại là sang họ khác nên không bị ma mới trong nhà bắt đi. 

    Khi còn chưa lấy chồng bà vẫn nhớ vụ ông bác ruột ở quê mất phạm phải giờ trùng. Ngoài việc đeo bùa thì người lớn lẫn trẻ nhỏ trong nhà đều được dặn trong vòng 49, 50 ngày sau khi ông bác mất không được đi ra ngoài sau giờ gà lên chuồng. Nếu có việc phải đi thì phải rủ thêm người, nhét tỏi trong túi và đi nhanh về nhanh không rẽ ngang rẽ tắt. Khi ra ngoài hay lúc đêm ngủ nếu có người gọi tên thì không được thưa. Nếu không tuân thủ các điều trên thì rất dễ bị ma quỷ do người thân vừa mất đưa về bắt đi. Nhiều người kể có những nhà, những dòng họ bị trùng tang không biết cách hoá giải nên sau khi một người mất lại có thêm vài ba người mất sau đó không lâu. Dân gian vẫn gọi đó là trùng tang. Nhiều câu chuyện quỷ dị đã được kể về những người mất phạm phải trùng tang. Có người còn quả quyết mơ thấy hay nhìn thấy người mới mất dẫn theo quỷ sứ về nhà. Có người sợ quá hét lên. Người nhà lập tức huy động chổi cùn, chổi rách dựng ngang cửa hay gác đầu giường. Có người còn bảo phải đem nhổ cọc sắt đóng góc chuồng lợn đem cắm ngoài cửa để trừ quỷ. Không biết thực hư thế nào nhưng đời bà đã chứng kiến nhiều người mất phạm phải giờ xấu đều viện đến các bùa phép trấn yểm từ khi khâm niệm đến khi chôn cất. Có người đem lọ cát thầy đưa rải xung quanh người mất khi khâm liệm, bắt đầu từ vai trái đi dọc theo người cho đến vai phải. Người thì sau khi hạ huyệt người nhà sẽ chôn bốn cái lọ bùa ở bốn góc mộ. Nhiều nhà phải chôn thêm lọ bùa ở trước cửa nhà cũng như dán thêm các lá bùa trên cửa nhà, cửa phòng. Người bị trùng nặng thì trong vòng 49, 50 ngày con cháu ruột thịt tuyệt đối không được bén mảng ra ngoài phần mộ. Sau 50 ngày, khi đã rước chân hương lên với ông bà tổ tiên thì người nhà mới được ra mộ sửa sang hay xây cất. Trong vòng 49 ngày nếu có việc thì người ra mộ người trùng tang phải là con rể, cháu ngoại hay họ hàng xa để tránh bị quỷ sứ, ma tà bắt đi. Về cúng giải thì có thầy cúng đơn giản nhưng có thầy cúng rất phức tạp khi yêu cầu gia chủ phải có thêm chó đen hay chó trắng còn sống khi cúng. Những con chó này sẽ được thả sau khi cúng xong như một phép để hoá giải. Nhiều người mất phạm phải trùng nặng ngoài cúng lễ người nhà còn phải đem gửi, đem nhốt vong lên những ngôi chùa có tiếng về giữ hồn để không về làm hại người nhà. Không biết có bao nhiêu phần trăm là sự thực trong những câu chuyện ấy nhưng bà nhớ là đã nghe kể không biết bao lần. Những gia đình có người mới mất bị trùng tang dù tin hay không thì cũng luôn chọn cách cúng lễ, đeo bùa khi những câu chuyện ghê rợn về trùng tang hay nỗi sợ sẽ có thêm người mất khiến họ thà làm thừa còn hơn bỏ sót. 

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG III: HOANG MANG VÀ TỈNH NGỘ

    CHƯƠNG III: HOANG MANG VÀ TỈNH NGỘ

    Khi cả hai bà cháu bước vào căn nhà sáng trưng với những ngọn đèn to nhỏ, quanh bàn ăn mọi người đã chờ sẵn thì có hai cái bóng nhỏ vẫn đứng từ xa nhìn vào. Chúng cũng không dễ dàng vào được ngôi nhà khi gia chủ, ông bà của gia đình đấy nhìn thấy và xua đuổi. Nhưng cũng vài lần chúng lẻn vào được ngôi nhà ấy khi họ không để ý. Chúng đã nhìn thấy mọi thứ. Một căn nhà rộng rãi, bày biện sang trọng với những chùm đèn ấm áp và sự vui vẻ của những người đang sống trong căn nhà đó. Nhà có bà già – chính là cô bé gái năm xưa từng sống cùng ông ngoại và bà Ba trong khu vườn – hai vợ chồng người con trai, cô cháu gái và một cậu con trai nhỏ. Ngoài những người trong gia đình còn có một cô giúp việc khoảng ngoài 40 tuổi, không chồng, không con. Cô ta cũng được đối xử tử tế nên cả ngày cứ hát véo von dù làm việc không ngơi tay. Hai vợ chồng người con trai thì đi suốt, chiều muộn mới có nhà. Cô cháu gái và cậu con trai nhỏ cũng đi học từ sáng tới tận chiều. Ở nhà, chính thức chỉ có bà già và cô giúp việc. Bà già, sáng thì tha thẩn ra chợ. Bà ấy hay dừng ở hàng này, hàng khác ngắm nghía là chủ yếu chứ cũng không mua nhiều. Đôi khi, bà đi cùng cô giúp việc. Những khi ấy thì thịt cá, rau củ, hoa quả sẽ mua nhiều hơn một chút. Chúng nghe lỏm thì là nhà hôm ấy có giỗ hay tụ tập con cháu ăn tươi. Nhiều hôm bà ấy ra chợ nhưng lại chả mua gì. Có vẻ bà ấy thích ngắm không khí của chợ hơn là mua bán. Buổi chiều bà ấy lại hay thơ thẩn ra ngồi chơi bên ngôi chùa cạnh nhà. Cô giúp việc hết lau dọn, lại giặt giũ, cơm nước nhưng cũng khá thoải mái khi được quyền sắp đặt việc nào làm trước, việc nào làm sau. Thỉnh thoảng cô còn có thời gian đi tập thể dục hay buôn chuyện với mấy người trong ngõ. Mà cái ngõ ấy cũng lạ. Mặt người nào người nấy từ già đến trẻ cứ hớn ha hớn hở. Người lớn thì bận đi làm. Trẻ con bận đi học. Người già và giúp việc có nhiều thời gian tán chuyện và chơi. Sao họ lại sống sung sướng như thế? Cảnh sống ấy thật khác với những gì hai chị em chúng từng trải qua khi còn nhỏ. Ngày đó, gia đình của chúng cũng gọi là có chút của ăn của để so với làng xóm nhưng bố mẹ tất bật từ sớm tới khuya chả mấy khi ngó ngàng tới chúng. Ông nội thì suốt ngày đi đánh tổ tôm. Ngoài mấy quân bài ra, có khi ông cũng chẳng nhớ hết mấy đứa cháu trong nhà. Bà nội thì chỉ chăm chăm soi mói người làm, người ở. Bà hay nói không có bà giám sát thì lũ người làm sẽ lười nhác, ăn vụng. Chúng còn bé nên không biết mấy người làm có lười nhác hay không? Nhưng chỉ biết là bà nội rất hay quát nạt, hành hạ họ. Lúc rảnh rỗi, bà cũng chỉ chăm bẵm mấy thằng cháu trai chứ không ngó ngàng gì tới mấy đứa cháu gái. Chúng lớn lên dưới sự thờ ơ của cha mẹ, ông bà. Chứng kiến những người làm bị quát nạt, mắng mỏ, thậm chí bị chửi bới, đánh đập. Rồi còn bị đối xử phân biệt giữa con trai, con gái, cháu trai và cháu gái. Rồi đến khi chúng ốm và mất. Về nhà thì bị xua đuổi vì không được cúng lễ tử tế. Ở lại nhà ông thầy thì cũng giống như người vô hình, chả ai quan tâm. Chúng đã nuôi thù hận bao nhiêu năm. Vậy mà, cả cái ngõ này, cả cái gia đình này đều vui sướng, hớn hở. Sao chúng thấy khó chịu thế không biết. Ngày được giải thoát, đáng lẽ phải đi theo các Đức Phật như lời sư thầy căn dặn nhưng đến phút cuối chúng lại bỏ trốn. Chúng cũng không biết tại sao lại làm thế. Có lẽ sự tò mò đã thôi thúc chúng. Chúng đã muốn biết cô bé ấy – nay là bà già ấy – đã sống ra sao khi đi khỏi khu vườn. Chúng cũng tò mò về cô cháu gái của bà ta. Trông nó thật rạng rỡ, hạnh phúc. Nó rất khác với chị em chúng và cả cô bé ấy ngày trước. Sự tò mò đã khiến chúng đã bám theo hai bà cháu. Chúng đã về đến tận đây. Một nơi có rất ít cây cối, sông hồ. Chỉ có những ngôi nhà, nhà và nhà san sát nhau. Có những toà nhà rất cao, cảm giác như cao chạm đến tận mây, tận trời cao. Lại có nhiều căn nhà cao từ 5 đến 7 tầng sáng choang cả ngày lẫn đêm. Chúng đã bị ngợp khi theo về đến đây. Mấy ngày đầu tiên, chúng vất vưởng nơi mấy cái cột điện và suýt bị phát hiện khi cái cột ấy bỗng bật sáng vào lúc chúng không ngờ nhất. Chúng cũng kịp lẻn vào nhà mấy bận và chứng kiến cái gia đình ấy đầm ấm, hạnh phúc, tràn ngập tiếng cười. Nhưng chúng cũng không thể ở lại trong đó khi gia chủ và ông bà, thậm chí là chồng của bà ấy xua đuổi. May là chúng luôn theo chân bà già và biết đến ngôi chùa này. Chùa cũng khá gần với ngôi nhà. Bà ấy thường ra chùa vào buổi chiều và ngồi ở đó cả buổi. Khi thì giúp nhà chùa mấy việc lặt vặt. Lúc lại chỉ ngồi chơi, tán chuyện hay im lặng nhìn vào một nơi nào đó trong tâm trí. Có lẽ bà ấy nhớ tới chồng, người đã mất cách đây hơn một năm. Ông ấy tuy không cao lắm nhưng dáng người to đậm và rất đẹp trai. Chính ông ấy đã mấy lần xua đuổi chúng. Ông có vẻ vẫn quyến luyến với ngôi nhà, với vợ và các con cháu. Chính ông đã bảo với chúng: 

    – Đi đi, đi mà giải thoát rồi đầu thai lại làm người. Các ngươi chưa được hưởng những lạc thú và niềm vui của kiếp người quả là đáng phí. Hãy cứ đi, cứ tu và trở lại. Đừng có tơ tưởng làm hại vợ con ta, đặc biệt là con bé cháu. 

    Vì ngỡ ngàng, vì bối rối chúng đã vơ vẩn ở đây khá lâu. Chúng thấy lạ với cuộc sống của mọi người trong cái ngõ này. Chúng cũng thích ngôi chùa mà bà ấy hay ra. Ngôi chùa ấy thật đẹp, rộng rãi và thoáng mát. Chùa cũng có nhiều cây to giúp chúng có thể trú ngụ. Là chùa, là đất của các thần phật cai quản nhưng thực tế cũng chả của riêng ai. Ngoài chị em chúng còn có khá nhiều linh hồn cùng trú ngụ trên những cành cây, khóm hoa, hòn non bộ hay những bức hoa văn trên tường, trên cánh cổng chùa. Có những kẻ mới đến như chị em chúng. Nhưng lại có người ở đây đã khá lâu như mấy cụ già. Có người ngày ngày nương theo tiếng kinh kệ, trì tụng mà mặt mũi, thân thể, lời nói nom thật thư thái, thoải mái. Có vẻ như họ chả chú ý gì đến mọi người, mọi việc ngoài việc thả mình trong tiếng kinh, tiếng kệ được nhà chùa bật suốt từ sáng tới tối. Lại có kẻ chỉ nhìn hau háu vào những lễ vật mọi người mang tới dâng cúng. Ở đây, đói thì không đói vì lúc nào cũng có sẵn hoa quả, bánh trái. Tuy nhiên, rượu thịt lại khá ít trừ hôm nào có đám lễ to to. Có người thực sự đã coi chùa là nhà khi tối ngày vào ra ở đó. Nhưng nhiều kẻ lại nhấp nhổm, toan tính khi vào ra nhòm ngó những thực khách đến chùa. Nhiều kẻ táo tợn còn lén đi theo vài người mà chúng nghĩ là giầu có hay có nhiều ám muội. Ám muội ở đây là lòng tham. Họ đến chùa nhưng tâm thì không tịnh, lòng thì không yên và đôi mắt thì chứa đầy dục vọng. Họ đến chùa và cầu xin đủ thứ. Đôi khi còn khấn oang oang át hết cả tiếng của người khác. Đám âm hồn còn hay la cà tại những hàng quán ngay bên cạnh chùa. Khi thì nương vào mấy cành hoa, lúc buồng cau, trái quả. Khi có đám nào đến xin viết sớ, nhờ mấy ông thầy lễ hộ là chúng xúm vào nghe ngóng, hóng hớt. Có người xin thầy viết cho cái sớ cầu tài, cầu lộc. Người cầu con thi đỗ, mẹ hết bệnh. Người lại cầu lên chức, lên quyền. Cá biệt, có người cứ thì thầm xin thánh xin thần vật chết hay làm cái đứa phá nát gia cang nhà họ phải bệnh tật, phải trả giá. Chúng nghe lén mấy âm hồn bặm trợn kháo nhau phải bám vào mấy đứa đến xin hại người mà quấy quả. Hội đấy thứ nhất là tâm bất chính khi đi xin thần, xin thánh để hại người. Thứ hai là u mê khi chả có thần phật nào giúp họ làm những việc ác. Thứ ba là ngu nên dễ lừa, dễ tin quàng xiên. Cứ hành cho chúng ốm, chúng đau để chúng phải đi lại lễ lạt, cúng bái. Nhiều kẻ còn kháo nhau cứ bám theo mấy ông thầy hay viết sớ, lễ hộ để kiếm chác. Nhiều ông thầy sau buổi viết sớ, cúng hộ gia chủ thường la cà ra quán làm vài món tươi tươi với vại bia, điếu thuốc. Hứng lên còn ăn nhậu, bài bạc, gái gú, ca hát. Cứ bám theo đám ấy là hưởng đủ mọi lạc thú chứ cứ ru rú mãi trong chùa thì chỉ có chết thèm, chết nhạt. Chị em chúng chưa lần nào đi theo nhưng cứ chứng kiến các ông bà thầy cãi chửi nhau vì tranh khách thì biết họ cũng vì lợi lộc chứ chả tin có thánh thần gì. Nhiều ông bà chả cần biết đang đứng trong hay ngoài chùa cứ cãi chửi nhau oang oang khi bị tranh khách hay bị giành mất mối ngon. Không chỉ đám đàn ông, các bà buôn bán quanh cái chùa này cũng chua ngoa không kém. Chỉ vì vài đám khách mua ở hàng này mà không mua ở hàng kia cũng có thể khiến mấy bà, mấy cô nhẹ thì lườm nguýt, nặng thì tốc váy, tốc áo chửi nhau. Nếu so với dân cư trong ngõ vui vẻ, hạnh phúc thì đám người kiếm ăn quanh ngôi chùa này phức tạp và ô hợp hơn nhiều. 

    Ở đây một thời gian, chúng đã chứng kiến nhiều chuyện. Nhà chùa thường xuyên bật các bài kinh kệ qua cái đài be bé nghe cũng thấy thư thái dù có hơi não nề. Vui nhất là ngày rằm hay mồng một. Cả chùa hôm ấy đông vui lắm. Ngay từ sáng sớm đến khi tối mịt các hàng quán quanh chùa đều nhộn nhịp mua mua, bán bán. Nghe nói ngôi chùa này rất thiêng, lại là chùa cầu duyên, cầu công danh nên nam thanh nữ tú đến chùa rất đông. Có nhóm thì đi đông 5 đến 7 người. Nhiều nhất là đi đôi. Lại có những cô cậu chỉ đi một mình và lầm rầm cầu khấn đến lâu. Nhiều lần, vì tò mò, chị em chúng đã sấn đến, cố nép sát vào để nghe xem họ cầu khấn, xin xỏ thần Phật những gì. Đa phần là xin cho con có người yêu, có chồng, có vợ đẹp trai, xinh gái, làm ra tiền và quan trọng là yêu con, yêu chỉ mình con. Eo ơi, đồ dâng cúng thì chỉ có tý tiền vàng mã, ít hoa quả, bánh trái mà xin thì rõ lắm. Có người vừa xin có người yêu xịn lại còn xin học giỏi, xin được điểm cao. Vài lần nghe lén chúng thấy nhiều người đúng là tham. Cái gì cũng muốn, cái gì cũng xin. Để đáp ứng hết từng ấy lời cầu xin thì chắc phải có đến nghìn ông Phật, nghìn bà Thánh mới làm hết được. Ơ mà, có người còn cầu xin rõ cả tên người, địa chỉ và xin chư Phật, chư Thánh run rủi cho người ấy yêu mình. Ơ thế nhỡ cái người có đúng tên và địa chỉ như thế cũng đến chùa và cầu xin Phật, xin Thánh cho yêu một người mà người đó không trùng với người đã cầu xin được họ yêu thì thế nào nhỉ? Xem ra cũng khó phết! Phật, Thánh chắc cũng rối não khi cô A thì xin cho anh B yêu mình. Nhưng anh B lại xin được yêu cô C. Ôi, cái thế giới yêu đương này phức tạp quá. Chúng nghe vài lần rồi chán vì biết chả Phật, Thánh nào có thể giúp nổi cái đống não yêu này. 

    Quanh quẩn mãi ở đó một thời gian rồi bỗng một ngày chị em chúng bừng tỉnh. Chúng về đây vì tò mò, vì muốn biết cô bé năm xưa nhất quyết không đi theo chúng đã sống ra sao suốt mấy chục năm. Còn cả vì con bé cháu trông đầy rạng rỡ của bà ta nữa. Nhưng về đến đây rồi, nhà bà ta thì không phải lúc nào chúng cũng vào được. May còn có ngôi chùa để chúng nương náu. Nhưng những ngày tới chúng sẽ phải làm gì? Không lẽ cả đời chúng sống tạm ở ngôi chùa, hưởng tý hương hoa, trái quả bánh kẹo và nghe mãi thiên hạ cầu xin đủ kiểu, đủ thứ khi đến chùa. Đặc biệt là cái đám be bé, tre trẻ chỉ rặt cầu xin chuyện yêu đương. Chúng phải làm gì đó. Nhưng cụ thể là làm gì? Hồi còn ở khu vườn, tuy không được ông thầy dung nạp nhưng chúng cứ bám theo đám âm binh. Có buổi chúng bám theo họ ra đồng tát nước, be bờ. Có bữa chị em chúng đi theo họ đến nhà người lạ tìm hiểu xem gia chủ nhà ấy đau ốm lâu ngày là do bệnh dương hay bệnh âm để về báo ông thầy lo chữa trị, trấn yểm. Sau ngày ông thầy mất cả đám như rắn mất đầu, đi không nổi, ở cũng không xong. Chúng rặt rẹo ở đó mấy chục năm thi thoảng lại nổi lên các trận cãi vã, đánh nhau khi cùng quẫn, bất lực. Rồi những lúc rảnh rỗi hay khi buồn bã chúng lại kể cho nhau nghe khi còn sống như thế nào? Rồi vì sao mà chết? Kể chán, chúng lại ước một ngày nào đó khi bùa phép hết hiệu lực chúng sẽ thoát ra ngoài. Khi đó, chúng sẽ làm gì nhỉ? À, việc đầu tiên là chúng sẽ về nhà. Chúng sẽ hành hạ, làm ốm, làm bệnh những kẻ đã ghét bỏ, hãm hại chúng khi sống và thờ ơ, bỏ mặc chúng khi chết. Cả lũ say sưa với những kế hoạch trả thù. Trả thù người thân, người quen, thậm chí cả những người xa lạ nếu chúng thấy ghét, thấy ngứa mắt. Rồi chúng mơ. Mơ được đi đây đi đó, mơ thăm thú nơi này nơi khác. Trong số chúng chỉ có gã lái trâu là được đi nhiều nơi khi còn sống. Gã kể có nhiều nơi đẹp lắm khi có núi, có sông, có đồng ruộng phì nhiêu bát ngát. Lại có nơi là phố thị đông người buôn bán sầm uất. Ở đó có những cái chợ lớn nơi người ta vào ra tấp nập, buôn bán, ăn uống, tụ tập… Cả bọn cứ ước một lần được đến đó. Được hoà vào cái không khí náo nhiệt, bán bán, mua mua, ăn ăn, uống uống đầy sôi động ấy. Gã ấy còn bảo muốn được sướng, muốn trả thù đời thì thi thoảng phải vặt cổ, làm ốm, làm chết vài đứa thì mới có rượu, có thịt, có lễ lạt mà đánh chén, thưởng thức. Gã còn bảo đã từng khuyên ông thầy nhiều lần phải làm chết vài đứa nhưng ông ấy không nghe. Ông ta cứ nửa tà nửa chính, vừa nuôi giấu âm binh vừa không muốn làm điều ác, hại người, di luỵ đến con cháu. Vì ông ta cứ chính tà lẫn lộn như thế nên bọn chúng mới khổ, mới bị mắc kẹt mãi tại khu vườn. Giờ thì không biết những kẻ ấy thế nào? Đàn lễ hôm ấy đã giải thoát cho một số người trong đó có chị em chúng, vợ chồng thuyền chài, chàng trai trẻ bị đánh chết vì ăn cắp gà khi mẹ ốm. Còn ai nữa nhỉ? Chúng cũng không nhớ. Vẫn còn rất nhiều kẻ bị kẹt lại nơi khu vườn cùng với ông thầy. Ông ấy đã quyết tâm ở lại để ghìm chân bọn chúng. Ông buộc chúng phải ở lại nơi đó, không thể thoát ra ngoài để làm hại người khác. Ông thầy còn nói làm thế là để chuộc lỗi. Là lỗi gì nhỉ? Ông ấy cũng đã cứu giúp nhiều người. Ông ấy đã đưa gã lái trâu từ nơi đầm lầy hôi thối về với khu vườn. Ông ấy đã cho vợ chồng thuyền chài và gã trai trẻ một nơi nương náu. Ngay cả chị em chúng cũng vậy. Về nhà thì bị đuổi. Lang thang thì đói rét. Chúng cũng đã về trú ngụ ở tại vườn nhà ông thầy đấy thôi. Ông ấy là người ngoài, không máu mủ, ruột rà nhưng cũng không xua đuổi chúng. Với ông ấy chúng vừa có ơn vừa có oán. Ơn vì đã không đuổi chúng. Oán vì đã giam cầm chúng bao lâu cùng lũ âm binh của ông. Giờ thì chúng ở đây. Không người giam cầm, không người chỉ dẫn. Chúng cũng muốn về lại quê cũ, thăm lại ngôi nhà cùng những người thân. Nhưng chúng không biết lối. Mọi thứ đã khác quá. Khác từ phong cảnh, nhà cửa, đường xá. Chúng đã đi theo xe chở hai bà cháu về đến tận đây. Chúng đã đi quá xa và không biết lối để quay về.

    Cũng có ngày chị em chúng cứ vẩn vơ ra ra vào vào rồi lại tự hỏi nhau làm gì, làm gì nhỉ? Không lẽ chị em chúng sẽ làm theo lời gã lái trâu hay mấy kẻ bặm trợn đang nương náu ở đây. Đó là làm ốm, làm chết vài người để có rượu, có thịt, có đàn, có lễ. Nhưng chúng đâu có thèm rượu dù vẫn thèm xôi, thèm thịt. Vả lại, nếu làm thế thì chị em chúng có bị trả giá, bị đầy sâu xuống bảy tầng địa ngục hay bị các thầy cao tay trừ khử hay không? Ngày còn ở khu vườn nhà ông thầy nhiều khi cả bọn cũng tranh cãi dữ dội. Khi gã lái trâu say sưa với các kế hoạch hại người thì có kẻ đã bảo gã:

    – Đừng có tưởng thích làm gì thì làm, thích hại ai thì hại. Vẫn có các pháp sư, các thầy cao tay chuyên trừ ma, trị quỷ đấy. Nhiều thầy cao tay đã phong ấn những con quỷ hại người suốt nhiều năm khiến chúng không thể trốn ra khỏi nơi bị giam hãm. Có thầy thì hô gọi quỷ sứ lôi đi. 

    Nghe nói khi bị như vậy thì sẽ rất đau đớn, khổ sở. Ngay tại ngôi chùa chúng đang nương náu cũng có một bức tường với các bức tranh nói về những nỗi khổ, những sự đoạ đầy đối với người mắc lỗi sau khi chết. Người hay nói dối, vu vạ thì bị cắt lưỡi. Người hay ăn cắp thì bị chặt tay. Có người còn bị cho vào vạc dầu sôi đun lên. Những hình phạt ấy chỉ nhìn vào thôi cũng đã thấy sợ. Còn có những bức tranh lại kể về những người hành thiện, tích đức hay tu tập thành phật, thành tiên. Những người đó sau khi chết đều được hưởng phúc, được vãng sinh vào cõi cực lạc. Có quá nhiều sự việc, những ngả đường tốt xấu khiến chị em chúng hoang mang không biết sẽ phải đi theo hướng nào. 

    Lần đầu tiên gặp lại cô bé nay đã thành một bà lão 90 chúng thấy cảm xúc thật lẫn lộn. Một chút ghen tỵ, một chút tò mò. Đặc biệt khi biết cô bé ấy đã lấy chồng, sinh con và còn có cả một đàn cháu nội, cháu ngoại. Con bé cháu lại vô cùng rạng rỡ. Cả người nó như toả ra nguồn năng lượng vui vẻ, hạnh phúc – thứ mà chị em chúng chưa bao giờ có. Từ tò mò, không cam lòng đến căm hận, muốn phá hoại cứ từng nấc tăng dần. Vì muốn biết cuộc đời của cô bé năm xưa không đi theo chúng ra sao, cũng như không cam lòng khi thấy con bé cháu bà ấy hạnh phúc, rạng rỡ mà chị em chúng đã bám theo về đến tận đây. Những ngày quanh quẩn trong các góc tối, nóc nhà, cột điện chúng đã chứng kiến cuộc sống của gia đình bà ấy và cả con ngõ. Không chỉ gia đình bà ấy vui vẻ, hạnh phúc mà các gia đình khác trong ngõ cũng như được tắm trong bầu không khí của sự hoà thuận, viên mãn. Đám bạn con bé cháu, cả trai lẫn gái đứa nào đứa nấy đều rạng rỡ, xinh xắn. Ngay cả cái đám hay đến chùa cầu xin thì những thứ họ cầu mong cũng không phải cơm ăn, áo mặc. Họ mong cầu tiền bạc, chức tước, giầu sang hay thứ tình cảm trai gái yêu đương mà chúng nghe mãi vẫn không hiểu. Những nỗi đau bị bỏ mặc, bỏ đói, sự thiếu quan tâm của ông bà, cha mẹ mà chị em chúng phải chịu khi còn sống cũng như khi đã chết dường như chỉ là chuyện của riêng chúng và thuộc về một giai đoạn đã xa. Những người chúng gặp gần đây từ già đến trẻ, đặc biệt là bọn trẻ con dường như không ai phải chịu cái kiếp nạn như chị em chúng và cả bà già kia phải chịu khi còn nhỏ. Mấy chục năm bị giam hãm trong khu vườn, chị em chúng và cả đám âm binh, âm hồn vất vưởng dường như đã bị bỏ lại, bị lãng quên. Cuộc sống bây giờ đã quá khác. Ngày mới gặp lại bà ấy, chúng chỉ hận bà ta đã có một cuộc đời hạnh phúc khác với chị em chúng bị giam hãm, cầm tù bởi bùa phép. Chúng cũng tưởng chỉ có mình con bé cháu bà ấy là vui vẻ, rạng rỡ. Hoá ra, đã có rất, rất nhiều người giống như bà cháu nhà ấy. Họ không phải vật vã trong cái đói, cái nghèo, cái khổ. Họ không bị thiêu đốt trong sự so sánh, dằn vặt, hận thù ngay cả với người nhà như ông bà, cha mẹ, anh chị em giống như chúng. Từ chỗ ghen tỵ và muốn làm hại hai bà cháu, dần dà chúng nhận ra những kẻ như hai bà cháu họ có quá nhiều. Không lẽ chị em chúng phải căm hận, phải làm hại tất cả bọn họ. Nhưng kể cả là có muốn thế thì với sức lực của hai chị em, bọn chúng cũng không thể nào làm nổi. Cái sự ngộ ra ấy khiến cho chúng lúng túng, bực bội. Cái mục tiêu ban đầu đã ngày càng xa vời khi chúng biết chúng không có những lý do chính đáng để làm hại hai bà cháu họ. Vậy thì lỗi do ai? Vì sao cuộc đời chúng lại bi thảm như thế? Phải có ai đó để trút giận. Phải có ai đó chịu trách nhiệm về sự khốn khổ của chị em chúng suốt những năm qua chứ?  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG II: ĐỪNG LÀM HẠI NÓ!

    CHƯƠNG II: ĐỪNG LÀM HẠI NÓ

    Bà đã ngồi ở sân chùa khá lâu cho đến khi cô cháu gái ra tìm và đưa bà về. Tiếng con bé líu ríu:  

    – Bố con đi làm về liền hỏi bà đâu rồi? Con đoán bà lại ra chùa hóng mát nên ra tìm. Thế mà đúng thật. Bà ơi, sao bà lại thích ngồi ở chùa thế ạ?

    – Ngồi ở đó bà thấy lòng mình bình an con ạ? Bà nhẹ nhàng.

    – Nhưng bà ngồi lâu sẽ mỏi lưng đấy – Cô cháu gái lo lắng. Bà có thể nằm ở nhà và mở kinh Phật lên nghe cũng hay mà.

    – Ừ, nhưng bà thích cảnh chùa con ạ. Ở đó có cảm giác thanh thản, nhẹ nhàng mà ở nhà không có. 

    – À bà ơi, bà có còn gặp lại các con ma sau hôm ở đàn lễ nữa không bà? Tiếng cô cháu gái líu ríu.

    Bà lặng im. Thời gian đầu đúng là bà có cảm giác thanh thản, nhẹ nhàng như đã làm xong một ước nguyện lớn. Nhưng gần đây, bà bỗng có cảm giác chợn rợn, lành lạnh khi bất chợt đi vào một ngõ vắng. Cảm giác đó đôi khi còn xuất hiện ngay khi bà ở nhà. Ban đầu, bà không chú ý lắm. Hoặc có đôi khi nghĩ đến thì chỉ nghĩ là ông hay các cụ về thăm nhà, thăm con cháu. Bà là người nhạy cảm nên rất nhạy khi đến môi trường lạ hay khi cảm nhận nguồn năng lượng âm. Nhưng tần suất ngày một nhiều nhất là khi cô cháu gái đột nhiên hỏi thế khiến bà không yên tâm. 

    Bà nhìn cô cháu gái rồi dò hỏi:

    – Từ hôm đó tới giờ, con có thấy điều gì lạ không?

    Cô cháu gái ngẩn người ra một lúc rồi thì thầm, giọng nó rất khẽ: 

    – Con cũng không rõ bà ạ. Chỉ là khi ngủ thỉnh thoảng con có những giấc mơ rất lạ. Con cứ thấy mình bị săn đuổi mà không rõ là bị ai hay cái gì săn đuổi. Con chỉ biết là con sợ và chạy rất nhanh. Đôi lúc con thấy mình bay lên để thoát thân. Có lúc mải chạy con thấy mình như sắp rơi xuống vực. Con đã nhiều lần tỉnh dậy giữa đêm khi thấy mình sắp rơi xuống. Sau đó mồ hôi con vã ra. Thường con sẽ phải thức mất một lúc lâu sau mới lại ngủ tiếp được. Con đã kể với bố và bố bảo chắc con áp lực vì đang ôn thi. Có hôm con ngồi học rất khuya và cứ có cảm giác như ai đó đang nhìn mình nhưng khi nhìn lại thì chẳng thấy ai. Mọi người trong nhà đều ngủ rất say. Con còn nghe cả tiếng ngáy to của bố ở phòng bên cạnh, tiếng thằng Chôm nói mơ khi ngủ say.

    – Con có thấy cảm giác lạnh sau gáy hay tự nhiên nổi hết gai ốc lên không? Bà lo lắng.

    Con bé chau mày:

    – Con cũng không biết ạ. Đôi khi con cũng thấy lạnh, thấy mẩn các nốt ở tay lên. Con nghĩ là do con bị lạnh thôi ạ. 

    Bà yên lặng không nói gì. Vậy là cảm giác của bà không sai. Gần đây bà cứ thấy có gì đó không ổn. Lúc rợn rợn sống lưng, lúc lành lạnh sau gáy, khi lại có cảm giác như có ai đó đang nhìn. Dường như có những luồng âm khí đang lảng vảng đâu đó quanh bà, quanh gia đình bà. Nhưng nguồn âm khí đó đến từ đâu nhỉ? Từ ông bà, cha mẹ, họ hàng hay còn có những thế lực khác? Nếu là nguồn âm khí đến từ gia đình, dòng họ thì bà đã không thấy bất an như thế này. Những người thân đã mất dù có về thăm cũng hiếm khi khiến con cháu cảm thấy lo lắng. Nếu có gì không vừa ý thì cũng hay báo mộng hay nhắm vào một, hai đối tượng cụ thể. Nhưng lần này khác lắm. Cảm giác đó vừa lạ lại vừa quen. Lạ là bà không cảm thấy tâm an. Quen là hình như bà đã từng gặp cảm giác này ở đâu đó. Nhưng ở đâu mới được chứ? Bà chợt khựng lại. Đúng rồi, cảm giác này quen lắm. Đó là cảm giác mà bà luôn có khi sống trong khu vườn ngày xưa cùng với ông ngoại và bà Ba. Cái cảm giác dù có ở một mình vẫn không phải chỉ có một mình. Cái cảm giác như luôn có những người khác, những thế lực khác đang cùng mình song hành. Hay cái cảm giác luôn bị nhìn ngó từ trước mặt, từ sau lưng, từ những người không quen biết. Cái cảm giác lẫn lộn không biết đâu là thực đâu là mơ khi ranh giới giữa người sống và người đã mất bị đặt quá gần, quá xen kẽ. Nhưng tại sao sau gần 80 năm bà mới lại có cảm giác ấy. Đặc biệt là nó càng mạnh lên sau lễ giải thoát của đàn lễ đêm ấy. Có lẽ nào, đã có thêm những kẻ thoát khỏi sự phong ấn của ông ngoại, của khu vườn và đang tìm đến bà. Hay luồng âm khí đó đến từ những âm hồn đã được giải thoát. Không có lẽ nào! Họ đã mong mỏi. Họ đã khao khát cơ hội ấy từ lâu lắm mà. Không có lý gì họ quay lại trừ khi. Bà chợt lạnh sống lưng. Trong số những linh hồn được giải thoát hôm ấy có hai chị em con ma nhỏ. Lẽ nào vì là trẻ con nên chị em chúng không biết quý trọng cơ hội giải thoát. Lẽ nào vì là trẻ con nên chúng còn vương vấn cõi này. Nếu đúng là thế thì thật không hay. Trẻ con vốn đã không dễ chiều. Lại là ma trẻ con thì càng không biết chúng muốn gì và tác oai tác quái đến đâu. Mà hình như ông ngoại đã từng nói lòng thù hận đã biến chúng thành quỷ. Nếu đúng như vậy thì thật đáng sợ. Nhưng tại sao chúng lại tìm đến bà và gia đình bà? Bà đâu có gây thù chuốc oán gì với chúng? Có lẽ nào là do nguồn năng lượng rạng rỡ, hạnh phúc từ cô cháu gái đã tác động đến chúng. Nghĩ đến đó bà chợt rùng mình. Bà nhớ lại cảnh con ma chị từng rít lên: 

    – Ta không cam lòng. Tại sao cùng là trẻ con mà nó được mọi người yêu thương, được mọi người bảo bọc. Còn chúng ta, chúng ta cũng là trẻ con nhưng không được ai yêu thương, không được ai đoái hoài đến. 

    Có lẽ nào sự đố kỵ, ganh ghét đã khiến chúng tìm đến con bé. Bà nhìn chăm chăm vào con bé cháu. 

    Nó nhoẻn cười:

    – Trên mặt con có dính gì hả bà?

    – Bà bảo này nhưng con phải nói thật nhé – Bà nhẹ giọng. Con có nhớ đêm ở đàn lễ không? Con có sợ không?

    – Lúc đầu con sợ lắm nhưng sau con lại thấy thương. Thương nhất là hai chị em ma bé. Sao họ khổ thế hả bà? Con thấy thương họ lắm – Con bé hồn nhiên.

    – Các ngươi nghe rõ chưa? Bà lẩm bẩm. Con bé lương thiện là thế. Bị các ngươi làm cho hoảng sợ nhưng vẫn thương các ngươi. Đừng có làm hại nó!

    – Bà ơi, bà đang nói chuyện với ai đấy ạ? Con bé ngạc nhiên.

    – À, bà chợt nhớ đến hai chị em con ma nhỏ. Bà dặn chúng không được làm hại người khác – Bà chống chế.

    – Họ đang ở đâu hả bà? Họ có nghe thấy những gì bà nói không ạ? Cô cháu gái tò mò.

    Bà vội đánh trống lảng:

    – Bà cũng không biết. Bà cứ nói bâng quơ vậy thôi. Biết đâu họ nghe được. Thôi mình về nhà nhanh không mọi người lại mong.

    Hai bà cháu líu ríu đi về nhà. Những lời bâng quơ của bà mong ai đó nghe được đã được hai âm hồn đi theo nghe không sót một chữ nào. 

  • PHẦN MỘT : ÂM BINH CHƯƠNG V: PHONG ẤN

    CHƯƠNG V: PHONG ẤN

    Nhìn bên ngoài khu vườn không có nhiều khác lạ. Nhưng nếu ai có năng lực tâm linh hay giác quan nhạy bén một chút sẽ nhận ra vài điểm. Ví như dù bị bỏ hoang đã lâu nhưng cỏ cây trong khu vườn luôn xanh hơn những vườn cây bên cạnh. Khi sáng sớm, lúc sẩm tối, quãng giữa trưa nếu ai có việc đi ngang đều có cảm giác lành lạnh sau gáy hay mơ hồ như nghe tiếng lúc thì thầm, khi to nhỏ đâu đó. Có người còn quả quyết có những bóng người, thậm chí nhiều người xuất hiện trong khu vườn trong những quãng thời gian khác nhau. Đặc biệt những hôm trời trăng thanh, những bóng người đi lại trong đó càng nhiều. Hàng xóm đồn rằng khu vườn có ma. Rằng có cả một đội quân âm binh vẫn còn ở đó khi ông thầy bị chết bất đắc kỳ tử. Chính vì cái chết đột ngột ấy khiến đám âm binh chưa kịp rải ráp. Chúng cần một người thầy cao tay có thể thu nạp và sử dụng. Cũng có thể một vị cao nhân nào đó có thể giúp chúng được siêu thoát. Ông thầy ra đi đột ngột mà nghe đồn có liên quan đến sự trả thù của một vài âm binh. Bà vợ thì không đủ năng lực nên sau nhiều năm bị chúng hành lên hành xuống cũng đã ra đi. Đám con ông thầy không một ai theo nghề của cha. Những hiện tượng kỳ lạ, những ám ảnh và cả sự đồn thổi của làng xóm cũng khiến mấy người con không dám ở lại đó. Khu vườn bị bỏ hoang đã khá lâu. Không có người chăm nom, không có ai sai khiến nhưng bùa phép của ông thầy vẫn còn đó khiến chúng không thể rời bỏ khu vườn. Mấy chục năm qua đi, từ chỗ hả hê khi khiến người điều khiển chúng mất mạng giờ chúng lại càng khốn khổ hơn khi không có người cúng tế, nuôi ăn hay sai bảo các việc. Đám âm binh đó vẫn dồn tụ trong vườn đi không nổi mà ở cũng chẳng ra sao. Trong những ngày đó, chúng chỉ ôn lại chuyện cũ. Chúng nhớ về quãng thời gian mới được ông thu nạp về đây. Từ những hồn ma vất vưởng được ông chiêu dụ, cho ăn rồi sai đi làm các công việc khác nhau. Đội quân cũng ngày một đông hơn khi có thêm các linh hồn mới là những kẻ bệnh tật bỏ mạng khi không qua khỏi. Có một điều chúng không hiểu. Là kẻ điều khiển âm binh nhưng tại sao ông thầy lại ra sức cứu người khi họ ốm đau, bệnh tật. Một lúc kiêm ba bốn việc nên ông vắng nhà triền miên. Bà vợ trẻ khát chồng đâm ra cáu kỉnh. Và con bé gái ấy là đứa bị hành hạ đến khổ sở khi nó sống ở đây. Chỉ những ngày ông có ở nhà nó mới được bà Ba cho ăn cơm cùng. Khi ông đi vắng bà Ba kiếm đủ cớ để đánh đập, hành hạ và hắt hủi nó. Mới bé tý mà không ít lần nó bị bà Ba đuổi không cho ăn cùng. Con bé đói quá đành lần mò sang các nhà bên cạnh. Nhưng ai cũng nghèo làm sao có thể cưu mang thêm nó. Chưa kể họ còn nể và sợ ông thầy. Sợ luôn cả bà vợ trẻ vừa tai quái vừa ghê gớm của ông. Nhưng cũng không thể bỏ mặc con bé mà không cứu giúp. Vậy là họ cho nó đi làm cùng. Bữa thì đi mót lạc, khi mót khoai hay đám thóc trên đồng chưa gặt hết. Khi mùa vụ qua, họ lại dẫn nó đi theo để hái chè. Được cái con bé cũng chịu khó nên dù có đói cũng hiếm khi nào đứt bữa hẳn. Những hôm chè hái được nhiều, O Thắm còn xúi nó cất bớt tiền dành khi mưa gió hay không có việc để kiếm tiền. O Thắm còn cẩn thận giữ hộ nó một ít phòng khi không có người thuê hay đồng ruộng hết thứ có thể đi bòn, đi mót. Con bé cũng tiết kiệm. Kể cả hôm kiếm được dư dư cũng không dám ăn hơn. Chỉ tội những hôm bà Ba bắt nó đi chăn trâu. Đã không cho ăn còn bắt con bé làm việc khiến nó không ít lần phải hái quả dại, rau dại để ăn cho đỡ đói. May là vườn nhà ông thầy rộng, cỏ mọc nhiều nên trâu nhà cũng ít phải đi chăn. Chỉ những khi trời rét lâu hay khi nắng rát cỏ không mọc nổi thì mới phải dắt trâu đi kiếm cỏ ở bên ngoài. Ông thầy dường như cũng biết vợ mình đối xử với đứa cháu bà Hai không ra gì nhưng lại không dám nói. Ông thì già, vợ lại trẻ. Công việc lại khiến ông hay phải vắng nhà nên mọi việc ông cứ phải giả ngơ để mặc bà Ba muốn làm gì thì làm. Ngay cả khi bà Ba đem bán con bé ông cũng không dám trách mắng nhiều. Ông chỉ lẳng lặng đi tìm rồi âm thầm chuộc nó về. Người tưởng như chả sợ ai, kể cả ma quỷ như ông thầy lại rất sợ bà Ba. Có lẽ vì bà ấy trẻ, vẫn còn đẹp nên ông muốn giữ. Sự bất công ấy đám âm binh và những linh hồn vất vưởng trong ngôi nhà, trong khu vườn đã chứng kiến hết. Chúng không dám can thiệp vào việc nhà của ông thầy. Chúng chỉ biết xót thương con bé còn nhỏ mà bị bao khổ nạn. Chỉ có hai chị em con ma nhỏ là luôn thấy bất bình. Vì chúng mất khi còn nhỏ nên không được ông thầy thu nạp. Ông cũng không nỡ đuổi khi cha mẹ chúng tiếc tiền không làm lễ cho hai chị em siêu thoát. Chị em chúng đành vất vưởng ở lại khu vườn. Không người cúng lễ chúng thành những ma đói ma khát đôi khi được đám âm binh thương tình vứt cho một ít. Thời buổi khốn khó, ông thầy cũng ít việc nên đám âm binh cũng không dư dả gì. Đồ khao quân cũng ngày một ít khiến chúng ăn còn không đủ nên cũng chả giúp hai chị em con ma nhỏ được nhiều. Sống trong cảnh đói khát nhưng hai chị em con ma nhỏ lại không bị đánh đập, bắt nạt. Những con ma lớn thương lũ ma bé đói khát nên cũng mặc kệ chúng muốn làm gì thì làm. Hai chị em con ma nhỏ lại thấy thương con bé cháu gái ông thầy khi luôn bị bà Ba đánh đập, bỏ đói. Chúng nghĩ khi còn sống chúng cũng không được bố mẹ yêu thương. Khi chết đi cũng chỉ được chôn cất qua loa cho có lệ. Không làm lễ nên đến nhà chúng cũng chẳng về được. Không chốn dung thân nên chúng mới lẩn khuất rồi ở lại nơi này. Nơi linh hồn chúng từ giã cõi đời trên chiếc phản của nhà ông thầy.Và chúng đã chứng kiến con bé bị hành hạ. Chúng muốn rủ con bé đi cùng. Ít ra đi theo chúng dù có bị đói nhưng cũng không bị đánh đập, hành hạ. Nhưng con bé đó cao vía. Dù chúng có ngọt nhạt, dỗ dành ra sao vẫn nhất quyết không đi. Nó vẫn mong một ngày được về lại với bố mẹ, với anh em ở một ngôi làng nào đó xa lắc tận ngoài Bắc. Nó còn gọi cả người đến hỗ trợ. Đó là một thanh niên nhà bên cạnh. Anh ta đã chạy đến mang con bé đi khi nó kêu cứu. Hai con ma nhỏ giận lắm. Chúng không rủ được con bé đi cùng nên quay ra căm hận người thanh niên đã cứu giúp con bé. Chúng hành anh ta ốm lên ốm xuống suốt mấy tháng mà không tìm ra bệnh. Rồi cuối cùng người thanh niên ấy cũng mất. Nhưng anh ta mất lại là xui cho chúng. Cả vùng ai cũng biết ông thầy cao tay. Thầy có thể sai khiến lũ âm binh làm nhiều việc từ trong nhà ra đến thiên hạ. Nhà ai có người ốm, người bị ma hành, quỷ nhập cũng tìm đến ông thầy. Nhưng ông thầy đã không cứu nổi người thanh niên dù là hàng xóm. Sự bất lực của ông khiến danh tiếng bị sa sút đi nhiều. Những người ở gần không còn tin vào tài phép của ông. Khách vắng khiến lũ âm binh đã đói lại càng thêm đói. Chúng bắt đầu ghét hai chị em con ma nhỏ. Chúng muốn đuổi hai chị em nó đi nhưng ông thầy lại làm ngơ. Ông không thu nạp nhưng cũng không đuổi dù biết chúng gây ra tai hoạ. Dường như ông biết điều gì đó mà đám âm binh không hay biết. Dù gì thì người chủ khu vườn không đuổi nên chúng cũng chả đủ năng lực và lý do để đuổi hai chị em con ma nhỏ đó đi. Chúng đâu biết sự hận thù đã biến chị em nó thành quỷ. Một thứ còn đáng sợ hơn cả chúng khi có thể ra tay thật tàn ác. 

    Chuyến trở lại của con bé đó đã làm cả khu vườn xáo trộn. Gần 80 năm đã trôi qua. Nhưng chúng vẫn nhận ra bà lão hom hem kia chính là con bé gầy gò của năm nào. Tại sao con bé ấy lại quay về khi đã đi biệt lâu đến thế. Cả ông thầy và bà Ba cũng đã không còn. Đám con ông bà cũng bỏ ra ngoài sinh sống. Khu vườn bị bỏ hoang đã khá lâu. Vậy mà con bé đó lại quay về.

    Hai chị em con ma nhỏ cũng ngồi đó. Cuộc trở lại bất ngờ của bà lão chính là con bé con năm xưa khiến chúng choáng váng. Vậy là con bé đó đã lập gia đình, đã có con, thậm chí có cả cháu. Nhìn con bé cháu đi cùng có vẻ nó có một cuộc sống khá tốt. Nó trông cao ráo, xinh đẹp, tóc dài, da trắng, mặt mũi tươi tỉnh. Cùng là trẻ con nhưng trong khi chúng và cả con bé năm xưa phải sống trong khốn khổ vì bị bỏ mặc, bị đánh đập, chửi mắng thì con bé cháu giống như một thiên thần. Cả người nó toát lên sự hạnh phúc, toát lên niềm vui. Những thứ đó cả cuộc đời của chị em chúng và quãng thời gian thơ ấu của con bé kia đều không có được. Một thứ ánh sáng của sự hài lòng, của niềm hạnh phúc. Chúng bỗng thấy ghen tỵ. Tại sao lại có người có được thứ mà chúng chưa hề có. Nỗi tức giận, sự ghen tỵ khiến chúng như sôi lên. Khi còn sống cả hai chị em chúng đã không nhận được tình yêu thương. Đến khi chết chúng cũng bị bỏ mặc. Ngay cả đám âm binh, dù không đánh đập, xua đuổi nhưng nhiều lúc cũng xem chúng như không tồn tại. Thi thoảng, thấy chị em chúng đói quá đám đó cũng vứt cho chút đỉnh. Nhưng chút ít ỏi đó làm sao bù đắp nổi hai cái bụng luôn bị cơn đói kêu gào. Túng thì phải tính. Chúng đã muốn rủ con bé đi cùng. Ngoài sự thương xót còn là tính toán. Con bé là cháu ngoại của ông thầy. Nếu nó mà chết, lại chết ngay trong chính ngôi nhà và khu vườn này thì ông thầy sẽ phải lập đàn cúng lễ. Ông có thể có lỗi với người sống khi làm ngơ để bà Ba hành hạ con bé. Nhưng ông không thể có lỗi với người chết bởi ông hiểu quá rõ về bọn chúng. Nếu làm cho bọn chúng giận, chúng có thể quấy phá và gây ra nhiều điều bất lợi. Chúng đã muốn ông thầy hối hận. Muốn ông phải cúng lễ tử tế cho cháu gái nếu chúng rủ được con bé đi cùng. Và nếu được như thế chúng sẽ được ăn, được dự lễ cúng – một nghi lễ mà gia đình chúng đã bỏ qua. Nhưng con bé đó dứt khoát không đi theo chúng. Nó quá khát khao được trở về với bố mẹ, với anh em, với làng quê của nó. Và nỗi tức giận càng dâng cao khi con bé được người thanh niên đó giúp. Không lôi được con bé theo thì chúng phải bắt cho bằng được người thanh niên ấy. Không biết là rủi hay may khi chúng bắt đầu lấy dần các vía và hành hạ người thanh niên ấy ốm quay ốm quắt thì ông thầy lại không có nhà. Gia đình nhà ấy đã mời những ông thầy khác để chữa trị, để cúng lễ. Chúng cũng được vài bữa no khi đứng chầu trực quanh mâm cúng ấy. Khi ông thầy trở về thì bệnh của người thanh niên đã quá nặng. Nếu ông xin chúng thì người thanh niên đó có thể không chết nhưng có sống thì cũng chả ra hồn người khi bảy vía thì đã bị chúng bắt đi năm đến sáu phần. Có lẽ nhìn thấy trước việc đó nên ông thầy đã buông tay. Anh ta chết. Chúng được no thêm vài bữa. Nhưng ông thầy đã phong ấn chúng. Chúng không thể đi đâu được nữa ngoài khu vườn. Mà khu vườn thì chỉ có ông thầy, bà Ba và con bé cháu. Ông thầy thì chúng không dám đụng và cũng không thể đụng tới. Bà Ba thì luôn có bùa bảo trợ. Con bé thì cao vía. Vậy là chúng cứ bị giam lỏng khi không thể đi nhưng ở lại cũng đói vàng đói vật. Ông thầy không xua đuổi chúng lúc mới đến nhưng cũng không thu nhận chúng. Có lẽ ông thấy chúng còn nhỏ, chúng không được việc. Cả hai chị em chúng cứ bị mắc kẹt cả khi sống cũng như khi đã chết. Ở đâu cũng không có ai quan tâm, không ai yêu thương, không ai cần đến chúng. Chúng đã khốn khổ ngay cả khi sống lẫn khi chết. Vậy mà con bé gái đi cùng bà lão ấy lại rạng rỡ đến thế. Đó là điều chúng không muốn, là điều chúng không thể chấp nhận.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XIX: TỪ BIỆT

    CHƯƠNG XIX: TỪ BIỆT

    Bà đã chính thức về với ông bà. Chuyến đi đã được báo trước, đã được chuẩn bị nên mọi việc diễn ra đúng theo ý bà dự liệu. Ngày bà đi cũng là ngày linh hồn con ma chị tan biến khỏi ngôi chùa. Nó cứ thế mà tan đi. Chắc linh hồn nó giờ đang lang thang tại một cảnh giới khác. Để rồi lại tiếp tục học những bài học khác trước khi đi đến một cảnh giới cao hơn. Con ma em khóc nấc khi không tìm thấy ma chị đâu. Nó chạy khắp trong chùa, ngoài cổng, gặp ai cũng hỏi xem có thấy chị mình ở đâu không. Nhiều hồn ma không biết chị nó đã đi đâu. Nhưng bà ma già thì biết. Trước khi đi chị nó còn nhờ bà chăm sóc, bảo ban ma em. Nó còn dặn có thể người nhà sẽ đưa bà lão ấy lên chùa vào vài tuần tới. Khi ấy con ma em sẽ có thêm một chỗ dựa. Nhưng cũng chỉ là tạm thời thôi. Rồi ma em cũng sẽ phải tự mình học lấy mọi thứ khi không còn có chị. Con ma chị đi rồi, bà ma già cũng thấy nhớ nó. Bà cũng ngộ ra hành trình của kiếp người là những chuyến đi dài không nghỉ. Gặp gỡ đấy mà chia ly ngay đấy. Con người cứ đi từ kiếp này sang kiếp khác, từ cảnh giới này sang cảnh giới khác. Có người đi mãi không nghỉ và luôn tiến về phía trước. Lại có người cứ mãi dừng chân tại một nơi vì đã chọn sai hoặc lưu luyến không nỡ rời. Như bà cũng vì lưu luyến với con cháu, với người thân, với bạn bè mà đã dừng chân khá lâu tại nơi này. Nhưng có lẽ cũng phải tính đến sự rời đi thôi. Con ma chị đến sau nhưng nó đã rời đi trước cả bà rồi.

    Những ngày gần đây, nhờ chăm nghe kinh, nghe các thầy giảng pháp bà cũng ngộ ra trong vòng luân chuyển của muôn lượng kiếp, của những cảnh giới khác nhau có những người nhờ tài học, nhờ sự thông minh mà có thể qua lại giữa các cảnh giới. Một số ông thầy có thể tự mình đi qua đi lại giữa các cảnh giới khác nhau rồi lại trở về. Khi còn sống, bà từng xem nhiều video của một thầy trên mạng. Một người có biệt tài bắt ma, diệt quỷ. Ông thầy đó có đôi tay rất đẹp. Tay thầy trắng, mịn, mềm như tay con gái. Ông đã giúp bao gia đình thoát khỏi sự quấy nhiễu của ma, của quỷ. Nhờ hay xem các clip của ông mà bà biết có những linh hồn dù đã mất mấy trăm năm nhưng vẫn chưa siêu thoát. Lại có linh hồn mới mất chưa lâu đã về nhà vì lo cho con, cho cháu. Lại có kẻ đã tự biến mình thành quỷ thành quái khi luôn thích hãm hại người. Có người bị mất khi đang ngủ, đang mê nên không nhớ nổi mình đã mất ở đâu, mất như thế nào? Ông thầy đó đã có lần dặn các đệ tử, những người hay xem clip của mình cứ niệm Natasera vào nửa đêm là sẽ có người đến và đưa đi. Ông còn nói chắc nịch về chuyện câu thần chú đó sẽ đưa mọi người du ngoạn tới cõi âm và các cảnh giới khác. Và nếu có gặp quỷ sứ thì cứ gọi tên ông là bọn chúng sẽ sợ. Khi xem các clip ấy bà cũng không tin lắm. Bà nghĩ là ông thầy ấy đang cậy tài, thị tài mà không ngại xúc phạm tới ma quỷ. Bà cũng không biết có ai làm theo lời ông thầy ấy hay không nhưng chắc chắn là nhiều người, trong đó có bà đều không dám. Cứ cho là đi được đến cõi âm thật nhưng liệu có trở về được nữa hay không thì ai dám chắc. Mà cứ cho là trở về được thì liệu những gì đã chứng kiến, đã trải nghiệm dù là trong mơ có khiến con người ta thấy xa lạ với thực tại đang sống. Khi còn sống, bà đã từng đọc, từng xem những quyển truyện, vở kịch nói về việc con người có thể du ngoạn tới cõi âm hay gặp những cơn ác mộng. Có ác mộng đến vào lúc nửa đêm. Nhưng có ác mộng xảy ra ngay giữa giấc ngủ ban ngày. Có người vì quá khiếp sợ với những đòn tra tấn của quỷ sứ với người phạm tội mà tỉnh ngộ, ăn năn chăm làm thiện, bớt việc ác. Bà cũng đã nghe nhiều chuyện, dù ở những cảnh giới khác nhau nhưng có những tần số vì hợp mà có thể tụ lại hay giao nhau dẫn đến cảm nhận, nhìn thấy, nghe thấy ở một khoảnh khắc nào đó. Cũng có thể, ở một khoảnh khắc nào đó bánh răng của tạo hoá bị sai lệch dẫn đến một vài va chạm, tiếp xúc vượt quá cảnh giới. Dù thế nào thì có lẽ cuộc sống nơi trần thế cũng không phải là duy nhất. Ngay cả cõi âm này cũng vậy. Nó cũng không phải là cảnh giới cuối cùng. Bà ma già thở dài. Bà đã tưởng đây là bến cuối nhưng sự biến mất của con ma chị khiến bà phải suy nghĩ. Bà cũng không thể ở lại mãi nơi này. Bà chợt thấy sự chờ đợi để có thể gặp gỡ lại người nhà, người thân, bạn bè khi họ đến chùa đã không còn quá quan trọng. Giờ thì bà phải đi tìm con ma em và dỗ dành nó. Cũng không biết đến bao giờ con ma em mới nguôi ngoai và quên được chị nó.

    ./.

                                                  Hà Nội, ngày 15/4/2026

    Ngô Thị Minh Nguyệt

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XVIII: SAU GIẢI THOÁT SẼ LÀ GÌ?

    CHƯƠNG XVIII: SAU GIẢI THOÁT SẼ LÀ GÌ?

    Con ma chị bỗng thấy bồn chồn. Đã mấy tuần nay bà ấy không ra chùa. Hình như bà ấy ốm nặng. Nó đã vài lần lảng vảng trước cửa nhà bà nhưng không vào được. Có rất nhiều người tụ tập trong ngôi nhà đó. Có cả người sống lẫn người đã mất trong gia đình bà ấy. Trong khi những người sống lo lắng, tất tả đi đi lại lại thì những người đã mất lại bình tĩnh chờ đợi. Một bên lo lắng về điều sắp xảy ra. Một bên thì như đã biết trước kết cục. Không biết sắp tới đây khi không còn ở cảnh giới này thì sự chia ly giữa nó và em có bịn rịn như những gì đang chứng kiến. Cũng không biết nó có chờ được để gặp lại bà ấy ở cõi âm không? Gần đây, nhiều lúc nó như thấy mình bị một lực vô hình kéo đi. Có lúc lại như thấy mình như đang tan đi. Nó đã phải cố gắng để mình không tan biến. Nó vẫn còn lo cho em. Con bé còn nhỏ quá. Những ngày qua, nó đã dặn em hãy chăm nghe kinh, chăm tham gia các đàn lễ, chăm nghe thầy giảng pháp thay vì chạy chơi suốt ngày bên đàn bồ câu. Nó nói mình có thể phải đi xa. Nhưng em nó dường như không hiểu hết những điều nó chia sẻ. Nó đã quen luôn có chị ở bên suốt bao năm qua. Nó vui khi thấy chị vui. Nó buồn khi thấy chị buồn. Chị oán hận, ghét bỏ ai nó cũng ghét luôn người đó. Chị em nó giống như kiểu cùng cộng sinh, cộng nghiệp. Có lẽ vì thế mà chị em nó đã ở bên nhau lâu đến như thế. Nhưng những gì bà ấy nói và những điều nó nghe được, học được ở ngôi chùa này đã khiến nó thay đổi. Nó hiểu mọi oán hận đều đến lúc phải buông bỏ. Khi không còn chấp niệm vào một điều gì đó thì chính là giải thoát. Nhưng giải thoát rồi thì tiếp theo sẽ là gì? Liệu có tiếp tục bị trói buộc vào một chấp niệm khác rồi đến lúc nào đó lại tỉnh ra, ngộ ra và lại giải thoát tiếp. Trong kinh phật cũng từng nói đến những giải pháp từ thấp đến cao. Nó đã từng nghe giảng khi con người còn đắm mình trong mê muội thì các Bồ tát chỉ có thể hướng họ dần dần, từng chút một. Họ sẽ phải đi từ những bài học thấp nhất, sơ khai nhất rồi đi dần lên cao. Mỗi một bài học họ đi qua là một cách tập buông bỏ, tập giải thoát. Không biết sẽ có bao nhiêu bài học về sự buông bỏ, sự giải thoát. Con đường đó phải đi đến khi nào mới là khúc cuối? Hay cái sự học, sự tu tập sẽ là mãi mãi. Các đức Phật, các đấng Bồ tát liệu có còn phải học tiếp hay họ đã đi đến giới hạn cuối cùng của sự học, của tỉnh ngộ và giải thoát khỏi mọi ràng buộc, mọi khổ đau? Các linh hồn bị kẹt lại như linh hồn cô gái tự tử khi đã tỉnh ngộ liệu có thể tiếp tục tu tập và giải thoát? Có biết bao câu hỏi, bao điều nó muốn biết nhưng lại chẳng thể hỏi ai. Bà ma già đã giúp nó trả lời nhiều câu hỏi khi chị em nó mới tới chùa. Nhưng nhiều điều nó muốn biết sau này bà ấy cũng không thể trả lời được. Những buổi dự đàn lễ, nghe giảng pháp nó cũng ngộ ra nhiều điều. Nhưng vẫn còn biết bao nhiêu điều mà nó muốn biết, muốn tìm hiểu. Ngay như việc các gia đình có người mới mất đến chùa làm lễ rồi hồi hướng công đức đọc kinh, trì tụng cho người mới mất nó cũng không hiểu lắm. Nó được giải thích rằng càng có nhiều người đọc kinh, nhiều người cùng trì tụng và hồi hướng thì người mất càng được thêm công đức. Công đức được tôn bồi thêm ấy sẽ khiến họ bớt đi những tai ách ở thế giới bên kia. Hiểu đơn giản là làm một việc tốt sẽ được xóa bớt đi một việc xấu. Nhưng sao nó hay nghe than người tốt mà không được báo đáp hay ông ấy, bà ấy hiền lành, tử tế thế mà lại gặp nạn hay bệnh tật lúc cuối đời. Liệu có lẽ nào ngoài các việc tốt mà họ đã làm vẫn còn những việc làm xấu, những ý nghĩ xấu mà họ đã làm, đã khởi lên, đã tích tụ từ vô lượng kiếp. Nhiều lúc, nó như muốn nổ tung cả cái đầu bé nhỏ khi có biết bao nhiêu câu hỏi nó muốn hỏi, muốn biết. Nhiều bữa nó cứ lân la, quanh quẩn bên các thầy đến giảng. Nó nghe các thầy giảng trước đám đông, trước các đạo hữu, các gia chủ. Nó còn hóng hớt cả khi các thầy giảng giải cụ thể một vấn đề nào đó cho một vài người hay một nhóm nhỏ. Nó còn muốn hỏi riêng thầy những điều mà nó thắc mắc. Nhưng nó không biết phải làm sao để các thầy nghe được điều nó muốn hỏi. Nhiều lần nó cố ghé tai, cố nói to hay thì thầm để các thầy nghe thấy nhưng chả có ai nghe được lời nó nói. Dường như vẫn có quá nhiều cách trở, quá nhiều những rào cản để con người ở thế giới bên này và những linh hồn ở thế giới bên kia như nó có thể giao tiếp, thấu hiểu. Những việc như nhập hồn, thoát xác, nói lên điều mình muốn không phải lúc nào, người nào cũng làm được. Tại đàn lễ giải thoát ở khu vườn đêm ấy, chị em nó và lũ âm binh đã được các thầy làm phép cho nhập hồn, nhập khẩu để nói lên mọi oán hận. Nhưng có lẽ đó lần hiếm hoi và không dễ lặp lại. Sau này, mọi giao tiếp của chị em nó chỉ còn quanh quẩn trong thế giới của những linh hồn. Chúng có thể nghe, có thể thấy mọi điều những người còn sống đang làm. Nhưng những người đang sống lại hiếm khi nghe trọn, hiểu trọn được những gì chúng muốn. Có lẽ chỉ những người cùng tần số hay các pháp sư, thầy phù thuỷ cao tay mới có thể bước qua được những lằn ranh đó. Chưa bao giờ nó lại khao khát được học, được hỏi, được hiểu về mọi thứ như lúc này. Có lẽ chỉ khi tự giải thoát ra khỏi cảnh giới này và đi tiếp thì nó mới học được, hiểu được những điều mà nó đang thắc mắc.  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XVII: AI CŨNG CẦN GIẢI THOÁT

    CHƯƠNG XVII: AI CŨNG CẦN GIẢI THOÁT

    Bà mệt nặng. Các con đã đưa bà đi khám nhưng bác sĩ nói bà không có bệnh trọng. Chỉ là các chức năng trong cơ thể đang dần suy kiệt, lão hoá vì tuổi tác. Trong khi các con lo cuống lên thì bà lại thấy thật bình thản. Bà đang đi đến những ngày cuối của cuộc đời. Nơi bà sắp tới đây có thể sẽ gặp lại nhiều người thân. Những người đã đi đến đó trước bà. Hồi con rể bà bệnh trọng. Các thầy đều đoán sẽ ra đi trong tháng nhưng rồi con rể bà đã vượt qua lời tiên đoán ấy. Nó đã sống thêm được hai tháng. Có lẽ vì còn trẻ, còn có sức và hơn tất cả là khao khát được sống, khao khát được ở cùng vợ con đã khiến con rể bà kéo dài thêm thời gian. Những ngày cuối cùng, không chỉ người nhà mà hàng xóm cũng vài lần nhìn thấy những sự lạ. Những bóng điện trước cổng chợt tối đi một khắc như có bóng ai đó vừa mới lướt qua. Cô hàng xóm còn quả quyết đã nhìn thấy cả một xe Hải Âu cũ – loại xe mà giờ các tuyến công cộng hay đường dài đã không còn sử dụng – đỗ trước cổng. Xe chở đầy người đứng lố nhố trước cổng nhà của con rể bà. Cô ấy cũng biết điều đó là không thể. Nhưng dường như những đồng đội cũ đang đến đón người đi. Con rể bà cũng có thời là bộ đội. Cậu ấy từng đi lính và chiến đấu ở mặt trận biên giới phía Bắc. Có lẽ vì thế mà đồng đội đã ghé thăm khi biết nó sắp đi xa. Chỉ có điều những đồng đội đó đều đã là người của cõi khác. Và chiếc xe Hải Âu đó gần như đã biến mất khỏi đời sống đô thị hiện đại. Có chăng đám xe cũ đó vẫn còn tồn tại ở những bản làng xa xôi, nơi để chứa chấp, tồn đọng lại những thứ đã cũ, đã bỏ đi từ các đô thị. Cũng không biết khi bà đi đến những thời khắc cuối thì sẽ có những người thân, bạn bè nào đến đón bà? Mà họ có đến chắc cũng chỉ như người đưa tiễn một đoạn rồi thôi. Chặng đường chính bà vẫn phải tự mình đi, tự mình lựa chọn và tự mình đưa ra các quyết định.  

    Những ngày chờ đợi bà cũng đã thu xếp xong mọi chuyện. Từ phân bổ chút ít tiền tiết kiệm đến những dặn dò con cái, người thân. Bà cũng đã nhờ con cháu đưa bà đến những người bà cần gặp, cần thăm, cần chào hỏi, từ biệt trước lúc đi xa. Bà đã làm xong tất cả. Bà đã sẵn sàng để có thể ra đi bất cứ lúc nào. 

    Ngày còn trẻ, có thầy khi xem cho bà đã phán:

    – Cô phải thật cẩn thận vì khi mất có khả năng cao là sẽ chỉ có một mình. 

    Khi ấy bà đã không hiểu. Bà đã hỏi đi hỏi lại rằng chồng con rồi người nhà đâu mà bà lại chỉ có một mình khi mất? Thầy đã giải thích có thể lúc đó người nhà đi vắng, chỉ có một mình bà ở nhà. Hoặc cũng có thể bà ra đi trong lúc đang ngủ. Bà cũng đã thấy vài trường hợp người mất ra đi rất nhẹ nhàng. Họ ra đi ngay trong giấc ngủ rồi không bao giờ trở dậy nữa. Ý thức về điều đó nên bà đã chủ tâm thu xếp ổn thoả mọi việc trước lúc ra đi. Bà cũng cố gắng hạn chế ít nhất những bất ngờ ngoài dự liệu. Sẽ không có những điều muốn nói mà không kịp nói. Tất cả đã được bà làm gọn ghẽ để có thể nhẹ nhàng buông xuống bất cứ lúc nào. Bà chợt nghĩ tới hai chữ giải thoát. Có lẽ nào bà đang thu xếp, đang chuẩn bị mọi thứ để tự giải thoát cho mình? Những ngày ốm bệnh bà đã nghĩ nhiều về 90 năm của cuộc đời mình. Trong đời mỗi con người do mê lầm, cố chấp mà đã tự trói buộc mình vào không ít chuyện. Có người bị trói vào nghĩa vụ chăm lo cho bố mẹ, anh em, con cháu dù đôi lúc đó không phải phận sự cũng như không ai bắt họ phải làm. Có người lại nghĩ mình phải đấu tranh cho bất công, cho người khác mà không biết mình chỉ đang nhìn sự việc ở một phía dẫn đến những sai lầm, ngộ nhận. Lại có người lấy việc hy sinh vì chồng, vì con, vì gia đình làm lẽ sống mà quên đi chính bản thân mình. Không ít người, ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đời đã tin lầm, chấp mê vào một người hay một tư tưởng, giáo phái nào đó rồi đến lúc ngộ ra lại phải chật vật tự mình giải thoát. Có cái giải thoát về mặt tinh thần khi không còn bị chấp mê vào một điều mình từng tin tưởng. Có cái giải thoát về mặt trách nhiệm và nghĩa vụ khi bao lâu nay mình cứ tự quàng vào. Nhưng nhiều nhất có lẽ là sự giải thoát khỏi tình yêu khi nhiều người nghĩ mình sẽ chết nếu thiếu đi tình yêu đó. Nhưng khi tình yêu hết hoặc bị phản bội họ đã phải chật vật bước qua đoạn tình cảm đó. Và khi đã giải thoát khỏi sự lệ thuộc, nhiều người như bừng tỉnh và nhận ra hoá ra không có người ấy mình vẫn có thể sống tốt. Đời bà đã chứng kiến không ít những câu chuyện như vậy từ người thân, người quen, từ bạn bè và cả chính mình. 

    Nghĩ đến giải thoát, bà chợt nhớ đến bà Đốc Nhân – một bà cô họ xa – với cuộc đời đầy những thăng trầm, xa xót. Ngày bà cô về làm vợ ông Đốc Nhân cả họ mừng lắm. Mừng vì bà cô được gả vào nơi yên ổn, giầu có. Mừng vì họ hàng có thể nhờ vả được chút đỉnh từ ông Đốc không chỉ về tiền bạc mà cả công việc. Ông ấy học nhiều, lại đang làm việc cho Tây nên trong mắt mọi người bên vợ ông ấy cao quý lắm. Cao quý không chỉ vì tiền bạc mà cả cái cách ông đi đứng, ăn mặc và nói chuyện. Mỗi lần về làng, ông ấy đều mặc một bộ comple trắng, đội chiếc mũ phớt, tay chống cây batong mạ vàng. Ông đi đến đâu là mùi nước hoa sực nức bay theo đến đó. Các ông bố bà mẹ khi nhìn thấy ông Đốc đều ước ao con gái mình được gả cho một người sang trọng, giầu có như thế. Bà cô của bà được gả khi vợ đầu của ông Đốc bỏ đi. Ai cũng nghĩ bà vợ bỏ đi ấy dại quá. Đâu phải ai cũng vớ được một ông chồng thơm tho, giầu có đến như thế. Nhưng mãi sau này thì mọi người mới hiểu. Ông Đốc Nhân không có khả năng sinh con. Ông lại quá sạch sẽ, kỹ tính nên người nào ở cùng ông cũng không dễ để chiều theo. Nhưng cô của bà là người khéo léo. Bà chấp nhận chuyện ông bà không thể có con chung. Bà cũng chấp nhận những kỹ tính thái quá của ông trong các sinh hoạt thường ngày. Nhưng bù lại bà có tiền bạc để lo cho bố mẹ, cho anh em và các cháu trong nhà. Được cái bà là người biết điều nên không chỉ chăm lo cho gia đình bên mình mà gia đình bên chồng bà cũng rất chu đáo. Bà nhận nuôi 3 đứa cháu bên chồng và 3 đứa cháu bên mình. Những người được bà nhận nuôi đều được cho ăn học. Năm 1954, bà theo ông Đốc vào Nam. Cả 6 người con nuôi đều đi theo bà. Nhiều gia đình còn tiếc khi không được gửi con đi theo với ông bà. Ai cũng biết bà không có con nên bao nhiêu tiền của, tâm sức bà dồn lo cho các cháu – cũng là các con nuôi của ông bà. Sau này nghe nói cả 6 người con nuôi đều được bà dựng vợ gả chồng tử tế. Thậm chí, bà còn lo vốn làm ăn, lo nhà cửa cho họ. Nhưng đến cuối đời, khi ông Đốc đã mất thì không một người con nào nhận bà về nuôi. Buồn chán, xót xa bà đã cắt đứt quan hệ với họ và với mọi người rồi vào tu trong chùa. Ai cũng trách 6 người con nuôi tệ bạc. Mấy lần, họ hàng bên chồng rồi bên bà tìm đến chùa để khuyên nhủ và muốn mang bà về sống cùng. Nhưng bà kiên quyết không gặp mặt một ai. Nhiều người thương bà cứ năn nỉ sư thầy cho gặp nhưng bà nhất quyết không ra. Bà nhắn với mọi người qua sư thầy rằng cả đời bà đã hy sinh cho họ hàng hai bên, cho anh em, cho các cháu, các con nuôi của bà. Nhưng đến cuối đời bà lại gặp phải cảnh trái ngang khi cả 6 người con nuôi đều không muốn đón bà về nhà. Bà không còn muốn bất kỳ một liên hệ nào với họ cũng như họ hàng hai bên nữa. Bà đã quy y theo Phật. Bà đã tự giải thoát mình khỏi tất cả những mối liên hệ với họ hàng. Xin mọi người đừng đến làm phiền việc tu tập của bà. Ngay cả khi mất bà cũng không muốn gặp lại họ. Bà cũng đã gửi gắm phần hậu sự của mình cho nhà chùa lo liệu. Bà không còn muốn có bất kỳ sự dính dáng nào tới họ hàng hai bên nữa. Bà muốn giải thoát khỏi tất cả. 

    Những lời bà ấy nhắn ra làm nhiều người đau đớn. Có người ôm ngực khóc nghẹn. Một người đã hy sinh tiền bạc, công sức, tuổi trẻ của mình cho bố mẹ, cho anh em, họ hàng như bà mà đến cuối đời lại muốn từ bỏ, muốn giải thoát khỏi tất cả những mối dây liên hệ thì hẳn là phải đau lòng lắm lắm. Bà Đốc Nhân đã gặp phải chuyện gì? Sáu người con nuôi của hai bên dòng họ đã đối xử ra sao để bà ấy đi đến quyết định như vậy? Có lẽ nào dòng con nuôi bên chồng lại tị nạnh với dòng con nuôi bên bà và ngược lại dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm. Không ai biết chắc nội tình nhưng ai cũng cảm thấy cả 6 người con nuôi đều rất đáng trách. Bà Đốc Nhân sẽ không đi đến quyết định cực đoan như vậy nếu chỉ cần có một người con nuôi đứng lên đảm nhận, chăm lo cho bà. 

    Đời bà cũng từng chứng kiến nhiều gia đình mâu thuẫn, tị nạnh lẫn nhau không phải do nghèo khó. Thậm chí, một số đứa con trong nhà còn thuộc dạng có của ăn của để. Nhưng sự so bì, tị nạnh giữa các con đã khiến nhiều bố mẹ già phải khổ sở, phải ngậm đắng nuốt cay lúc cuối đời. Chứng kiến nhiều chuyện bà mới hiểu không chỉ nghèo, không có tiền lo cho nhau mới khổ. Ngay cả khi giầu vẫn có thể xung đột, bất hoà khi người này người kia tị nạnh. Có của thì tị của. Không có của thì tị công. Ai cũng nghĩ mình vất vả. Ai cũng sợ mình và gia đình nhỏ của mình chịu thiệt khi phải bỏ công, bỏ của chăm bố, chăm mẹ. Những lúc ấy liệu có đứa nào nghĩ đến việc cha mẹ đã bỏ công, bỏ sức ra bao nhiêu để nuôi chúng lớn khôn. Rồi đứa khoẻ, đứa ngoan thì tốn ít tâm sức, tiền của. Đứa nào đau yếu lại lười nhác, hư hỏng thì tốn không biết bao sức, bao công, bao tiền của và cả mồ hôi, nước mắt của cha của mẹ. Các con ruột, anh chị em ruột còn đối đãi với nhau như thế thì bà Đốc Nhân với 6 đứa con nuôi của hai bên dòng họ liệu có phải cũng rơi vào vòng xoáy của sự so bì, tị nạnh? Bà Đốc Nhân đã tìm đến chùa để giải thoát mình khỏi họ hàng hai bên, khỏi 6 người con nuôi. Có người trách bà Đốc Nhân cạn nghĩ khi họ hàng còn cả đống đấy có phải ai cũng lòng dạ bạc bẽo đâu. Nhưng nhiều người thì hiểu. Đến 6 người con nuôi được bà dốc công chăm bẵm còn chả có trách nhiệm với bà lúc cuối đời thì trông mong gì ở đám họ hàng chỉ chăm chăm nhờ vả hay mong ngóng vào đống tài sản của bà. Không biết ở những ngày cuối đời bà ấy có buông bỏ được mọi thứ hay không? Bà ấy đã ra đi trong nhẹ nhàng, thanh thản hay trong đau xót, uất hận? Những ngày nương náu nơi cửa Phật, liệu bà ấy có bình tâm để tự giải thoát mình khỏi tất cả những đau đớn, hy sinh, những trách nhiệm, sự kỳ vọng mà cả đời bà đã theo đuổi. Không một ai biết thêm tin tức gì khi bà Đốc Nhân đã quyết cắt đứt, quyết tuyệt giao với tất cả. 

    Cứ vẩn vơ những câu chuyện về mình, về người bà chợt nhận ra, không chỉ những âm binh, những linh hồn đã chết bị giam giữ ở khu vườn đó mới cần đến giải thoát. Ngay cả người sống cũng phải tự giải thoát mình khỏi những sai lầm, lệ thuộc. Bà không biết tâm trạng của những người khi biết mình sắp mất sẽ như thế nào? Nhưng bà đã chứng kiến nhiều người không cam lòng. Nhất là những người còn trẻ, những người mang trong mình trọng bệnh. Họ ra đi nhưng vẫn còn nuối tiếc cuộc đời lắm. Tiếc cho đến tận phút cuối khi luôn hy vọng sẽ có một phép mầu nào đó xảy đến giúp họ chiến thắng bệnh tật và kéo dài sự sống. Cũng có lẽ họ chưa muốn rời đi vì còn quá trẻ. Còn nặng nỗi lo về cha mẹ, vợ chồng và những đứa con. Những hồn ma đó chắc sẽ còn quanh quẩn mãi bên gia đình, vợ con mà chưa thể siêu thoát. Bà không muốn mình ra đi trong tâm trạng tiếc nuối. Bà muốn được giải thoát, tự giải thoát để có thể nhẹ bước và đi.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XVI: CÒN DUYÊN SẼ GẶP LẠI

    CHƯƠNG XVI: CÒN DUYÊN SẼ GẶP LẠI

    Con ma chị vuốt vuốt tóc em. Nó vén lọn tóc bết xuống khi con bé vừa chạy chơi đùa cùng đám bồ câu hết bay lên lại sà xuống trước sân chùa. Nó ngắm nhìn gương mặt non nớt mà thấy lòng không yên. Dạo gần đây nó thấy mình lạ lắm. Người nhiều lúc cứ như muốn bay lên hay tan biến đi. Mọi thứ cứ nhẹ bẫng. Ngay cả bà ma già cũng nhận ra sự thay đổi.

    Bà bảo nó:

    – Ta trông cháu khác lắm. Thần sắc nom thư thái, nhẹ nhàng. Có lẽ cháu sẽ không còn ở đây lâu nữa đâu.

    Nó lo lắng:

    – Bà có nhìn thấy điều đó ở em của cháu không?

    Bà ma già lắc đầu:

    – Con bé ấy chắc chưa đi được đâu. Trông nó vẫn quấn quýt với nơi này lắm. Cháu nhìn nó xem, cả ngày bám theo lũ chim bồ câu. Xem ra, nó cũng vui vẻ mà.

    Con ma chị thở dài:

    – Cháu lo lắm. Cháu đi rồi thì nó sẽ ra sao?

    Bà ma già cười buồn:

    – Rồi cũng thích nghi được thôi. Ta từng không chấp nhận chuyện mình đã chết. Từng không chấp nhận việc mình không còn được hưởng những thú vui, những duyên phận đời người. Ta từng muốn hét lên khi người thân, bạn bè không nhận ra dù ta đang đứng ngay bên cạnh họ. Nhìn thấy họ cười đùa, vui thú dù không còn có mình ta cũng đau lắm. Nhưng dần dà thì ta đã chấp thuận. Chấp thuận rằng ta không còn có thể can dự vào cuộc đời của họ được nữa. Ta chỉ có thể đứng bên lề để dõi theo, để ao ước, thậm chí là lo lắng. Nhiều người cứ nghĩ, cứ mong cầu, thậm chí là nhờ vả người đã mất phù hộ cho họ làm được việc này việc kia. Có người giúp được nhưng có người thì không. Về vận hạn hay công việc cũng vậy. Có thứ chúng ta có thể tác động nhưng nhiều thứ tuy thấy trước là sẽ diễn ra mà cũng đành bất lực. Tất cả là do nghiệp, do duyên, do nhân quả đến ngày kết tụ mà mỗi người phải chịu hay được nhận. Những người còn sống hay đã mất đều phải nhận về kết quả do chính họ tạo ra. Nhưng thay vì tự mình làm, tự mình cố gắng nhiều người lại cứ mong chờ vào cầu khấn, xin xỏ. Có người lời cầu xin ấy đến đúng lúc quả tìm đến nên họ được hưởng. Nhưng họ lại tin đó là do cầu khấn, do thành tâm mà có. Đến khi tâm vẫn thành, lễ vẫn đủ, vẫn tha thiết cầu xin nhưng lại không còn được như ý nguyện họ đâm ra lo lắng, trách móc rồi đổ lỗi. Thậm chí có người còn quay ngoắt, phủ nhận tất cả những gì họ từng tin trước đó. Con người là vậy. Khi thuận lợi thì phơi phới, tin tưởng bất chấp. Nhiều người cứ nghĩ là do chăm lễ, chăm cầu mà có. Nhưng khi gặp khó khăn, gặp nghịch cảnh thì suy sụp, đổ lỗi. Họ không hiểu là mọi thứ đều có quy luật, có sự vận hành riêng. Hết thịnh rồi đến suy, hết thành rồi đến bại. Sao lại chỉ mong mình mãi thành công, mãi đứng trên đỉnh cao cơ chứ.

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Bà ơi, nếu như vậy thì tại sao lại có đông người đến chùa như thế? Và có nhiều những ngôi chùa như thế này không hả bà?  

    Bà ma già:

    – Có, có rất nhiều những ngôi chùa như thế này. Thậm chí có những ngôi chùa còn to và đẹp hơn thế này rất nhiều. Khi còn sống ta đã từng đi đến nhiều ngôi chùa như vậy. Có nơi còn là một quần thể với những ngôi chùa nối tiếp nhau. Có điểm là do thiên tạo khi trong lòng núi đá ngàn năm bỗng có những cái động, cái hang đẹp đến nao lòng. Người ta đã phát hiện, tu bổ và lấy đó làm điểm thờ cúng thần phật. Nhưng có nhiều cái là do con người tạo nên. Mọi người đến đó cũng rất đông. Người thì đi vãn cảnh, người thì đi cầu xin. Nhất là khi tết đến xuân về thì lễ hội triền miên. Đông lắm, vui lắm! 

    Con ma chị:

    – Vậy chắc nhiều người xin được điều họ muốn nên mới đi nhiều như vậy đúng không bà?

    Bà ma già:

    – Cũng không hẳn đâu. Đôi khi họ đi vì thích thú, vì thói quen, vì đám đông mà thôi.

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Nhưng các ngôi chùa như thế này cũng có chỗ cho những hồn ma như chúng ta trú ngụ và học được nhiều điều.

    Bà ma già:

    – Cái gì cũng có hai mặt. Mặt tích cực của các ngôi chùa là giúp người ta khuyến thiện, bớt tham lam, bớt làm những điều ác. Nhưng cháu cũng thấy đấy. Chùa cũng có nhiều cái bất cập. Vẫn có những cãi vã, những tranh giành, lôi kéo dẫn đến mâu thuẫn. Người đến chùa thì không phải ai cũng đều hướng đến điều thiện. Nhiều người vẫn mang theo một đống tham lam khi đến chùa để cầu xin. Tất cả là do nhận thức, do lựa chọn của từng người.

    Con ma chị dè dặt:

    – Bà ơi, nếu một ngày cháu không còn ở đây thì nhờ bà bảo ban em của cháu nhé.

    Bà ma già cười:

    – Yên tâm. Ta sẽ lo cho con bé. Ta vẫn còn muốn ở đây lâu. Ta vẫn muốn được gặp người nhà và bạn bè của mình. 

    Con ma chị thở dài:

    – Cháu cũng không muốn đi đâu nếu không có em cháu đi cùng.

    Bà ma già:

    – Dạo này cháu chăm nghe kinh. Lại tham gia các đàn pháp giảng lễ chắc cháu cũng hiểu không phải cứ muốn là sẽ được. Duyên phận giữa hai chị em cháu cũng vậy. Lúc nào phải chia xa thì sẽ phải xa nhau thôi.

    Con ma em chạy đến. Nó nghe thấy câu cuối liền mếu máo:

    – Không, cháu không xa chị cháu đâu. Chị đi đâu, cháu sẽ theo đấy.

    Con ma chị ôm lấy em, nó nhẹ nhàng:

    – Chị cũng không muốn xa em đâu. Nhưng nếu có một ngày chị đi vắng thì em phải nghe lời bà đấy nhé. Đừng có làm các việc xấu. Hãy cố gắng làm thật nhiều việc tốt. Rồi còn duyên thì chị em mình sẽ còn gặp lại. 

    Con ma em nhoẻn cười. Nó thật sự không hiểu hết những gì mà con ma chị muốn nhắn gửi.