Author: editor editor

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XV: CHUẨN BỊ HÀNH TRANG

    CHƯƠNG XV: CHUẨN BỊ HÀNH TRANG

    Dạo này bà bắt đầu thấy mệt. Nhiều lúc muốn ra chùa, muốn nghe kinh mà cái lưng nó mỏi, cái chân lại đau. Bà vẫn hay bật các băng, nghe các bài giảng giải kinh kệ nhưng không thấy thích bằng nghe nó ở chùa. Cũng vẫn nội dung ấy nhưng khi ở chùa được tắm trong không gian tĩnh lặng, trong làn khói hương và cả sự sùng bái với các đấng thần linh, các đấng Phật, Thánh những lời kinh nghe thấm hơn hẳn. Bà cũng cho con bé hàng xóm bị mất liên tiếp hai đứa con vì thai lưu nghe mấy cuốn băng này. Nó bảo con thấy nhẹ lòng khi nghe các cuộn băng bà cho. Con thấy việc hai đứa trẻ rời bỏ con chắc do chưa đủ duyên, đủ phận. Con cũng bớt thấy trách mình bà ạ. 

    Cuộc đời bà đã đi qua quá nhiều thăng trầm. Bà hiểu khi con người mải chạy theo công việc, mải lo cơm áo gạo tiền chả mấy ai thích nghe kinh, nghe pháp. Họ cũng như bà dù có thấy hay nhưng lại có nhiều cái lo khác kéo đi rồi bỏ bẵng. Chỉ đến khi gặp phải nghịch cảnh như công việc đổ bể, người thân, bạn bè lừa lọc hay khi sinh ly tử biệt mới thấy thấm, thấy thích những lời kinh, lời kệ. Khi nghe nhiều mới thấy mọi thứ cũng không còn quá quan trọng. Có những thứ mình tưởng không thể mất, không thể rời bỏ nhưng nghe nhiều lại thấy khi nó mất, nó bỏ mình đi cũng là do đã hết duyên, hết nghiệp. Nhờ có kinh kệ mà bà đã đi qua nhiều khúc quanh của cuộc đời, cả những khi tưởng khi không gượng dậy được nữa. Ngay con bé hàng xóm hai lần mất con cũng bảo nếu không nhờ nghe các băng kinh Phật bà cho chắc con đã phát điên lên mất. Mà không phát điên sao được khi cả hai lần mang thai, thai đều bị chết lưu. Có lẽ con bé vẫn chưa có duyên làm mẹ. Nhìn thấy nó buồn, nó suy sụp bà đã đưa mấy cuốn băng giảng giải về kinh Phật cho nó nghe. Không chỉ người sống, người gặp bất hạnh thấy nhẹ lòng khi nghe các bài kinh. Những người mới mất, người nhà cũng bật sẵn cái đài nhỏ để trên ban thờ hay để ngoài mộ cho đến 50 ngày. Dường như người mới mất, người vừa bị lìa xa gia đình, người thân cũng rất cần tiếng kinh, tiếng kệ để cho lòng thư thái và cũng có thể để chấp thuận dễ dàng hơn mọi việc như nó vốn thế. 

    Bà chợt nhớ đến hai chị em con ma nhỏ. Dạo này bà thấy mệt nên ít ra chùa. Không biết hai chị em chúng nó thế nào? Có vẻ như chúng đã thích nghi hơn với việc ở chùa nên không còn đến tìm bà. Nghĩ đến việc hai chị em nó quấn quýt bên nhau bà cũng thấy thương. Hai đứa trẻ cùng bất hạnh, cùng cô đơn giữa những người thân nên chỉ biết dựa vào nhau, nương theo nhau trong mọi chuyện. Con ma chị lớn hơn nên thù hận cũng sâu sắc hơn. Nhưng cũng vì nó lớn hơn nên chắc sẽ hiểu chuyện hơn. Nếu hai chị em nó bước vào con đường tu tập, chăm nghe kinh, nghe pháp thì quá tốt. Chúng sẽ thoát khỏi những oán hận và đầu thai sang một cảnh giới tốt hơn. Nhưng nếu hai chị em không cùng một mức độ tu tập thì liệu có được cùng nhau bước sang một cảnh giới khác hay không? Con chị thương em thế. Con em lại cũng quấn chị. Liệu có thể nào vì khác nhau trong tu tập mà chị em chúng bị tách rời không? Nếu như vậy thì thật tội cho chị em chúng.

    Nhưng nhân duyên ở đời, có hợp rồi sẽ có tan. Chị em chúng cũng sẽ khó tránh khỏi vòng luân chuyển đó. Ngay như bao cặp đôi yêu thương nhau thắm thiết, vượt qua bao ngăn cản mới có thể đến được với nhau. Dù có lúc họ tưởng như có thể chết vì nhau nhưng rồi những va vấp của đời sống cũng khiến cho không ít cặp đôi dần chán nản, rời bỏ thậm chí thù ghét nhau. Nếu người đời nhận thức được mọi việc đều là hữu hạn, có đến có đi, có hợp, có tan thì có lẽ đã không đau lòng đến thế. Họ cũng không cố gắng níu kéo hay đánh ghen ầm ĩ chỉ để cố giữ lại thứ đã không còn ý nghĩa. Nếu một ngày tới đây bà đi đến giới hạn cuối cùng của số mệnh thì bà sẽ chấp nhận ranh giới đó theo cách nhẹ nhàng nhất. Bà có thể sẽ gặp lại ông bà, cha mẹ, chồng và cả các bạn bè đã ra đi trước đó. Nhưng kinh nhà Phật nói mỗi người tuỳ theo nghiệp lực mà sau khi mất sẽ vãng sinh vào những cõi khác nhau. Vậy thì liệu bà có thể gặp được tất cả những người thân đã mất hay không? Hay sẽ có những người đã chuyển tới cõi khác hoặc được đầu thai lại làm người. Bà vẫn nhớ khi cô em út mất sớm vì bạo bệnh. Những giờ cuối cùng cô cứ giơ tay về phía trước để gọi mẹ. Thậm chí, cô còn nài nỉ:

    – Mẹ… mẹ cho con xin tiền!

    Những lời cô ấy nói trong phút hấp hối khiến nhiều người trào nước mắt. Mọi người đều biết cô ra đi nhưng không cam lòng. Cô vẫn còn rất trẻ, mới 58 tuổi. Cô vẫn còn một đứa con gái chưa gả chồng, chưa có nơi ở ổn định. Cô vẫn muốn lo cho nó một căn nhà trước khi mất. Ngoài gọi mẹ, cô còn gọi tên cậu cháu trai con của ông anh đã mất trước đó vì ung thư. Lúc đó, những người nhà có mặt đều nói bà ngoại và cháu Tuyến chắc về đón cô rồi. Mấy tiếng sau thì cô ấy mất. Cô ra đi mà vẫn canh cánh vì chưa lo xong nhà cửa và cưới chồng cho con gái út. Không biết ở cõi ta bà nào đó, cô ấy có buông bỏ hay vẫn còn canh cánh nỗi lo cho con. Những người đã mất khi vẫn chưa yên lòng với người còn sống liệu có yên ổn ở chốn mới hay lại quanh quẩn bên người thân vì lo lắng. Việc những người sắp chết nhìn thấy hay gọi tên những người đã mất không phải là hiếm gặp. Nhiều người vẫn bảo ông bà, cha mẹ hay những người thân về đón người sắp mất. Nếu đúng là thế thì sự ra đi của những người mới mất cũng đỡ cô đơn, đỡ hoảng sợ phần nào. Bởi ở cõi xa xăm nào đó họ không phải đi một mình khi bên cạnh vẫn còn những người thân đã mất trước đó chờ đón. Nhưng ở nhiều cuốn sách bà đọc được vẫn thấy nói con đường người mới mất phải đi là đường độc đạo. Họ chỉ có thể tự mình đi, tự mình vượt qua các chướng ngại đó. Từ sông sâu, vực thẳm đầy rắn rết đến đàn chó ngao hung dữ rồi quỷ canh cổng, thậm chí phải vượt qua cả những ma đói ma khát chắn lối. Nếu như vậy thì sự xuất hiện của những người đã mất trong những ngày cuối hay ở phút hấp hối có lẽ chỉ là sự gặp gỡ tạm thời mà thôi. 

    À, mà nếu về cõi ấy rồi liệu bà có gặp được hai chị em con ma nhỏ? Không biết khi đó chị em chúng có còn ở đó hay không? Bà đã gặp chúng nhiều lần trong lúc ngủ, khi thức, lúc mơ màng khi đối mặt trực diện. Bà cũng luôn tin rằng tâm nguyện của bà hay những lời bà rút ruột bày tỏ đã được chị em chúng nghe thấu. Nếu một lần gặp nhau trong cõi ấy bà và chị em chúng có thể nói chuyện lâu hơn. Cũng có thể sẽ thấu hiểu hoặc sáng tỏ hơn nhiều chuyện. Lâu nay, nhiều việc, nhiều chuyện liên quan tới người âm bà vẫn làm trong chấp niệm, trong sự tin tưởng. Không biết những người trong cõi ấy có biết, có nhận được những tình cảm, những hồi hướng mà gia đình, người thân đã làm cho họ?  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XIV: HỒN MA ĐẨY NGƯỜI

    CHƯƠNG XIV: HỒN MA ĐẨY NGƯỜI

    Bà cố nhấc tấm lưng đau nhức lại gần bên cửa sổ. Giờ này cô giúp việc chắc vẫn đang lang thang đâu đó ngoài chợ. Con bé lam làm, sạch sẽ nhưng có tật hay thích buôn chuyện. Hễ có thời gian là nó lê la buôn đủ thứ với các bà, rồi với giúp việc các nhà trong ngõ. Qua nó, bà cũng biết thêm nhiều chuyện, thậm chí cả những chuyện thâm cung bí sử trong các gia đình. Chuyện cãi nhau bí mật giữa hai vợ chồng qua miệng các cô giúp việc cũng lan ra khắp ngõ. Qua các câu chuyện lê la ấy, chuyện đầu ngõ bên cạnh có con ma tóc dài hay đứng phía sau cổng cơ quan cũng được nhiều người bàn tán. Ngõ bên đó, ngoài là cổng vào của một cơ quan còn có hai dãy nhà tập thể. Trước mặt cơ quan là một khoảng sân rộng để xe cơ quan và trông thêm ô tô cho các nhà trong ngõ. Vì trông thêm ô tô nên phía ngoài cổng luôn có bảo vệ trông giữ. Ấy vậy mà nhiều người yêu bóng vía khi đi đêm về hôm vẫn nhìn thấy một cái bóng phụ nữ tóc dài đứng ngay phía trong cổng. Nhiều người cứng miệng bảo chỗ nào chả có ma, ma mới rồi ma cũ, ma chết tận kiếp nảo kiếp nào rồi. Dù có là ma thì nó cũng chỉ đứng đó, hù doạ những người yếu bóng vía chứ làm sao mà vào trong các gia đình được bởi nhà nào cũng có thổ công hay ông bà trấn giữ. Mạnh miệng là thế nhưng có vài nhà sau một thời gian sợ quá lại len lén bán nhà rồi chuyển đi khi nói luôn cảm thấy lạnh hết sau gáy khi sớm tối đi qua cái cổng đó. Rồi vài người già, trẻ con cứ quả quyết nghe thấy tiếng gõ cửa lúc đêm khuya. Có cô gái thuê nhà ở ngay tầng một vừa làm chỗ ở vừa mở cửa hàng cắt tóc, gội đầu còn kể cứ quãng sau 6 giờ chiều là người lúc nào cũng thấy lạnh. Gai ốc cứ nổi lên hết lần này đến lần khác. Mà khổ nỗi vì làm dịch vụ nên cô không thể đóng cửa mà luôn phải mở rộng cả hai cánh để đón khách vào gội đầu, làm tóc từ sáng tới tận khuya. 

    Vì luôn cảm thấy bất an nên một lần cô theo người trong ngõ mách bảo đi xem. Vừa nhìn thấy cô, bà thầy nói luôn: có một vong áo trắng, tóc dài đi theo cô. Cô hỏi có phải là người nhà không thì bà thầy nói không phải. Đó là vong vô thừa nhận ở gần nhà. Cô gái chợt nhớ đến chuyện có một vong ma nữ tóc dài vẫn râm ran khắp xóm. Cô kể lại chuyện đó với bà thầy. Bà thầy nói:

    – May là hôm nay cô đến tôi nếu không sẽ bị nó lấy dần đi các vía vì hợp đấy.

    Cô gái lo lắng:

    – Con có phải làm lễ gì không hả bà chứ mới thuê nhà đó, sửa chữa mất một mớ giờ chuyển đi thì cũng phí. Mà thuê chỗ mới thì chắc gì chỗ đó đã không có vong. Không vong trong nhà thì vong ngoài ngõ. Không vong cũ thì biết đâu lại sẽ có vong mới vừa mất. Cứ chuyển chỗ như thế thì biết đến bao giờ mới có được một tệp khách quen. 

    Bà thầy cười nhẹ:

    – Không phải chuyển đi đâu, cũng không phải lễ bái gì hết. Cô nghe tôi về đun một nồi bồ kết, vỏ bưởi thêm gừng, sả, chút muối và ít rượu rồi tắm gội trong vòng 9 ngày. Nếu sau 9 ngày tắm gội như vậy mà vẫn còn cảm giác gai người, lạnh gáy thì đến đây tôi làm bùa cho. Giờ âm thịnh dương suy nên sinh ra nhiều ma quái. Nhưng cái giống này hễ chiều theo nó cúng lễ thì chúng sẽ được voi đòi tiên. Nó sẽ đòi hỏi không biết đâu là điểm dừng. Nên cứ kệ nó đi. 

    Bà nghe kể hôm đó bà thầy còn bảo vong nữ này vẫn còn hiền đấy chứ bà từng gặp nhiều vong kinh khủng hơn thế. Nói đâu xa, ngay mấy đoạn đường trong phố đông người là thế mà có đoạn cũng có ma nữ trấn giữ. Ác ở chỗ ma nữ này lại rất thích đẩy ngã người tham gia giao thông. Có người bị nó đẩy loạng choạng xe chực ngã. Người thì đang đi tay lái xe như bị ai giật rồi ngã văng xuống đường dù bên cạnh chả có ai. Người thì ngã ra bị xe khác tông vào rồi kéo đi dẫn tới gãy tay gãy chân. Thậm chí còn có người đã chết vì bị nó đẩy. Đa số mọi người chẳng biết vì sao mình ngã. Nhiều người chỉ nghĩ do mình đen đủi hay vô ý, lơ đãng lúc giao thông. Nhiều người lại nghĩ do xe khác đi ẩu mà va phải mình rồi viện đến năm xung tháng hạn. Chỉ có vài người do hợp, do giác quan nhạy bén nên nhìn rõ đoạn đường đó có vong và nhìn thấy cả việc nó ra tay đẩy người. Có người tuy không ngã nhưng lại bị nó dắt đi vòng quanh hàng tiếng đồng hồ. Sau một hồi đi ngược đi xuôi lại thấy về đúng chỗ gốc cây đó. Loanh quanh một hồi rồi mới thoát ra được. Có lẽ vong đùa chán nên không thèm trêu nữa nên mới thoát ra khỏi đoạn đường đó. Những chuyện đó có người tin người không. Nhưng một số người sau mấy lần bị ngã, bị đùa trêu như vậy đành tránh con đường đó ra không dám đi qua nữa. Chuyện đó cũng lý giải vì sao tại một số cung đường tỷ lệ tai nạn lại nhiều hơn ở những đoạn đường khác. 

    Chuyện ma nữ đẩy người khiến bà liên hệ lại chuyện cậu con trai cả luôn bị lạng xe khi đi vào con đường ngang gần bệnh viện khi đi chăm bố. Rồi chuyện chú của đồng nghiệp con gái bà bị tai nạn chết trên đường phải chờ người hợp vía đi qua để nhập vào. Thế giới của người sống và người chết đang ngày một đang cài chặt chẽ. Không còn là chuyện gặp ma lúc đi đêm về hôm hay ở những cung đường hoang vắng. Giờ người ta có thể nhìn thấy vong ngay cả giữa ban ngày hay tại các khu dân cư đông đúc. Vấn đề chỉ là nó hợp ai, trêu ai trong số những người xung quanh. Ngay cả những khu chung cư cao tầng cũng có sự lạ. Có khu cả dãy không sao chỉ có duy nhất một nhánh là luôn gặp sự cố từ nhà tầng thấp đến nhà tầng cao. Người ta lý giải nhánh đó có thể xây lên trên mộ hoặc vẫn còn có vong nào đó ám ngự chưa đi nên về quấy quả. Mấy chuyện giết người gần đây tại chung cư rồi phân xác phi tang hay để xác chết khô trong phòng cũng gây nhiều hoang mang. Những linh hồn tức tưởi đó liệu có siêu thoát hay vẫn quanh quẩn nơi mình đã gặp nạn. Rồi những hộ cùng tầng, cùng dẫy có phải sẽ hay gặp ma khi linh hồn người mất vẫn lảng vảng quanh đó? Từng có chuyện thang máy cứ đi lên rồi đi xuống dù không có ai bước vào. Hay có người kể nhìn thấy những cái bóng mờ mờ đứng lẫn cùng người ở trong thang máy. Điều này chắc ở mấy bệnh viện ung bướu sẽ có nhiều hơn khi tỷ lệ người mất vì bệnh khá nhiều. Càng ngày lại càng có thêm nhiều người có thể nhìn thấy hay bị người âm quấy quả. Có lẽ nào đang có những xáo động, biến đổi khiến tầng sống của người trần và người âm bị va trộn, chồng lấn. Mấy hôm rồi xem ti vi bà thấy chiến tranh đang diễn ra tại nhiều nơi. Những quả đạn tên lửa rồi đầu đạn hạt nhân bị đem ra triệt hạ, hù doạ lẫn nhau. Có những thành phố đã bị san phẳng. Nhiều người đã chết chỉ sau một đợt oanh kích. Vậy có bao nhiêu người chết là đúng số, đúng mệnh? Và có bao nhiêu người là chết oan uổng khi bị kẹt giữa hai làn đạn, giữa những cuộc chiến? Và những linh hồn chết oan liệu có siêu thoát hay vẫn quanh quẩn đâu đó để tìm kiếm, để trả thù. Câu hỏi đó bà đã tự hỏi mình không biết bao lần. Những linh hồn chết oan liệu có thể siêu thoát, đầu thai hay vẫn lơ lửng đâu đó để tìm kiếm nguyên nhân, để trả thù những kẻ đã sát hại mình. Lâu dần khi không tìm được kẻ đã hại chết mình thì liệu những linh hồn chứa đầy oán hận đó có quay sang thù đời, thù người và gây lên những cái chết thương tâm khác hay không? Những chuyện như hồn ma nữ luôn rình rập để đẩy người ta ngã trên những cung đường nào đó liệu có phải cũng vì thù đời, thù người nên bao oán hận mới trút xuống người đi đường. Những linh hồn đó liệu có tan biến theo thời gian hay vẫn luôn ở đó dù đã có thêm những nạn nhân mới thế chỗ? Liệu có mối liên hệ nào không khi giữa bao người cùng đi qua đó nhưng chỉ một số người thực sự nhìn thấy, thực sự gặp nạn? Sao càng ngày bà lại càng muốn hiểu sâu hơn về mối liên hệ giữa những người còn sống và những người đã chết. Có lẽ nào bà đang tự chuẩn bị kiến thức, hành trang cho mình để có thể yên tâm khi bước vào một chặng đường mới? Bà tiếc mình không còn đủ sức khoẻ để theo các đoàn đi lễ. Nếu đi được biết đâu bà có thể tìm gặp các thầy, các nhà sư cao minh ngõ hầu giải đáp cho những thắc mắc của mình.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XIII: LO CHO EM

    CHƯƠNG XIII: LO CHO EM

    Dạo này con ma chị thấy lòng nhẹ hẳn. Nó không còn bực, còn cáu khi gặp phải những cảnh trái tai gai mắt. Nó cũng không còn so bì, hơn thua với những người, những việc nó gặp. Ngay cả việc ăn uống nó cũng xem nhẹ. Trong khi nhiều hồn ma khác lao vào tranh cướp những đồ cúng tế thì nó lại thấy dửng dưng. Có ăn cũng được, không có cũng thôi. Nó chỉ lấy một ít để cho ma em không thèm, không đói. Nghĩ đến em, nó lại chợt lo. Nếu nó đã buông bỏ, đã tinh tấn vì thay đổi nhiều khi nghe pháp, nghe kinh thì em nó liệu đã chuyển hoá ngang bằng chưa? Nó nghe bảo tuỳ theo nghiệp lực, sự tinh tấn tu hành mà sẽ được chuyển tới những cảnh giới khác nhau. Nếu theo giáo lý đó thì hai chị em nó phải có cùng độ tinh tấn, chuyển hoá thì mới cùng đi đến một nơi được. Hai chị em nó từ nhỏ đã gắn bó. Vì cùng là chị em gái, cùng bị bỏ mặc nên biết nương tựa, thương yêu nhau. Khi cả hai chị em cùng ốm, cùng mất chúng càng thêm quấn quýt. Nhiều lần nó đã nhịn cho em ăn. Nó biết em nó cũng yêu thương nó lắm lắm. Nhưng con bé còn nhỏ quá. Mọi việc nó đều dựa vào chị. Ngay cả sự thù hận, ghét bỏ cha mẹ, ông bà cũng là do nó cứ ngày ngày than vãn và thổi vào tai đứa em. Chứ con bé còn nhỏ đã cảm nhận được nhiều đâu. Bao nhiêu năm chị em gắn bó nếu giờ chỉ mình nó tinh tấn, được chuyển sang cảnh giới khác mà không có em thì nó sẽ không muốn đi. Nhưng đâu phải việc gì cũng sẽ theo ý của chị em nó chứ. Nếu đến một lúc nào đó chị em nó bị tách khỏi nhau thì nó sẽ phải làm gì? Em của nó bơ vơ một mình thì sẽ ra sao? Ai là người sẽ chăm lo, bảo vệ con bé không bị chèn ép, bắt nạt? Ai sẽ đồng hành và hướng dẫn nó tiếp tục tu tập và tinh tấn lên một tầm nấc mới? Có cách nào để hai chị em nó mãi mãi bên nhau không? Nó thì sẽ nguyện vì em mà đi đến bất cứ nơi đâu nhưng liệu có được như ý? Hay là nó sẽ hạ thấp mình xuống để mãi mãi ngang bằng, mãi mãi ở bên em. 

    Giờ thì nó đã hiểu được phần nào về tình cảm lúc nóng lúc lạnh của bà ma già với các con. Nó chỉ là chị nhưng luôn thấy mình có trách nhiệm phải bao bọc, bảo vệ đứa em mình. Nhiều lúc nó phát bực khi em cứ mải vui, mãi giỡn với mấy con chim bồ câu lúc bay lên khi bay xuống mà không chịu ngồi nghe kinh, nghe pháp. Có lúc con bé lại bỏ ăn chỉ vì mải nhìn đàn cá koi lượn lờ dưới cái hồ bán nguyệt. Đôi lúc, nó lân la đi theo đám ma bặm trợn ra ngoài xem cãi chửi nhau mặc chị nó đang ngồi nghe kinh, nghe giảng. Những lúc ấy nó thật bực. Em không chịu nghe kinh, không chịu tu tập thì làm sao hai chị em ở cùng một tầng nấc được chứ? Rồi sau này vì khác biệt mà mỗi chị em bị đi vào một cảnh giới khác nhau thì phải làm sao? Liệu khi đó em có bị kẻ xấu dụ dỗ rồi làm việc xấu, việc ác khiến phải rơi vào ngạ quỷ, vào kiếp đoạ đầy hay không? Nó thấy lo lắm. Nó đã cố giảng giải cho em nó hiểu chỉ có chăm nghe kinh, nghe giảng rồi buông bỏ dần các chấp niệm, những sân hận, thù oán thì tâm mới tịnh, người mới nhẹ nhưng con bé có vẻ mơ màng lắm. Không biết do nó không hiểu hay không chú tâm. Nó còn quá bé mà. Nó đâu có hiểu hết mọi chuyện. Nó vừa bực, vừa lo lại vừa thương em. Khi nó cằn nhằn với bà ma già, bà ấy cười bảo:

    – Cháu lo cho cháu trước đi. Con bé nó sẽ có cách đi của riêng nó. 

    Ôi cách đi riêng gì chứ? Bao lâu nay con bé vẫn nghe theo, làm theo mọi điều nó bảo, nó làm mà. Bà ma già hay bảo con bé nó không ôm sân hận lớn như cháu nên tâm nó không bị cật vấn, không bị day dứt. Biết đâu nó sẽ nhẹ nhàng đón nhận mọi thứ hơn. Có lẽ con bé còn chuyển kiếp nhanh hơn cả cháu ấy chứ – bà ấy đùa. Nếu đúng như bà ấy nói thì nó cũng đỡ lo nhưng vẫn sẽ canh cánh khi hai chị em không còn được ở bên nhau. Nhưng nếu đó là cạn duyên, hết duyên thì sao? Mọi việc, mọi gặp gỡ, liên hệ ở đời chả tuỳ theo duyên và nghiệp đấy thôi. Như vợ chồng bà lão ấy yêu thương nhau đến thế rồi cũng mỗi người mỗi ngả, âm dương cách biệt do bệnh tật, do nghiệp duyên đã đến lúc cạn. Ngay cả bà ma già, dù hiểu rõ giáo lý nhưng vẫn không muốn tu tập, tinh tấn lên vì mãi vướng luỵ cái tình, cái thích ở nơi đây. Bà ấy bảo chỉ cần nhìn thấy người quen, người nhà hay bạn bè ra chùa là đã thấy vui, thấy quấn quýt mà không nỡ rời. Cứ nhìn họ là bà lại nhớ đến những chuyện từng có giữa bà với họ. Với đám con cái là những ngày mẹ con yêu thương, đùm bọc nhau. Cả những khi chúng nâng giấc, đút cho bà từng muỗng cháo, miếng cơm khi bà nằm liệt. Khi thấy chúng nhanh nhanh chóng chóng ra về khi hương còn chưa cháy được bao nhiêu thì bà lại giận. Lại nhớ đến khi chúng ca cẩm hay lén thở dài vì phải chăm bà quá lâu, quá mệt. Cả khi chúng thở than với nhau vì không có thời gian tụ tập, chơi bời với bạn bè, đồng nghiệp vì phải chăm mẹ ốm, mẹ liệt. Với các bà bạn, bà cũng hay nhớ những khi họ cùng tập, cùng nhẩy các điệu dân vũ cùng nhau. Mấy bà ấy người thì vẫn còn khoẻ, người thì bắt đầu than ốm, than mệt. Vài người khi lên chùa vẫn nhớ đến bà nên qua ban vong thắp cho bà nén hương rồi lầm rầm nhắc đến những kỷ niệm đã có giữa họ. Những khi ấy bà lại thấy tiếc đời, lại ước như mình không bị bệnh mất sớm thì giờ vẫn còn được vui vẻ như họ. Lại có kẻ chả thèm bận tâm khi một cái liếc mắt, một cái vái lậy cũng tiếc mà bỏ qua ban vong – nơi bà được các con thỉnh lên. Những lúc ấy bà ma già buồn lắm. Nhưng dù có thế này, thế khác thì bà ấy vẫn cứ vương vấn nơi này, nơi bà có thể gặp lại những người quen, người thân ra vào lễ chùa. Bà ấy thấy cũng ổn và không muốn tu tiếp để chuyển đến những cảnh giới cao hơn. Với bà ấy, được ở đây, ở mãi không gian này cũng thấy ổn rồi.  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XII: NGƯỜI MẤT MỘ

    CHƯƠNG XII: NGƯỜI MẤT MỘ

    Hôm nay nắng nhẹ, bà bảo cô giúp việc kê một chiếc ghế ra ban công cho bà ngồi ngắm nắng. Nắng thật nhẹ, gió cũng vừa phải khi không làm người ta cảm thấy lạnh. Những hôm thời tiết đẹp như thế này cũng không có nhiều. Nó chỉ là quãng giao thời ngắn ngủi giữa những ngày đông giá rét và những ngày xuân ấm áp. À có một thời điểm giao mùa nữa cũng rất đẹp khi kết thúc nắng hạ để chuyển sang thu. Những quãng thời gian đó, thời tiết đẹp đến nỗi đôi khi con người ta chợt quên đi những nhọc nhằn, vất vả, lo toan của kiếp người. Bà đã nhiều lần tự đắm mình trong những thời khắc đó. Ngày còn trẻ, ông bà cũng hay đưa nhau đi dạo trong những hôm thời tiết đẹp. Ban đầu là những chuyến dạo chơi trong công viên, men theo những lối đi nhỏ có rải sỏi giữa các hàng cây. Đôi khi cả hai người ngồi thật lâu trên chiếc ghế đá trước mặt hồ rộng. Sau này có con rồi có tuổi, những hôm thời tiết đẹp ông bà cũng hay kê ghế ra ban công để ngồi, để ngắm trời ngắm đất. Ông cũng đã bỏ bà để đi về cõi ấy hơn một năm rồi. Không biết ở nơi ấy thời tiết sẽ như thế nào? Có còn những khoảnh khắc giao mùa khiến con người như muốn dừng lại, chậm lại để nhìn ngắm, để cảm nhận hay không?

    Dạo này bà rất hay mơ thấy những người đã mất. Có hôm mơ thấy bố đẻ bà về. Bà là người giống ông nhiều nhất trong số 10 người con cả trai lẫn gái. Ai cũng bảo con gái giống cha giầu ba mươi đụn. Nhưng cả đời bà đều vất vả. Khi bé thì bị bố mẹ cho đi ăn đi ở với ông ngoại và bà Ba. Lớn lên lấy chồng thì con đông lại nghèo nên cũng vất vả. Có lần bà đã hỏi: Sao tôi giống cha mà cuộc đời lại vất vả thế? Ông thầy bói cười bảo:

    – Vì bà giống bố nên mới qua được các ách nạn đó chứ không thì còn khổ nữa. 

    Bà cũng chả biết nếu không giống bố nhiều thế thì đời bà sẽ khổ đến mức nào? Nhưng một số người em của bà tuy không giống bố nhiều như bà nhưng cuộc đời họ dường như an nhàn, thuận lợi hơn bà nhiều. Xem ra, không phải câu nói nào của cổ nhân để lại cũng đều đúng cả. 

    Bà cũng hay nằm mơ thấy mẹ. Cả bà dì em ruột của mẹ bà cũng thi thoảng mơ thấy. Trong những giấc mơ ấy, cả bố mẹ và bà dì đều không nói nhiều nhưng khá vui vẻ. Có lẽ ở thế giới bên ấy mọi việc cũng không quá tệ nên tâm trạng mọi người mới tươi tỉnh như thế. Nói đến mơ, bà chợt nhớ đến cô con gái. Nó đã có lần kể, khi mẹ chồng mới mất nó đã mơ thấy bà về. Khác với vẻ nằm liệt khi còn sống mẹ chồng nó cười nói vui vẻ như lúc chưa bị bệnh. Bà về để nói một câu mà con gái bà nhớ mãi. Bà ấy đã bảo với con gái bà rằng: Nói gì thì nói mẹ vẫn yêu chị Ngọc hơn con. Ngọc là tên của chị chồng nó đã mất vì ung thư. Con gái bà nghe vậy thì cười lớn và bảo: Mẹ yêu chị Ngọc hơn con là đúng rồi! Chị ấy là con gái ruột của mẹ mà. Con chỉ là con dâu thôi. Nó kể khi nói xong câu đó thì mẹ chồng nó vui lắm. 

    Câu chuyện ấy làm bà suy nghĩ mãi. Bà biết con gái vẫn hậm hực với chị chồng khi phải một mình chăm mẹ chồng mà không có sự hỗ trợ, đỡ đần gì từ chị ấy. Có lẽ, con gái bà cũng từng nói ra điều ấy khi phải một mình chăm sóc mẹ chồng. Bà thông gia của bà là người hiền lành và ít nói. Nhưng chắc bà ấy cũng cảm nhận được sự hậm hực từ cô con dâu với con gái mình. Và khi đã về đến thế giới bên kia có lẽ bà ấy vẫn canh cánh trong lòng vì điều đó. Cuộc trở về trong mơ đã cho bà dũng khí khi dám nói thẳng: Nói gì thì nói mẹ vẫn yêu chị Ngọc hơn con. Bà ấy yêu cô Ngọc cũng là phải lẽ. Cô ấy là con gái của bà lại mất sớm vì ung thư. May là con gái bà tiếp nhận chuyện ấy cũng nhẹ nhàng. Nó luôn hiểu không gì thay thế được tình yêu của mẹ dành cho con gái dù nó có đối tốt với bà đến đâu. Sự thấu hiểu ấy đã mang lại cảm giác nhẹ nhàng cho cả mẹ chồng và nàng dâu. Chuyện nó kể cũng cho bà thấy vẫn có sự tiếp nối giữa hai thế giới. Bà thông gia của bà đã không dám nói ra điều bà ấy nghĩ khi còn sống có lẽ vì quá hiền hoặc vì không muốn mất lòng cô con dâu đang chăm sóc mình. Nhưng sự tiếp nhận nhẹ nhàng của con dâu có lẽ cũng khiến bà ấy cảm thấy an lòng. Nghe kể bà ấy còn về mấy lần sau đó trong những giấc mơ của con gái bà. Cháu ngoại bà còn kể có lần nó tỉnh dậy giữa đêm. Nó nhìn ra phía bàn học vẫn còn sáng đèn do quên tắt và thấy bà nội đang ngồi ở đó. Mái tóc trắng nhẹ bay. 

    Bà đã hỏi nó: 

    – Con có sợ khi nhìn thấy bà nội như vậy hay không?

    Nó hồn nhiên: 

    – Con không thấy sợ bà ạ! Người nhà cả mà.

    Bà thông gia là người hiền lành khi còn sống. Có lẽ vì thế mà cả con gái lẫn cháu ngoại của bà đều thân thiết, gắn bó với bà ấy. Sống hiền lành là thế, mà khi mất bà ấy lại rất thiêng. Cái thiêng ấy thể hiện ngay khi bà mới mất được khoảng hai đến ba tuần. Con gái bà kể rằng nó đã mời các bà trong xóm thuộc đội quy y đến tụng kinh cho mẹ chồng vào các ngày tuần. Trong tuần tụng kinh thứ hai hay thứ ba bà cũng không nhớ rõ. Một bà trong đội tụng kinh sang muộn và kể với con gái bà:

    – Ôi, cô sợ quá! Sáng nay cô dậy đi lễ sớm nên người hơi mệt. Cô đã định không sang tụng kinh cho bà. Đang nằm lơ mơ thì thấy mẹ chồng dắt tay chị chồng cháu đến và gọi: Bà ơi, sang tụng kinh đi! Cô sợ quá vội vùng dậy mặc áo và sang đây tụng kinh cho bà. 

    Con gái bà nghe thế thì hỏi dồn:

    – Cả chị chồng cháu cũng đi cùng với mẹ cháu ạ?

    – Ừ, cả hai mẹ con cùng sang gọi cô mà. Bà hàng xóm khẳng định.

    Con gái bà vẫn chưa tin hẳn:

    – Cô vẫn còn nhớ mặt chị chồng cháu hả?

    Bà hàng xóm gắt nhẹ:

    – Mày vớ vẩn. Nó ở đây mãi tao còn lạ gì. 

    Không biết có phải vì nghe con gái kể vậy hay không mà mỗi lần lên chơi, thắp hương lên ban thờ bà như thấy bà thông gia vẫn còn ở đó. Sự hiện diện ấy càng giống như thật qua bức ảnh sống động được đặt trên ban thờ. Trong ảnh bà thông gia trông như đang cười. Chính con rể bà đã chụp cho mẹ bức ảnh ấy khi còn sống. Và chúng đã lấy bức ảnh đó làm ảnh thờ và làm ảnh khắc lên bia mộ mẹ. Bức ảnh thể hiện được hết thần thái rạng rỡ, vui vẻ của bà thông gia. Khi nghe con gái kể bà thông gia về nhà nghe kinh cùng cô con gái đã mất bà cũng thấy an lòng. Bà thông gia hiền lành có tiếng. Giờ về bên ấy lại có cô con gái bên cạnh thì yên tâm quá. Cô ấy mất trước mẹ khoảng hai năm vì bạo bệnh. Có mẹ có con chăm lo cho nhau bà ấy cũng đỡ cô đơn. Bà chợt nghĩ: Không biết khi về bên ấy rồi thì bà có được ở cạnh chồng mình hay không? Nếu được như vậy thì bà cũng thấy mãn nguyện.

    Lại nói chuyện về ảnh. Bà nhớ trên ban thờ của nhà con gái ngoài ảnh của ông bà thông gia còn có ảnh của ông nội, bà thứ ba và bà nội của con rể. Ông nội của cậu con rể nhà bà làm quan lớn thời Pháp và có đến 5 bà vợ. Bà nội của cậu con rể là bà thứ năm. Bà ấy mất khi hai con còn nhỏ. Ông thông gia nhà bà và cô em gái được bà Ba mang về nuôi. Chính vì thế mà khi còn sống ngoài thờ bố ông ấy còn thờ cả hai bà mẹ. Bà thứ năm không chỉ mất sớm mà ngôi mộ còn bị mất khi chiến tranh biên giới nổ ra. Khi còn sống ông thông gia nhà bà vẫn luôn day dứt về điều ấy. Ông luôn thắc mắc bị mất mộ như vậy thì mẹ mình sẽ ở đâu? Bà có về được với gia đình, với các con hay không? Những thắc mắc ấy không một ai có thể trả lời giúp ông. Nhưng có một lần con bé cháu bà lên chơi và ngủ trưa tại nhà thông gia. Sau giấc ngủ ngắn nó tỉnh dậy và kể với mọi người: Lúc con ngủ có hai bà dắt tay nhau về và ngó vào mặt của con. 

    Con gái bà hỏi dồn:

    – Hai bà nào? Sao lại ngó vào mặt con?

    Con bé tỉnh bơ:

    – Con không biết. Con chỉ thấy hai bà đến và ngó vào mặt con rồi đi. 

    Con gái bà lại hỏi:

    – Nhưng tại sao con lại biết đó là hai bà?

    Con bé thật thà:

    – Vì con đã nhìn thấy ảnh của hai bà ấy trên bàn thờ nhà cô mà. 

    Sau lần ấy con gái bà tin chắc là bà Năm, bà nội của chồng nó dù bị mất mộ nhưng linh hồn của bà ấy vẫn còn. Và quan trọng là bà vẫn có thể về được nhà của các con, các cháu mình. Bằng chứng là bà đã về cùng với bà Ba và ngó vào mặt của đứa cháu bà đấy thôi. Sự tin tưởng đó cũng giúp con rể bà vơi đi một mối lo. Bố cậu ấy là con trai duy nhất của bà Năm. Ngoài ông ấy ra, bà Năm còn có một cô con gái. Tuy nhiên, con trai vẫn là người phải lo hương hoả, mồ mả cho cha mẹ. Khi bà Năm bị mất mộ, ông thông gia buồn lắm. Ông đã mấy lần cậy nhờ người này người khác tìm kiếm xem có manh mối nào không? Nhưng cả mấy tỉnh biên giới đều bị tàn phá tan hoang trong cuộc chiến biên giới phía Bắc. Mộ của bà Năm cũng bị mất trong đợt đó. Có lần, ông ấy còn định nhờ thầy làm mộ giả ở quê cho bà nhưng có người gàn. Họ nói, mộ không có âm khí có thể là chỗ để ma quỷ trú ngụ. Và nếu như vậy thì thật nguy khi mỗi lần giỗ tết con cháu lại vái lậy một người không rõ danh tính đang trú trong ngôi mộ. Việc bà Năm cùng với bà Ba về nhà đã giải toả được phần nào những lo lắng, bất an của con rể bà. Nhiều gia đình lỡ bị mất mồ, mất mả của người thân có thể cũng bớt lo lắng khi người đã mất vẫn có thể đang ở đâu đó và quan trọng nhất là họ có thể về nhà. 

    Việc bị mất mồ mất mả xưa nay cũng không phải hiếm. Chiến tranh liên miên, biết bao làng mạc còn bị xoá sổ thì những nấm mồ sao có thể thoát khỏi sự cày phá của bom đạn. Chưa kể còn thiên tai, lũ lụt cũng như sự thờ ơ của hậu bối, của con cháu đối với mồ mả của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Gần đây, nhiều người lại sính việc thả tro cốt ra sông, ra hồ cho mát. Bà cũng đọc được ở đâu đó rằng việc không có mồ mả khi mất cũng không quá quan trọng. Đôi khi, nó lại còn giúp người đã mất nhanh siêu thoát hơn khi không còn bị chấp nê vào mồ cao hay mả đẹp. Chả biết trong mớ lý thuyết đó cái nào đúng, cái nào sai. Nhưng việc bà Năm về được nhà khiến bà càng tin hơn về sợi dây liên kết giữa người sống và người đã mất.  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XI: CẦU XIN TÌNH YÊU

    CHƯƠNG XI: CẦU XIN TÌNH YÊU

    Cuộc trò chuyện với hồn ma xanh lướt làm con ma chị thấy bối rối. Rõ là hồn ma đó đã rất hối hận về việc tự kết liễu cuộc đời mình. Nhưng cái thứ tình yêu quỷ quái nào đã khiến người ta đau lòng đến độ phải tự mình tìm đến cái chết như vậy? Đứng trước nỗi đau tự huỷ hoại mình của hồn ma xanh lướt, con ma chị chợt thấy những đau khổ, oán hận mà chị em nó phải chịu dường như nhẹ nhàng hơn. Nhưng thứ tình cảm đó như thế nào nhỉ? Con ma chị vẫn không thể nào hiểu nổi. Ôm theo nỗi thắc mắc, con ma chị cứ bám theo những nam nữ đến chùa. Có người thì đã lớn khi đang là sinh viên đại học, thậm chí còn đi làm. Có người đang học cấp 3. Nhưng cũng không hiếm gì những đứa chỉ mới học cấp 2. Sở dĩ con ma chị biết rõ như vậy là vì đã nép sát vào với những nam nữ thanh thiếu niên ấy khi họ đang lầm rầm khấn vái hay cả khi nhỏ to thì thầm nhờ thầy lúc viết sớ. Những người đã lớn thì không nói. Nhưng nhiều đứa mới có tý tuổi, đâu như chừng 14, 15 mà đã thì thầm xin thánh xin phật được yêu người nọ, người kia rồi xin cho họ cũng yêu lại mình. Nó nhớ rõ có một con bé trông đến là xinh. Vừa mới tuần trước xin cho được yêu một anh. Cũng chính con bé đó vài tuần sau lại thấy đến xin được yêu một anh khác. Nó đến nhiều đến nỗi các thầy viết sớ còn quen mặt. Con ma chị nhớ có lần một thầy viết sớ cũng còn khá trẻ đã trêu con bé đó:

    – Thế hôm nay viết sớ là xin vẫn yêu anh đó hay lại chuyển sang anh khác rồi?

    Con bé nghe hỏi vậy không hề đỏ mặt mà chỉ cười cười:

    – Vẫn anh hôm trước ạ?

    Thầy viết sớ trẻ cười híp mắt:

    – Lễ nhiều thế mà vẫn chưa cua được nó à?

    Con bé hồn nhiên:

    – Nó tỏ tình với em rồi. Nhưng dạo này nó hay để ý con bé lớp bên cạnh nên em phải xin các ngài phù hộ để nó chỉ chú ý, chỉ yêu một mình em thôi.

    Câu chuyện của con bé đó với thầy viết sớ trẻ làm cả nhóm đứng quanh cười rộ. Ai cũng tò mò với con bé mới có tý tuổi mà đường yêu đương đến là phức tạp. Có lần, có một đám chừng năm đến bẩy đứa cả trai lẫn gái đều đến lễ bái để xin được yêu. Khấn vái xong chúng ra ngồi chơi trong sân chùa và dò hỏi nhau. Một đứa con trai nhìn chằm chằm vào một đứa con gái rồi hỏi:

    – Ê lúc nãy mày xin yêu thằng nào thế? 

    Đứa con gái được hỏi còn đang lúng túng chưa trả lời thì một đứa khác đã chen vào:

    – Mày vẫn còn luỵ cái thằng chó đó à?

    Một thằng con trai hùng hồn:

    – Tao vừa xin luôn cả hai đứa.

    -Á đù? Mấy cái miệng cùng đồng thanh.

    Thằng bé thản nhiên:

    – Tao xin yêu con Hân lớp bên cạnh. Nhưng tao xin thêm cả con Mai Anh lớp mình vì nghe nói con Hân cũng đang mập mờ với một thằng lớp nó.  

    Cả bọn ầm ừ rồi một con bé tiếc rẻ:

    – Ừ nhỉ, sao tao không xin luôn một thể nhờ. Vừa đỡ tốn tiền vừa để chắc ăn.

    Cả bọn rào rào tranh luận. Nghe ra thì bọn nhóc này cũng chả thâm tình gì cho lắm khi đứa nào cũng thích từ hai đến ba người khác nhau cùng một lúc. Nghe chúng bàn luận thì cái thứ tình cảm đó nếu có được cũng thích. Nhưng nếu không có được chắc chúng cũng chỉ buồn vài ngày là quên chứ đâu đến nỗi phải tìm đến cái chết như hồn ma xanh lướt đó. Mang nỗi thắc mắc đó nó tìm đến với bà ma già. 

    Nó rủ rỉ:

    – Bà ơi, sao cháu thấy bọn trẻ con đến chùa xin yêu mà vui như đi hội. Có đứa còn xin sơ cua vài anh. Yêu cũng vui thế thì sao có người lại đau khổ, lại tìm đến cái chết vì yêu hả bà?

    Bà ma già cười khà khà:

    – Cháu thấy cái lũ trẻ ranh mới cấp 2 đến chùa xin yêu phải không? Bọn nó còn trẻ con, chỉ mới gọi là thích chứ yêu gì đâu. Vì chúng nó xem mạng nhiều, trường lại gần chùa nên đua nhau ra xin đấy thôi. Với bọn nó được yêu hay không cũng không đau buồn đến mức tìm đến cái chết. Yêu đương sâu đậm phải là những người lớn hơn kia. Với họ tình yêu có thể mang tới hạnh phúc vô ngần nhưng cũng có thể mang đến những đau khổ không nguôi.

    Con ma chị tò mò:

    – Nhưng đau khổ đến mức nào mà phải tự mình huỷ hoại như hồn ma xanh lướt đó ạ?

    Bà ma già thở dài:

    – Cái này khó nói lắm. Nó phụ thuộc vào tâm tính, bản lĩnh và cả sự va vấp, từng trải của mỗi người. Có người đứng lên, làm lại được sau những đổ vỡ, đau khổ. Nhưng có người lại cứ lún sâu vào nỗi khổ đó mà không thể thoát ra được. 

    Con ma chị cau mày:

    – Thế cái làm nên sự khác nhau đó là gì hả bà?

    Bà ma già:

    – Ta nghĩ một phần là do nhận thức, do giáo dục. Nếu một đứa trẻ được giáo dục về tính tự lập, tự chịu trách nhiệm thì sẽ dễ dàng đi qua được những thất bại, đau đớn. Một đứa trẻ yếu đuối, quen đổ lỗi, không dám chịu trách nhiệm thì khi gặp chuyện sẽ khó thoát ra được. Chưa kể, nhiều người không dám nhìn thẳng vào thực tế mà chỉ muốn trốn tránh nó. Có người ấu trĩ khi nghĩ dùng cái chết để khiến người khác phải hối hận. Họ đâu biết, hối hận cũng chỉ là một thứ tình cảm chóng phai và dễ quên. Người chết là hết. Còn người sống họ sẽ quên. Họ sẽ chỉ hướng về phía trước thôi.

    Con ma chị vẫn băn khoăn:

    – Chị em cháu chết khi còn bé nên chả hiểu tình yêu là gì. Nhưng cháu cũng tò mò khi thấy người ta cứ nói nhiều về nó đến vậy. Lại còn hay đến chùa để xin yêu, xin trả thù vì không được yêu, vì bị phản bội, bị bỏ rơi nữa.  

    Bà ma già mơ màng:

    – Tình yêu ư? Nó là thứ tình cảm đẹp nhất trong đời của một con người. Nó sẽ là thăng hoa, là hạnh phúc ngập tràn khi cả hai cùng có tình cảm với nhau. Nhưng nó sẽ là bể khổ khi tình yêu chỉ đến từ một phía hay khi nó tan vỡ. Thời của ta không yêu sớm như bọn trẻ bây giờ. Có lẽ đó cũng là điều hay khi người ta trưởng thành thì sẽ ý thức và trách nhiệm hơn với tình cảm của mình. Nhưng cũng chả nói trước được. Cái thứ tình cảm quái quỷ này đôi khi nó không đi theo một lozic nào cả. Ngày ta còn sống bố ta thường ngâm nga: Công cha nuôi dưỡng, mẹ sinh thành. Tội trời đành chịu chẳng yêu bằng chồng. Ngày bé ta không hiểu hết những điều ông nói. Nhưng khi lớn lên, có người yêu rồi có chồng thì ta mới hiểu. Cái tình cảm yêu đương trai gái ấy đôi khi nó mạnh hơn cả tình thân, tình cha con, anh em ruột thịt. Có lẽ cha ta cũng hiểu rõ điều đó qua kinh nghiệm của cuộc đời ông và cả vì ông có đến 4 cô con gái. Có lẽ trong thâm tâm ông luôn lo cho chúng ta và lo cho cả chính mình khi sợ các cô con gái dễ yếu đuối, dễ gục ngã trong tình cảm. 

    Bà ma già và con ma chị cùng ngồi lặng. Những kinh nghiệm của một người đã trải qua quá nhiều biến cố trước khi chết và một đứa trẻ bị chết khi còn nhỏ dường như cũng không có nhiều điểm chung khi cùng luận bàn về tình cảm, tình yêu trai gái. Họ chỉ cùng nhìn hút theo bóng những nam thanh nữ tú đến chùa và thầm đoán chuyện tình cảm qua nét mặt vui buồn hay qua những điều họ thì thầm khấn nguyện. 

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG X: NGHIỆP NGƯỜI TỰ TỬ

    CHƯƠNG X: NGHIỆP NGƯỜI TỰ TỬ

    Hồn ma xanh lướt lại ngồi khóc rấm rứt một mình trên chiếc ghế đá khuất dưới bóng cây. Thi thoảng con ma chị lại thấy hồn ma xanh lướt ngồi ở đó khóc rấm rứt một mình. Người ra kẻ vào, có kẻ đi ngang qua nhưng cũng không buồn hỏi. Hình như ai cũng biết hồn ma đó đang phải chịu một kiếp nạn khủng khiếp. Kiếp nạn mà như lời của bà ma già thì là do cô ấy tự chọn. Tự chọn kết liễu cuộc đời mình. Tự chọn rời xa trần thế. Con ma chị tò mò lắm. Nó tưởng chị em nó đã là khổ lắm rồi. Vậy mà vẫn có người tự huỷ hoại mình vì không chịu nổi nỗi đau bị phản bội, bị bỏ rơi. Đã mấy lần nó mon men muốn hỏi nhưng nhìn hồn ma xanh lướt đó khóc lả đi trong chính nỗi đau của mình lại khiến nó ngại. Nó không biết phải mở lời ra sao? Phải nói như thế nào để có thể dứt hồn ma đó ra khỏi những tiếng khóc, ra khỏi sự đau khổ đã làm méo mó, biến dạng cả khuôn mặt. Đã nhiều lần, nó cứ đứng nhìn hồn ma đó khóc. Lâu dần, đó như một thói quen. Cứ mỗi lần hồn ma đó xuất hiện và ngồi khóc nó lại đứng nhìn. Nó không biết điều gì đã xui khiến nó làm như vậy. Nhưng nó đã không thể làm gì khác mỗi lần nhìn thấy cảnh ấy. Không còn là sự tò mò mà như có một thứ gì đó thôi thúc nó muốn biết, muốn tìm hiểu.

    Hồn ma xanh lướt dường như cũng cảm nhận được sự chú ý, quan tâm đặc biệt của con ma chị. Vài ba lần, nó dừng khóc và ngước đôi mắt đau khổ đẫm nước nhìn con ma chị. Cả hai không ai mở lời nhưng dường như chấp nhận sự hiện diện, tồn tại của nhau. Vài lần, con ma chị khẽ để một túi bánh hay vài trái quả lại sát với hồn ma. Nó biết, hồn ma đó không thể vào được chính điện khi âm vía nặng và chỉ có thể ngồi ở bên ngoài. Những khi nhà chùa có đàn lễ bày ở bên ngoài thì hồn ma đó cũng chỉ dám đứng từ xa. Cũng không biết từ bao giờ ngoài việc lấy phần cho mình, cho em nó lại cố ý lấy thêm một chút dành phần cho hồn ma đó. Vài ba lần, hồn ma đó cầm túi bánh nó để bên rồi vừa ăn vừa khóc. Có lúc, nửa miếng bánh ăn dở bị ướt nhèm vì nước mắt khi hồn ma xanh lướt vừa ăn vừa khóc rấm rứt. Những lúc ấy con ma chị thấy thương lắm. Lần đầu tiên nó thấy thương đến quặn thắt một kẻ khác ngoài đứa em gái bé bỏng của mình. Một kẻ đau khổ, một kẻ ái ngại. Chúng cứ kẻ khóc người nhìn như thế một thời gian dù không ai nói với ai một lời.

    Đang chìm đắm trong những suy nghĩ thì con ma chị giật mình bởi tiếng hỏi rất khẽ:

    – Mi tò mò lắm phải không?

    Con ma chị ngẩng lên. Góc khuất này chỉ có nó và hồn ma xanh lướt. Con ma em lại đang cười khanh khách đuổi theo lũ chim bồ câu. Nó nhìn vào hồn ma xanh lướt đang cúi gằm mặt xuống, mái tóc che đi cả nửa khuôn mặt. Nó hoang mang không biết có phải hồn ma xanh lướt vừa mới nói không. Dù gì thì cũng đã nhiều lần nó đứng lặng nhìn hồn ma đó khóc. Nhưng chưa một lần nào hồn ma đó nói chuyện với nó. Đang hoang mang không biết câu hỏi đó đến từ đâu, nó lại nghe tiếp:

    – Chả phải mi luôn tò mò muốn biết chuyện của ta ư?

    Con ma chị sững lại. Lần này thì nó không thể lầm. Là hồn ma xanh lướt đang nói chuyện với nó. Một hồn ma hầu như không giao tiếp với ai khi lúc nào xuất hiện cũng chỉ thấy khóc và khóc. Nó cứng họng muốn mở miệng ra nói mà không thể. Môi nó mấp máy nhưng không thốt ra được tiếng nào. Hồn ma xanh lướt vẫn cúi đầu, giọng nhẹ như gió thoảng:

    – Cả cái chùa này ai cũng tránh xa ta, chỉ có mi là tò mò nên hay đứng nhìn ta khóc.

    Con ma chị đã lấy lại bình tĩnh. Nó nhìn chăm chăm vào hồn ma xanh lướt. Hồn ma vẫn cúi đầu nhưng giọng nói đã đều hơn:

    – Chắc mi đã nghe chuyện của ta. Chắc mi biết vì sao ta phải chịu kiếp nạn này. Ta không thể đến và đi tự do giống như những âm hồn khác. Mỗi ngày, vào đúng giờ nhất định ta lại bị quỷ sứ lôi đi để bắt diễn lại cảnh ta tự kết liễu cuộc đời mình. Mỗi ngày, ta lại phải sống lại cảm giác đau khổ đó một lần. Mỗi lần phải làm lại cảnh đó ta lại đau, lại khổ, lại mệt mỏi rã rời nhưng không thể làm khác được. Tự ta đã đẩy mình vào chuyện này. Tự ta phải chấp nhận thôi.

    Con ma chị đứng lặng. Nó thấy thật thương hồn ma xanh lướt. Nó ngập ngừng:

    – Không… không có cách nào sao? Không thể giảm nhẹ dù đã hối hận à?

    Hồn ma xanh lướt cười nhẹ:

    – Hối hận ư? Ta đã hối hận rất nhiều. Nhưng điều đó không giúp ta tránh được hình phạt thảm khốc này. 

    – Sao… sao không nói với những người trừng phạt ý? Con ma chị ấp úng.

    – Mi nghĩ lũ quỷ sứ ấy hiểu hả? 

    Hồn ma xanh lướt ngẩng khuôn mặt đau khổ lên. Một khuôn mặt phình to với đôi mắt như lồi ra, cái lưỡi thè dài và cái cổ tím bầm làm con ma chị giật mình. Hồn ma xanh lướt thều thào:

    – Lũ quỷ sứ chỉ theo luật mà làm. Ta cũng không thể trách chúng được.

    Nói rồi, hồn ma xanh lướt lại cúi mặt xuống. Mái tóc dài che gần kín khuôn mặt. Con ma chị đã bớt ngại liền hỏi:

    – Nhưng… nhưng đã thử nói với bọn họ chưa?  

    Hồn ma xanh lướt thì thầm:

    – Không thể nói vì chính ta là kẻ đã phạm luật.

    – Luật gì vậy? Con ma chị tò mò.

    – Luật của trời, luật của đất, luật của luân hồi. 

    Con ma chị lặng thinh. Nó rất muốn hỏi kỹ nhưng lại ngại. 

    Hồn ma xanh lướt thì thầm:

    – Mi có biết để thoát khỏi mỗi kiếp cần đến rất nhiều sự tu tập, tỉnh thức hay không? Để lên được làm người là cả một quá trình tu dưỡng. Ta đã được sinh ra làm người. Nhưng ta đã tự tay vứt đi thành tựu đó và ta phải trả giá cho lựa chọn ngu ngốc của mình. 

    Con ma chị không phục:

    – Thành tựu là của chị. Chị muốn dùng thế nào là do chị tự quyết định chứ?

    Hồn ma xanh lướt cười nhẹ:

    – Mi không hiểu rồi. Để được làm người ngoài thành tựu tu tập, tỉnh thức của mỗi người còn là sự kết hợp của duyên và nghiệp. Ta được sinh ra trong môi trường nào giầu sang hay nghèo hèn, được thương yêu hay vứt bỏ đều do nghiệp quả qua lại giữa ta và cha mẹ. Khi ta huỷ bỏ tấm thân này, ngoài vứt bỏ đi thành tựu tu tập và nghiệp quả của mình còn là huỷ hoại nghiệp quả của cha mẹ. Vì thế, những kẻ tự huỷ như ta sẽ phải chịu kết cục đau đớn và thê thảm hơn những người khác rất nhiều.

    Con ma chị chợt nhớ tới lời bà ma già từng kể. Dù bị bệnh tật đau đớn giầy vò nhưng bà ấy không dám tự tìm đến cái chết. Bà ấy từng bảo dù sướng hay khổ, khoẻ mạnh hay bệnh tật thì đó đều là nghiệp quả mỗi người phải tự gánh, phải tự đi cho đến hết chặng đường của mình. Quy luật là thế nên những người tự huỷ hoại mình như hồn ma xanh lướt này mới bị trừng phạt nặng nề đến vậy. Nghĩ đến đó, con ma chị bỗng thấy ái ngại.

    Nó dè dặt:

    – Trước không biết nên mới phạm lỗi. Giờ biết rồi vẫn không được tha thứ hay sao?

    Hồn ma xanh lướt chậm rãi:

    – Mọi chuyện mà dễ như mi nói thì luật đề ra để làm gì?

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Nhưng… nhưng chị cũng biết lỗi rồi mà.

    Hồn ma xanh lướt thở dài: 

    – Ta biết và ta đang tích cực sửa lỗi đây.

    – Là sao? Con ma chị ngạc nhiên.

    – Ta đã có mấy chục năm vật vã trong khóc lóc, đau khổ sau khi tự tìm đến cái chết. Giờ đây, ta biết bể khổ ấy sẽ không bao giờ vơi nếu ta chỉ đứng đó, khóc lóc hay hối hận. Ta không được vào chính điện vì tội dầy, lỗi lớn. Ta cũng không thể tới gần các đàn lễ. Nhưng ta vẫn biết theo Phật, nghe kinh là con đường duy nhất giúp ta có thể ra khỏi vũng lầy đau khổ đó. Vì thế, dù không vào được trong nhưng ta vẫn đến đây, vẫn đứng bên ngoài để nghe từng lời kinh tiếng kệ. Con đường ta phải đi có thể sẽ rất dài, rất gian nan. Nhưng nếu ta không tự mình đi thì sẽ không bao giờ đến được đích. Mà cũng có thể ta sẽ không bao giờ đi đến được đích. Nhưng ta không muốn từ bỏ. Ta vẫn muốn thử. Cảm ơn mi đã không ghét bỏ lại còn thương xót ta.

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Ta có hơn gì chị đâu. Chị em ta cũng có gần một thế kỷ ôm trong mình nỗi hận bị cha mẹ, bị người thân ghét bỏ.

    Hồn ma xanh lướt thì thầm:

    – Bỏ hết đi. Khi ta ôm hận, ta đau khổ chỉ có mình ta biết, ta chịu thôi. Những người ta ghét, ta thù chắc gì họ đã biết đến nỗi hận, đến sự đau khổ của ta. Mà cho dù có biết thì đôi khi họ cũng không bận tâm đến điều ta nghĩ, ta hận đâu. 

    Con ma chị ngẩn người. Nó như hiểu lại như không hiểu hết những gì hồn ma xanh lướt chia sẻ. 

    Hồn ma tiếp tục:

    – Khi ta tự tìm đến cái chết trong đầu ta nghĩ họ sẽ thương xót, họ sẽ hối hận vì đã phụ bạc. Ta nghĩ ta làm thế là để trừng phạt họ. Nhưng ta đã lầm. Họ có áy náy đôi chút nhưng rồi lại quên đi rất nhanh. Chỉ có cha mẹ ta là thương khóc, là mỏi mòn vì đứa con ngu dại, đứa con xấu số mà thôi.

    – Tại sao chị không trừng phạt họ, cái kẻ đã làm chị đau khổ và phải tự tìm đến cái chết ấy? Con ma chị bất bình.

    Hồn ma xanh lướt cười buồn:

    – Ta muốn lắm chứ. Ta đã không biết bao lần muốn giết chết hắn khi nhìn thấy hắn vui vẻ, cười nói hạnh phúc bên những cô gái khác. Ta đã nhiều lần muốn xé toạc cái miệng dẻo quẹo và lừa đảo của hắn. Nhưng ta không làm được. Ta đã không làm nổi. Ta không có đủ lực. Ta không có đủ sức mạnh để làm điều ta muốn. 

    Con ma chị lặng đi. Nó nhớ đến mong muốn của chị em nó khi muốn bắt bà lão ấy đi cùng khi còn nhỏ. Chị em chúng cũng đã không thể làm được điều đó. Có những điều không phải cứ muốn là sẽ làm được dù là còn sống hay khi đã chết. Con ma chị đứng lặng, hồn ma xanh lướt tiếp tục thì thầm:

    – Ta thấy mi đang tinh tấn dần lên đấy. Mi hãy cố lên. Cố lên mà làm người. Hãy nhớ những người mi đã gặp, những chuyện mi đã nghe để sau này đừng có lặp lại những sai lầm ấy nữa. 

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Nếu được ước, chị có muốn được lên lại làm người không?

    Hồn ma xanh lướt thở ra. Giọng nó nhẹ nhàng:

    – Muốn. Ta rất muốn sống lại một lần nữa. Ta muốn tận hưởng lại cuộc sống này. Nếu có ngày đó ta sẽ sống vì những đam mê, những khát vọng của chính mình. Ta sẽ không ngu dại xem tình yêu là tất cả. Ta sẽ trân trọng, yêu thương cha mẹ, yêu thương mọi người và yêu thương chính bản thân mình. 

    Con ma chị lặng đi. Những lời hồn ma chồng bà lão từng nói với nó hôm nào lại trở về:

    – Đi đi, đi mà giải thoát rồi đầu thai lại làm người. Các ngươi chưa được hưởng những lạc thú và niềm vui của kiếp người quả là đáng phí. Hãy cứ đi, cứ tu và trở lại.

    Ngay cả bà ma già cũng chưa bao giờ thôi luyến tiếc về kiếp người. Về những khoảnh khắc hạnh phúc mà bà ấy từng cảm nhận. Sự hạnh phúc đến từ tình thân, từ những món ăn hay sự thay đổi của cảnh sắc, thời tiết bên ngoài. Cuộc đời con người đáng quý vậy hay sao? Mười một năm sống trên đời của nó trước khi chết quả thực không có nhiều ấn tượng. Nó cứ mải chìm đắm trong so sánh, trong sự tủi thân và cả những hận thù với ông bà, cha mẹ khi họ thiên vị các anh em trai hơn chị em nó. Có lẽ vì thế mà ấn tượng về đời người của nó không phải là sự luyến tiếc hay mong mỏi. Nhưng mấy hồn ma nó gặp gần đây từ người chồng đã chết của bà lão, bà ma già – những người đã sống đủ dài, đủ lâu – đều luyến tiếc khi phải rời xa cõi đời. Ngay cả hồn ma xanh lướt dù sống chưa đủ lâu khi vội vã kết thúc cuộc đời mình khi còn quá trẻ cũng đang luyến tiếc và ao ước được trở lại làm người, được sống lại cuộc đời của một con người. Cuộc sống chắc cũng có nhiều điều thú vị nên người ta mới ao ước, mong mỏi đến như vậy. Ngay cả mấy bức tranh treo trên tường cũng mô tả hành trình nỗ lực, cố gắng, sự tu tập, tỉnh thức của những hồn ma. Và phần thưởng cho cả quá trình đó là được trở lại làm người. Nó bỗng thấy tò mò, thấy khao khát được sống đủ dài, đủ lâu cuộc đời của một con người. Khi đó nó sẽ làm gì nhỉ? Có lẽ nó sẽ đi thật nhiều nơi để cảm nhận vẻ đẹp của mỗi vùng đất. Nó đã nghe kể về những cái hồ lớn hay còn gọi là biển khi con người thường đến đó vào những ngày nắng nóng. Nghe nói, chỉ cần thả mình trong dòng nước ấy là bao nhiêu mệt mỏi đều sẽ tan biến. Có người lại nói, đứng trước biển mọi nỗi đau đều thành nhỏ bé. Sao lại như thế nhỉ? Cái gọi là biển ấy nó có sức mạnh lớn đến vậy hay sao? Ôi nó ước gì một lần được đi đến đó. Nếu được làm người, có thể nó sẽ đi đến những vùng núi cao. Nó sẽ cố trèo lên cái mỏm đá cao nhất để nhìn xuống bên dưới. Có lẽ lúc ấy, mọi thứ bên dưới sẽ bé xíu, kể cả con người. Còn gì nữa nhỉ? À, bà ma già nói khi người ta sống hương vị của mỗi món ăn được thưởng thức cũng đem lại những khoái cảm không nhỏ. Rồi cả những cái lá vàng khẽ rơi khi giao mùa nữa chứ? Sao lại có nhiều thứ mà nó chưa biết đến như thế? Con ma chị cứ miên man trong những dòng suy nghĩ khi tiếng hét của hồn ma xanh lướt làm nó giật mình. Chiếc ghế mà hồn ma xanh lướt vừa ngồi đó đã trống không. Có lẽ lại đến giờ chị ấy bị bọn quỷ sứ bắt đi để diễn lại cảnh tự kết liễu cuộc đời rồi. Không biết đến bao giờ chị ấy mới trả xong cái nghiệp mà chị ấy đã trót làm. 

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG IX: NHỮNG TẦNG CẢNH GIỚI

    CHƯƠNG IX: NHỮNG TẦNG CẢNH GIỚI

    Ở quê vừa gọi điện lên cho bà. Thầy Thực mới về làng làm lễ. Gọi là thầy nhưng về vai vế thầy ấy chỉ là hàng cháu. Thầy là con trai út của ông anh họ. Anh chị ấy có đến 4 cô con gái rồi mới sinh được cậu út là trai. Bao nhiêu hy vọng của cha mẹ, của cả nhà dồn hết vào cậu út. Nhưng ngay từ nhỏ cậu đã bộc lộ xu hướng khác biệt. Cậu có thể chơi cả ngày với chó, mèo, chuồn chuồn và cả đàn kiến đang di chuyển dưới đất. Đặc biệt, mới mấy tuổi nhưng cậu kiên quyết không ăn thịt, cá và các loài động vật. Trước sự lạ của con, bố mẹ đến các chị hết ngọt ngào dỗ dành lại đánh mắng ép buộc nhưng cậu vẫn nhất quyết không ăn. Bao hy vọng vào cậu con trai út sẽ duy trì, nối nghiệp bị sự từ chối của cậu làm cho tan biến hết. Anh chị ấy buồn lắm. Càng lớn, cậu càng có xu hướng thích tu hành. Khi đã thuộc mặt chữ, bất kể đi đâu, làm việc gì cậu cũng giấu theo một cuốn kinh Phật. Biết không ngăn nổi mong muốn của con, anh chị đành gạt nước mắt thuận theo. Mười mấy tuổi cậu đã lên chùa, bái thầy xin tu. Mấy chục năm đã qua, giờ thầy làm trụ trì cho một ngôi chùa cách làng khoảng chục cây. Người trong làng khi có việc ma chay, cúng lễ vẫn mời thầy về. Biết vai vế của mình, thầy cũng không dám xưng thầy chỉ xưng tôi với các bậc cha chú trong họ. Lần này, nghe nói thầy phải mời thêm một số đạo hữu, các thầy cúng để về làm lễ đuổi ma cho làng. 

    Cái làng của bà từ xưa đến nay đã tồn tại lắm chuyện về ma quỷ. Mà có lẽ không chỉ ngôi làng của bà mà bất cứ làng quê Việt nào cũng có lắm câu chuyện về ma, về quỷ như vậy. Làng có một ngôi chùa khá to do bà con trong làng và khách thập phương cung tiến xây lên. Một ngôi đền rất thiêng thờ bà Phi tần – vợ của một vị vua nào đó. Phía trong đền có căn hậu cung nghe nói có chứa các di vật của bà hoàng và chỉ thủ từ mới được phép vào. Bốn năm một lần, làng vẫn tổ chức rước kiệu từ đền về đình rồi quay ngược lại. Chả lần rước nào mà không xảy ra hiện tượng kiệu bay khi hai chục trai tráng khiêng kiệu bị một sức mạnh vô hình lôi đi. Cả đoàn rước kiệu lúc đi thong thả, lúc chạy rạt sang phía này, lúc quành sang bên kia. Lắm khi đoàn khiêng kiệu chạy xô cả vào đám đông tuỳ theo lực điều khiển từ đấng vô hình bề trên. Dân chúng xem hội vừa thích thú vừa sợ hãi. Nhiều lần, khi đám khiêng kiệu bị kiệu kéo, kiệu chạy dạt cả xuống ao các bà, các cụ đã phải khấn to tên hiệu của bà Hoàng. Nhiều lần, họ vừa vái, vừa lạy theo chiếc kiệu. Họ khấn to tên hiệu của bà Hoàng khi thấy đám khiêng kiệu mệt lả vì chiếc kiệu xoay vòng vòng mãi mà không dừng lại. 

    Ngày còn bé, bà rất hay lén lút một mình ra đền. Nghe nói ngôi đền thiêng nên bà lầm rầm cầu xin bà Hoàng phù hộ cho bớt tai ách, cho duyên gái đừng quá truân chuyên. Người trong làng kháo nhau, bà Hoàng không muốn mất gái làng nên có lời nguyền con gái làng đi lấy chồng xa đa phần khổ sở, không được theo ý nguyện. Người thì khổ vì chồng lăng nhăng, đào hoa. Kẻ thì khổ vì chồng bài bạc, lô đề, nợ nần. Nhiều cô khổ quá đành ôm con về làng nương nhờ cha mẹ, anh em. Không biết lời đồn có thực hay không nhưng đúng là nhiều cô người cùng làng không lấy lại đi lấy chồng xa và rất khổ. Ngoài ngôi đền thiêng nức tiếng cả vùng, làng bà còn có ngôi đình và một ngôi đền bỏ hoang cuối làng cũng thiêng không kém. Nhiều người quả quyết đã nhiều lần nhìn thấy rắn trắng trú trong hốc cây, tảng đá ở ngôi đền hoang cuối làng. Đền nghe nói thờ một vị tướng quân. Những năm người làng chưa đông, nhà cửa còn co cụm chứ không dàn trải như bây giờ, rất ít người dám một mình đi qua ngôi đền hoang ấy. Đặc biệt là những khi sáng sớm, lúc chiều tà, chả mấy ai dám đi qua con đường trước cửa ngôi đền hoang cuối làng. Làng cũng luôn rì rầm với nhiều câu chuyện về ma về quỷ từ đầu làng tới cuối xóm. Câu chuyện được kể từ người già tới người trẻ. Trong đó có câu chuyện về già Vươn – theo cách gọi của quê với các bà chị gái, bác gái trong họ. Không hiểu vía già thế nào mà ngay từ khi còn bé đã hay bị ma trêu, ma giỡn. Cứ cỡ dăm bữa, nửa tháng là người nhà lại phải tá hoả đi tìm. Lúc thì già bị giấu vào trong đống rơm, khi trong bụi cây rậm. Lạ là nhiều lần dù đã đi qua đi lại chỗ già bị giấu cả chục lần nhưng người nhà vẫn không tìm thấy. Chỉ đến khi đã tìm kiếm chán chê thì một ai đó mới phát hiện ra chỗ già bị giấu. Chắc đám ma giấu già muốn đùa nghịch, trêu ghẹo lên che mắt mọi người. Cho đến cả thời thanh niên, già vẫn thi thoảng lại bị đám ma đem đi giấu. Lạ là mỗi một lần được tìm thấy, già đều không nhớ nổi mình đã làm gì? Bị đưa đi đâu và tại sao lại ngồi sâu trong đống rơm hay ngồi im trong một bụi cây nào đó. Có lần già kể nhìn thấy mọi người đi tìm mình, gọi tên mình và dù ở rất gần nhưng không sao mở miệng ra được. Cho mãi đến khi già lấy chồng thì mới hết bị đám ma trong làng đùa giỡn. 

    Cũng vì lý do làng có lắm ma mà con cái khi sinh ra thường bị bố mẹ đặt tên rất xấu để khỏi bị bắt đi. Ngay như bà, khi sinh ra bố mẹ đặt tên cho là Bắt. Đến khi theo ông ngoại, ông mới đặt thêm cho tên là Trang. Nhiều người trong làng bà đều có hai cái tên như vậy. Một cái tên xấu được đặt khi còn bé. Và một cái tên khác được đặt cho khi đi học, khi đã lớn. Có cái tên đọc lên nghe đến là xấu hổ. Nhưng càng nhà nào hiếm con lại càng đặt tên xấu. Họ quan niệm tên xấu thì ít bị ma quỷ để ý và bắt đi.

    Nhiều người còn kể chuyện có những người đi chợ sớm lúc ngang qua đám tre bị lũ ma vít cành xuống sát đất chắn lối. Người ấy tránh góc nào cũng bị đám cành tre ngả theo chắn đường. Có lần vì sốt ruột, sợ lỡ buổi chợ mà người ấy cố bước qua. Vậy là cả người bị nhấc lên ngọn tre cao. Người ấy đã ở trên đó rất lâu cho đến khi sáng rõ và có người đi qua. Nhiều lần, mọi người đã phải hè nhau vít cả đám tre xuống để người bị ma trêu có thể bước ra. Có người còn kể có ông đi ra ruộng sớm, lúc ngang qua cây si bị hai cẳng chân của con ma nào đó thòng xuống kẹp cứng lấy cổ. Ông cứ đứng ở gốc si mãi cho đến khi có người đi qua. Họ hỏi tại sao ông lại đứng yên ở đó? Khi ấy, ông mới giật mình tỉnh ra và bảo đã bị ma kẹp cổ suốt từ sớm tới giờ. 

    Nhiều bà trong làng còn truyền tai nhau những câu chuyện khó tin. Như có bà sáng sớm dậy lúi húi nấu cơm. Vừa bước thấp bước cao từ trong chái bếp cay xè khói rơm ra sân đã thấy ngồi lù lù một đống. Bà giật mình, tưởng con gái dậy sớm còn ngái ngủ nên ngồi đấy ngủ tiếp bèn chửi đổng:

    – Cha bố mày, sớm ra đã ngồi lù lù một đống làm bà hết hồn!

    Không ngẩng lên nhưng một tiếng trầm đục cất ra từ cái bóng vẫn còn ngồi thù lù:

    – Chửi hả? Có thích chửi không?

    Bà sợ hãi ngã ngồi ngay xuống khi nhận ra cái bóng đang ngồi đó không phải con gái mình. Miệng ú ớ, hai tay bà run bắn lập cập chắp vào nhau vái dài:

    – Tha cho tôi. Tha cho tôi! Tôi không biết nên lỡ mạo phạm, xin tha cho tôi!

    Nói rồi bà ngất xỉu đi vì sợ. Cho đến khi có người nhà dậy đi tiểu sớm va phải bà nằm còng queo giữa sân mới tri hô lên. Tỉnh ra, bà mới kể cho mọi người nghe chuyện nhầm lẫn lúc sáng sớm. Miệng kể mà mắt bà vẫn hướng ra sân và lầm bầm: Không biết đã lỡ mạo phạm vào ông bà nào, xin tha lỗi. Xin được tha lỗi! 

    Sau vụ đó, bà ấy cũng ốm lửng lơ mất mấy tháng vì sợ. Nhưng cái sợ nào rồi cũng phải quen khi công việc nấu cơm cho chồng, cho con, cho thợ gặt vẫn khiến bà phải dậy sớm hơn mọi người. Chưa kể, khắp cả làng đâu đâu cũng có ma mà người còn sống thì vẫn phải làm, phải ăn, phải lo giỗ chạp, tết nhất và trăm thứ khác nữa. Là phận đàn bà, nỗi lo ấy lại càng dầy, càng sâu. Thi thoảng trong làng lại kháo nhau chuyện nhà này, nhà kia nấu xong nồi cơm thì bị ma vầy đến vữa nát không ai ăn được. Hay có bà gánh bún đi bán chợ sớm, ra đến chợ thì bún trong thúng nát bét như có ai thọc cả cánh tay vào bóp, vào vò. Bữa ấy, bà bán bún chỉ biết ôm thúng mà khóc khi đống bún nát không bán nổi cho ai. 

    Những câu chuyện ma nửa thực nửa hư đó đã đi theo bà, theo người trong làng trong suốt nhiều năm. Làng bà có nhiều cây to, vài ngôi miếu nhỏ, các nhà thờ họ nằm rải rác khắp các xóm. Sau này, khi làng khá giả, con cháu trong các họ lại gom góp nhau xây thêm hay tu bổ những ngôi nhà thờ cũ của dòng họ. Lần này, cả làng góp nhau mời thầy về đuổi ma khi có một số nhà làm ăn không thuận, con cái lại hay ốm. Có nhà, trẻ nhỏ ban ngày thì ngủ nhưng ban đêm thì quấy khóc. Vài người đã nhìn thấy những chú lính hay người nam giới mặc nguyên cả bộ đồ đỏ đứng nơi góc vườn hay bờ ao.Vốn đã nghe đồn làng lắm ma nên khi có người đề xuất mời thầy về lập đàn làm lễ đuổi ma phần đông người dân trong làng đều ủng hộ. Nghe nói, thầy Thực và các thầy sau vài buổi khảo sát, xem xét đã phải xuống ngôi đền cuối làng làm lễ để mượn ông tướng thêm quân. 

    Những người già trong làng đều hiểu nhiều thế kỷ đã đi qua trên mỗi làng quê Việt. Chiến tranh rồi dịch bệnh, nạn đói đã khiến mỗi mét đất, mỗi ngôi nhà, góc vườn như đều ẩn giấu, chứa chấp một đến vài linh hồn cùng trú ngụ. Lớp sau chồng lên lớp trước. Có hồn ma là người trong làng. Lại có người từ nơi khác vì đói, vì mưu sinh mà phiêu bạt đến rồi mất trên đất làng. Ngay như nạn đói năm 1945, làng đã phải dành ra cả một khu đất rộng để chôn cất những nạn nhân chết đói. Họ có người ở ngay trong làng. Có người từ nơi khác đến và chết trên đất làng. Ma cũ rồi ma mới. Ma có người cúng lễ. Ma vô thừa nhận. Buổi lễ đuổi ma của các thầy được làm chung cho cả làng. Nghe nói có đến hơn 300 hồn ma đã bị quân của thầy túm được và đuổi đi. Trong đàn lễ ấy, ngoài thầy Thực, các sư thầy, các thầy cúng nghe nói còn có cả đám quân lính của ông tướng cuối làng giúp sức. Nhiều hồn ma đã ngoan ngoãn rời đi. Có hồn ma chống trả quyết liệt khiến đám hồn binh cũng tốn nhiều công sức. Không biết đám âm hồn bị đuổi đi hôm ấy sau này có còn quay lại quấy phá làng xóm nữa hay không? Cũng không biết các thầy ngày nay có biết đến phép trấn yểm như ông ngoại của bà ngày xưa khi khoá chặt đám âm binh lại trong khu vườn và không cho ra ngoài hại người. 

    Càng ngày, bà càng như hiểu hơn về những cảnh giới khác nhau. Con người khi chết đi không hẳn là biến mất. Họ như chỉ chuyển từ trạng thái sở hữu thân xác sang trạng thái tồn tại của ý thức, của linh hồn. Nếu theo thuyết ấy thì không có gì hoàn toàn biến mất. Con người được sinh ra, lớn lên, già cả, bệnh tật rồi mất. Khi mất thì chỉ là mất đi thân xác còn linh hồn lại như tồn tại ở một chiều không gian khác. Và các chiều không gian ấy có xen kẽ, chồng lấn, qua lại nên mới khiến một số người có thể nhìn thấy, nghe thấy những người đã mất. Trong những ngày đi nghe thầy giảng pháp, dạy kinh bà hiểu láng máng con người khi mất tuỳ vào nghiệp lực sẽ đi đến những cảnh giới khác nhau. Trong các cảnh giới ấy có cảnh giới thấp như địa ngục, ngã quỷ. Người rơi vào cảnh giới này thường do phạm phải các tội lớn. Người nhân từ hơn hay những người thường làm việc tốt sẽ sớm được đầu thai lại làm người. Nhưng kiếp người chưa phải là cảnh giới cao nhất khi vẫn còn tham luyến, sân si. Còn có một cảnh giới khác, nơi được xem như cõi niết bàn với đầy hoa thơm, cỏ lạ. Ở cảnh giới đó sẽ không còn đau khổ, không còn luyến ái, sân hận. Con người khi đạt đến cảnh giới ấy sẽ thoát khỏi vòng luân hồi, sinh tử. Các đức Phật, giáo lý nhà Phật thường vẫn rao giảng xoay quanh các thuyết ấy. Nhưng cũng không nhiều người muốn đi đến cõi cao nhất. Ngoài việc phải có một tấm lòng bồ tát với rất nhiều hy sinh, cứu giúp người khác thì để đạt tới cảnh giới ấy cũng không dễ dàng. Nhưng dù có ở cảnh giới ấy thì vẫn có những người muốn thoát ra. Nhiều người vẫn muốn được nếm trải những buồn vui, sinh tử, cảm nhận về sự giới hạn của kiếp người. Trong các bộ phim bà đã xem có một bộ phim của nước ngoài khiến bà cực kỳ ấn tượng. Phim kể về hành trình của những chiếc nhẫn. Một bộ phim giả tưởng, siêu thực miêu tả về những kỷ nguyên hưng thịnh khác nhau của các tộc tiên, tộc người và cả sự trỗi dậy của ma quỷ. Dù khác nhau về cách trình bày nhưng bà thấy có nhiều điểm giống nhau giữa người phương Đông và phương Tây qua cách quan niệm, giải thích về những tầng sống, những tầng cảnh giới. Có những nàng tiên sẵn sàng từ bỏ cả sự bất tử để được làm người thường, được sống, được yêu, được già đi và chết cùng với người mình yêu thương. Lại có nàng thuộc dòng tiên, dòng thượng đẳng nhưng lại đem lòng yêu kẻ khác dòng, hạ cấp hơn mình. Và khi người mình yêu tử trận nàng ấy lần đầu tiên cảm nhận cái đau xé tim mà những người ở tộc tiên của nàng chưa bao giờ phải chịu. Trong cái giây phút đau đớn ấy, nàng cũng chợt nhận ra tộc tiên của nàng dù là thượng đẳng nhưng lại thiếu đi hương vị của tình yêu, của ly biệt, của chia xa. Trong phim bà thấy dù đã là tiên nhưng họ cũng bị thử thách trước ham muốn thống trị mà chiếc nhẫn ma quỷ mang lại. Phim còn kể về hai bác cháu người lùn thuộc tộc Hobbit có công tìm thấy nhẫn, mang nhẫn rồi cuối cùng là thiêu huỷ nhẫn khiến cho thế giới ma quỷ tan biến. Vì công lao cứu cả lục địa mà hai bác cháu đã được đón về cõi tiên, thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử của kiếp người. Chuyến chia xa để đến cõi tiên của hai bác cháu nhà ấy với bạn bè thuộc tộc người lùn khiến bà rớt nước mắt khi xem. Nó có chút gì đó giống với câu chuyện Từ Thức gặp tiên mà bà đã đọc, đã nghe hồi bé. Nhưng người sẽ viết tiếp câu chuyện của những chiếc nhẫn lại là một người hobbit sống cùng vợ và con. Xem ra, không có cảnh giới nào là hoàn hảo, là tuyệt đối. Ngay cả cõi tiên không buồn lo, không bệnh tật, không già yếu cũng vẫn nhàm chán nên các tiên nữ mới bỏ giới để theo chồng. Càng sống bà càng nghiệm ra, chọn cách sống nào, chọn cảnh giới nào vẫn tuỳ theo nhận thức và sở thích riêng của mỗi người. Ngay cả thế giới người âm tưởng như chỉ có ảnh không có hình, có âm không có lực như cách một số người từng nghĩ cũng không hoàn toàn đúng. Nếu chỉ có ảo ảnh mà không có hình thì tại sao bà và một số người lại cảm nhận về họ một cách chân thực thế? Nếu chỉ có âm mà không có lực thì tại sao bố chồng của bà lại suýt bị lôi xuống ao và vì ông khoẻ nên mới vùng ra được? Ngày còn sống, chồng bà còn kể một câu chuyện khó tin. Một người đàn bà trong họ đã bị ngã núi chết khi đi rừng kiếm củi. Khi người nhà mang được xác về thì chiếc khăn vuông bà ấy đội đầu vẫn vướng trên một cành cây. Cũng không ai có ý phải mang chiếc khăn đó về. Nhưng vài ngày sau đám tang, một sáng sớm, người nhà đã phát hiện chiếc khăn ấy được gấp gọn để giữa sân nhà. Mọi người lúc ấy mới nhớ đến cái khăn chắc đã bị bung ra và vướng lại cành cây khi bà ấy ngã núi. Có người khẳng định đã nhìn thấy cái khăn vướng trên cành cây cạnh bên xác của bà ấy. Nhưng họ đã không nghĩ đến việc phải mang chiếc khăn ấy về theo xác của bà. Vậy mà chiếc khăn ấy lại về. Vậy chắc phải có một lực chuyển thì chiếc khăn ấy mới về lại được sân nhà của người đàn bà đã chết vì ngã núi. Còn có bao điều mà mọi người chưa biết, chưa hiểu về cái cảnh giới mà bà sắp đi đến đó. Nhưng chắc chắn là có sự xen kẽ, chồng lấn giữa các cảnh giới mà đôi lúc người này, người khác, lúc này, lúc khác mới có thể nhìn thấy hay nghe thấy. 

    Câu chuyện mà đứa cháu gái bên chồng bà kể khi còn sống cũng minh chứng điều đó. Huê là giáo viên vùng cao và không lấy chồng. Một lần, cô cùng đoàn nhà giáo đi chơi xa và ngủ lại trên chiếc thuyền neo cạnh bãi sông. Nửa đêm, khi mọi người đang ngủ say thì cô chợt thức giấc. Cô thấy một sàn diễn ngay giữa mặt sông. Trên đó có những nàng ca sĩ mình mặc yếm thắm, môi son má phấn hát cười lúng liếng. Cô đã không dám đánh thức người khác dậy mà chỉ nằm im khẽ hé mắt nhìn. Buổi diễn đêm đó ngoài cô ra không biết có còn thêm ai nữa chứng kiến hay không? Nhưng hôm sau tịnh không một tiếng thì thào, một lời bàn tán nào về đêm diễn của những ca nương mà cô đã thấy trên mặt sông. Có lẽ nào cả đoàn cùng say ngủ chỉ có mỗi mình cô là chứng kiến màn biểu diễn đó? Liệu có thêm những người nào khác trong đoàn cũng đã cùng nghe, cùng thấy như cô nhưng không dám chia sẻ? Khi nghe câu chuyện ấy, bà chợt nhớ đến chuyện có một đoàn nghệ thuật bị gió lốc làm chìm thuyền khi đi du ngoạn trên hồ núi Cốc. Câu chuyện thương tâm ấy đã gây xôn xao suốt một thời gian dài. Có lẽ đã có những ca sĩ, nhạc công hay một gánh hát nào đó cũng từng gặp nạn tại khúc sông lớn. Họ dù đã là người của thế giới bên kia nhưng vẫn thi thoảng nhớ nghề nên tổ chức các buổi biểu diễn ngay tại nơi mình tử nạn. Và Huê – cô cháu ruột chồng bà – hẳn cũng có một mối duyên nào đó đã khiến cho cô được chứng kiến đêm diễn của người những người đã thuộc về một thế giới khác. Còn có bao điều kỳ dị mà bà và mọi người sẽ không thể nào lý giải nổi nếu áp theo các lý thuyết thông thường. 

    Một đồng nghiệp của con gái bà cũng kể lại trải nghiệm mà cô ấy có. Ngày ấy, cô vừa mới ly hôn chồng. Vì vẫn giấu bố mẹ về chuyện ly hôn nên cô đã nói dối là chồng đi công tác và chỉ có hai mẹ con về thăm ông bà. Đêm hè, trời khá nóng. Hai mẹ con nằm trên chiếc giường có cái cửa sổ mở ra vườn. Vì trời nóng nên mẹ con cô không đóng cửa sổ. Nửa đêm, cô chợt tỉnh giấc. Có hai bóng người, một cao, một thấp trông như hai bố con đang đứng ngoài song cửa sổ và nhìn chằm chằm vào hai mẹ con cô. Cô cứng người lại vì sợ. Lắng nghe thì thấy tiếng thằng con vẫn ngáy đều. Sau đêm ấy, dù trời có nóng đến đâu cô cũng đóng chặt cửa sổ lại khi ngủ. Cô cũng không dám kể lại với bố mẹ. Chỉ có ông bà ở quê. Nói ra sợ ông bà hoảng lên khi đêm xuống hay có việc phải ra ngoài lúc trời tối. Mà chắc gì ông bà đã nhìn thấy. Có thể chỉ là ảo giác của cô thì sao? Nhưng trong thâm tâm cô luôn tin là thật. Bởi cô đã nằm im và chịu đựng cái nhìn của bố con họ rất lâu.

    Bà thì luôn tin những lời cô ấy kể. Có lẽ bởi bà cũng hay nhìn thấy, nghe thấy những thứ mà người khác thường không thấy, không nghe. Có những nhà vì muốn biết người mất có thiếu thốn hay còn điều gì chưa nói nên thích đi gọi hồn, gọi vía. Bản thân bà cũng chứng kiến nhiều người đi gọi hồn. Có người lên thì khóc, có người cười rồi làm những việc mà người bị nhập chưa từng làm. Bà đã thấy có bà trông chất phác lắm mà khi đi gọi hồn, bị vong nhập lại hút thuốc, uống trà, thậm chí là cả rượu. Lúc vong thoát ra, bà ấy đổ ập xuống và không nhớ mình đã làm những gì, kể cả hút thuốc hay uống rượu. Vậy là ai đã làm, đã hưởng tất cả những thứ ấy? Hồn vía bà ấy đã ở đâu khi thân xác bị nhập và làm những điều mà bà ấy không hề hay biết? Nhiều người lại cố gặng hỏi người đã mất về những điều mình muốn biết như sau này có giầu không? Có mua được nhà, được đất không? Bà đã thấy nhiều vong lên nhưng lại nói rất ít rồi bỏ đi rất nhanh. Có lẽ, họ ngại phải trả lời. Họ ngại phải nói. Hoặc có lẽ họ cũng chả biết trước được tất cả những điều mà con cháu họ đang rất nóng lòng muốn biết.  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG VIII: BÀI HỌC NHÂN QUẢ

    CHƯƠNG VIII: BÀI HỌC NHÂN QUẢ

    Sau vài ngày hồ hởi lúc thì như tìm thấy chân lý khi lại hoang mang không biết đâu ra đâu chị em con ma nhỏ quyết định cứ từ từ. Chúng không thể nào hiểu hết về mọi chuyện trong ngày một, ngày hai được. Có những chuyện hôm nay chúng thấy đúng, thấy hợp lý ngày mai lại thấy khác. Ngay như bà ma già có hôm thì vui lắm, nói toàn chuyện tỉnh thức và buông bỏ. Nhưng có hôm lại ủ rũ khi trách đời, trách con cái, trách mình mang bệnh tật nên phải sớm từ giã cõi đời. Mọi thứ dường như không diễn ra một chiều khi cái tốt, cái xấu, cái hay, cái dở, cái thương, cái trách cứ hoà lẫn khi thế này lúc thế khác. Chỉ có lũ trẻ não yêu là miệt mài không nghỉ khi ngày nào cũng có đứa đến chùa xin được có người yêu, xin được gặp người trong mộng ước.

    Ngay cả mấy hồn ma bặm trợn cũng than chán khi có ngày không còn muốn đi theo mấy thầy viết sớ, thầy cúng thuê để hướng ké những vui thú của đời người. Xem ra chả có cái gì là lâu bền, là mãi mãi. Ngay cả sự oán hận cha mẹ, oán hận người đời của chị em chúng cũng ngày một phai nhạt. Nhờ nghe kinh nhiều chúng hiểu mọi thứ đều do duyên, do nghiệp. Đến cũng là do duyên khởi, duyên tụ mà thành. Khi lìa xa cũng do duyên hết, duyên tận mà tan. Ngoài duyên, mọi mối liên hệ còn gắn với nghiệp, với quả. Quả tốt thì viên mãn, tròn đầy. Nghiệp xấu thì oán hận, ghét bỏ. Có lẽ cái duyên của chị em chúng với cha mẹ, với người thân cũng mỏng nên gắn bó không dài lâu. Nhưng cái nghiệp, dù là nghiệp xấu giữa chị em chúng với họ lại dầy nên mới khiến chúng oán hận, thù ghét họ lâu đến thế. Giờ oán hận không còn chắc cũng đến lúc duyên hết, nghiệp tan. Cũng nhờ nghe kinh nhiều nên chúng hiểu sự xuất hiện của cô gái nhỏ năm nào nay đã thành bà lão 90 cũng là nhân duyên chúng phải gặp trên con đường tỉnh ngộ và tu tập. Mỗi một người ta gặp đều có thể là nhân tố giúp ta học hay hiểu một bài học nào đó. Nó có thể là bài học về sự hận thù. Cũng có thể là bài học về sự thứ tha. Lại có khi, mối liên hệ giúp ta học được nhiều bài học từ một con người. Như ở bà ấy chúng học được bài học về sự kiên định khi nhất quyết không đi theo lời rủ rê của chúng năm xưa. Cũng nhờ bà ấy, chúng học được sự buông bỏ khi bà ấy không thù cha, ghét mẹ đã bắt con đi ăn đi ở theo ông ngoại và bà Ba. Chúng còn học được ở bà ấy sự nhân hậu khi cuối đời còn phát tâm giải thoát cho những âm binh, âm hồn bị giam hãm mấy chục năm trong khu vườn. Với bà ma già, chúng hiểu được sự thay đổi, bất toàn, lúc thấu hiểu khi trách móc của một người mẹ, một người già khi bị bệnh tật làm cho đau khổ, mất mạng. Ngay cả mấy hồn ma bặm trợn cũng giúp chị em chúng hiểu ra một điều: bám ké theo những thú vui, hăm hở với những mưu tính hại người rồi cũng có lúc nản, lúc chán. Hình như chả có gì là mãi mãi. Vậy sẽ phải làm gì khi tâm trạng rơi xuống tận đáy trong những ngày buồn bã? Những lúc đất trời sụt sùi trong mưa gió, ẩm ướt. Hay khi gặp toàn những điều bất như ý, chưa kể những oan khuất, trái ngang cứ như muốn đổ ập, vùi dập đi tất cả.  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG VII: CÙNG TẦN SỐ

    CHƯƠNG VII: CÙNG TẦN SỐ

    Dạo này, bà thấy bớt đi cảm giác bất an. Bà không còn cảm thấy lạnh khi đi vào ngõ vắng hay khi ở một mình trong nhà. Dường như những lời nói rút ra từ tâm can của bà hôm trước đã lay động chút ít đến chị em con ma nhỏ. Có lẽ chúng cũng đã ngộ ra được phần nào nên dạo này không còn đeo bám theo bà. Con bé cháu cũng không còn thấy hoảng sợ hay bất an. Nó cười nói vui vẻ suốt ngày cùng chúng bạn và hai con thú cưng. Ngay cả con chó, con mèo trong nhà bà và cả đám chó mèo trong xóm hình như cũng bớt đi những tiếng gầm gào ghê sợ khi đêm xuống. Lũ chó mèo này cũng rất nhạy với những luồng âm khí. Nhiều khi, nhìn động tác hoảng sợ hay vẻ nhe nanh, gầm gừ của chúng là bà đoán ra phần nào. Nếu phần lớn con người đều không cảm nhận được thế giới bên kia thì lũ chó mèo lại rất thính nhạy. Đôi khi, chúng cứ nhìn chăm chăm vào một điểm nào đó trong đêm tối rồi gào, rồi sủa gằn từng tiếng một. Với hầu hết trường hợp là chúng phản ứng với một cái bóng nào đó chứ không phải với lũ chuột, lũ gián như mọi người vẫn nghĩ. Vì không hiểu, không nhìn thấy nên con người càng hay bàn tán. Ngoài lũ động vật như chó và mèo, vài đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ cũng khá nhạy đối với người âm. Hàng xóm của bà là cô giáo dạy trẻ tự kỷ từng kể. Nhiều lần khi cô dạy học, một đứa trẻ tự kỷ trong lớp cứ nhìn chăm chăm vào một góc phòng và không nói gì. Cô đã cố thay đổi góc phòng đó khi đem đổi những đồ vật ở góc phòng ấy sang một góc khác. Nhưng dù có thay đổi thế nào, chuyển đổi vật dụng ra sao thì đứa trẻ mắc bệnh tự kỷ vẫn chỉ chăm chăm nhìn vào cái góc đó. Sau này một cô giáo trong trường kể lại. Vài người có chung cảm nhận khi đi qua cái góc lớp ấy. Đó là cảm giác lành lạnh sau gáy. Là mớ gai ốc tự dưng mẩn hết cả lên khi đi ngang qua góc lớp ấy. Và cả cái bóng thấp thoáng vụt qua rất nhanh và biến mất sau góc lớp ấy. Khi lớp chuyển sang phòng học khác, đứa trẻ tự kỷ đã nhiều lần tìm về lớp cũ. Nó cứ đứng đó và nhìn chằm chằm vào trong cái góc lớp ấy. Có lẽ, cái góc lớp ấy đang là nơi trú ngụ của một linh hồn nào đó. Và chỉ những ai có cùng tần số như đứa trẻ tự kỷ kia mới có thể cảm nhận được sự hiện diện ấy. 

    Dạo gần đây, bà còn nghe con gái kể về một trường hợp khá lạ. Người mất là chú của một đồng nghiệp cùng cơ quan với con gái bà. Chú của cô đồng nghiệp là chủ thầu xây dựng nên có nhiều mối làm ăn, những khoản nợ từ người này người khác mà vợ con không biết. Vì là chủ thầu nên ông ấy cũng hay uống rượu. Và rồi tai nạn đã xảy ra khi ông say rượu và đâm vào một cái cây bên đường. Gia đình nhà bên ấy lại theo đạo Thiên chúa nên không tin các phép cúng lễ như bên đời. Khi ông ấy mất được chừng hơn một tuần thì một buổi tối có mấy người lạ đem theo một cô gái tới nhà. Vừa vào đến cửa, cô ấy liền lao tới ôm lấy vợ con của người mới mất mà khóc. Câu chuyện sau đó khiến nhiều người lạnh gáy. Hồn ma nhập vào cô gái kể rằng ông đã tự đâm, tự ngã vào cái cây ven đường nên chết. Ông ta đã đứng đó chờ suốt nhiều ngày mới gặp được cô gái có tần số phù hợp đi xe ngang qua. Ông đã nhập vào cô gái. Ông đã theo cô gái về đến tận nhà. Qua miệng của cô gái ông đã nói:

    – Ta là Phong. Nhà ở phố Hoà Mã. Ta bị chết bất ngờ khi đâm phải cái cây bên đường lúc say rượu. Còn rất nhiều điều ta chưa kịp nói với vợ con. Hãy đưa ta đến địa chỉ đó. Ta muốn cho vợ biết về các khoản tiền mà họ còn nợ ta.  

    Những người đi theo nói mới đầu họ không tin. Nhưng khi cô gái liên tục lặp đi lặp lại điều đó thì họ thấy sợ. Người bị nhập còn nói nếu không làm theo thì họ sẽ hại chết cô. Người nhà hoảng sợ nên dù bán tín bán nghi vẫn quyết định làm theo. Họ đã đưa cô gái đến đúng địa chỉ mà cô ấy nói ra. Họ đã gặp vợ con và nhìn thấy di ảnh của người đã mất đang nhập vào cô gái. Cô gái bị nhập nói cho vợ con ông ấy biết về những người còn nợ tiền. Vợ ông ấy lập tức gọi điện, kể lại câu chuyện và xác nhận khoản tiền với các con nợ. Không biết là vì sợ, vì bị nói đúng khoản nợ hay sợ người đã mất về đòi mà tất cả đều xác nhận và hứa sẽ trả lại. Câu chuyện hoang đường đến độ nếu không phải người chứng kiến, người nhà thì khó có ai tin. Gia đình nhà đấy cũng không thể cúng lễ hay đưa hương linh người đã mất lên chùa như bên đời vì trái với các giáo lý, cách hành xử bên Thiên chúa. Nghe cô đồng nghiệp con gái bà kể lại gia đình đó có đi xem bói. Họ nói các thiên sứ đã về bắt người đàn ông đó nhưng ông ta luôn lẩn trốn. Câu chuyện đó cũng không có cách gì để xác thực ngoài số tiền nợ đã được xác nhận và cô gái bị nhập vì có tần số phù hợp. 

    Nói về chuyện hợp thì bà tin. Ngày chồng bà nằm viện, hai cậu con trai cắt cử nhau trông đêm mỗi người một ngày. Cậu con út có một lần bị thức dậy giữa đêm vì thấy có bóng người ngồi cạnh. Cậu con cả thì không bị ai đến làm phiền khi trông bố trong bệnh viện ban đêm. Nhưng cứ sáng ra, khi chị gái đến thay phiên để cậu về đi làm thì lại xảy ra chuyện. Lần đầu, cậu nghĩ mình bị cảm khi chiếc xe máy đang đi bị loạng choạng lúc bắt đầu rẽ vào con phố ngang gần bệnh viện. Cậu đã phải ghé tạm vào một quán nước, gọi chén trà nóng cho qua cơn choáng váng. Lần thứ hai vẫn diễn ra y hệt. Cậu vừa quặt xe vào con phố ngang thì xe bắt đầu loạng choạng. Cậu cố cầm chắc lái nhưng xe mỗi lúc một nặng. Có cảm giác như không phải cậu đang đi xe một mình mà chở theo một thứ gì đó rất nặng ở phía sau khiến chiếc xe cứ lạng về một bên. Mà trời thì rõ là ban ngày khi chỉ mới hơn bảy giờ sáng. Đường phố lại khá đông người đi lại. Lần thứ ba vẫn là cảm giác đó khi cậu chỉ mới vừa quặt xe rẽ vào con phố. Với kinh nghiệm của hai lần trước, cậu biết mình đang chở theo thứ gì. Nhưng tại sao cảm giác đó chỉ xuất hiện khi cậu rẽ vào con phố đó. Khi xe ra khỏi con phố thì cảm giác đó cũng biến mất. Chiếc xe lại nhẹ như bình thường. Ba lần, với mỗi lần cách nhau một ngày vì luân phiên với em trai khiến cậu không thể không tin. Cậu đã kể cho mọi người, cho bà nghe về chuyện kỳ lạ đó. Cô con dâu cả của bà đã trách chồng nó không nói sớm. Có thể cậu cả đã hợp tần số với một vong linh nào đó ở trên chính con đường ngang đó. Nhưng câu chuyện lại xảy ra vào ban ngày, vào quãng hơn 7 giờ sáng khi cậu rời bệnh viện chăm bố về đi làm. Với những gì bà biết thì thế giới người âm thường hay hoạt động vào đêm tối. Nhưng chuyện xảy ra với con trai bà lại vào ban ngày, khi mới hơn 7 giờ sáng. Những lần chăm bố sau đó cậu cả luôn thủ theo vài nhánh tỏi. Cậu còn cố tình đi vào con phố ngang đó chứ không chọn đi con đường khác. Nhưng tuyệt nhiên không có sự lạ nào xảy ra khi cậu mang theo mấy nhánh tỏi trong người. Vậy là cái thế giới ấy không chỉ hoạt động vào ban đêm như mọi người thường nghĩ. Nó có thể diễn ra cả ban ngày và vào những lúc không ai ngờ đến nhất. 

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG VI: ƯỚC VỌNG LÀM NGƯỜI

    CHƯƠNG VI: ƯỚC VỌNG LÀM NGƯỜI

    Sau lần nghe bà ấy giãi bày, chị em chúng cũng suy nghĩ nhiều. Chúng bắt đầu nhìn mọi việc theo hướng tò mò, tìm hiểu chứ không còn thờ ơ hay giữ định kiến như trước. Chúng lờ mờ nhận thấy nhiều người không thật vui, thật hạnh phúc như những gì họ thể hiện ra với mọi người. Có cô trông xinh lắm, mặt hoa da phấn, ăn diện ngất trời. Nhưng nghe qua lời của mấy ông thầy khấn thuê thì cô ấy cũng bất hạnh lắm lắm. Dù xinh đẹp, giầu có nhưng cô ấy cũng không hạnh phúc khi chồng suốt ngày chơi bời tìm hoa, ghẹo nguyệt. Cô ấy đã đi nhiều nơi, đến nhiều cửa để lễ lạt xin cắt bớt nhân duyên đào hoa cho chồng nhưng vẫn chẳng ăn thua. Nhìn cô ấy sụt sùi, kể lể với mấy thầy cúng thuê chúng thấy cũng thương. Đẹp thế, xinh thế, sang thế mà xem ra cũng không mấy vui vẻ. Chúng đem chuyện của cô ấy kể với bà ma già. Bà ấy cười bảo chuyện như gia đình cô ấy cũng không phải hiếm. Cô ấy còn chưa bị phát điên, chưa tìm đến cái chết là vẫn còn bản lĩnh hơn một số người. Bà chỉ cho chúng một hồn ma xanh lướt, lúc nào cũng co ro, cúm rúm đầy sợ hãi. Hồn ma đó lúc nào xuất hiện cũng chỉ thấy khóc, khóc và khóc. Cô ta khóc lúc ngồi một mình trên ghế khuất. Cô ta khóc lúc quỳ rạp làm lễ. Cô ta khóc khi nhìn mọi người và thỉnh thoảng lại hét lên thảm thiết rồi biến mất. Bà ma già bảo đó là kiếp nạn mà cô ấy đã chọn. Nghe đâu vì thất tình, vì bị bạn trai bỏ mà cô ấy đã tự tử. Theo kinh nhà Phật những người tự huỷ đi tấm thân cha mẹ đã ban cho là tội nặng lắm. Họ sẽ bị đày đoạ. Sẽ bị quỷ sứ tra tấn hàng ngày vào đúng khung giờ họ đã quyên sinh. Những người như vậy cũng không bao giờ được siêu thoát lên lại làm người. Họ cứ phải sống trong cái tội lỗi mà họ đã chọn.

    Chị em chúng đã bàng hoàng cả một buổi chiều khi nghe bà ma già kể về hồn ma xanh lướt đó. Hoá ra, có những hồn ma còn đau khổ hơn chị em chúng gấp vạn lần. Họ đã chết mà vẫn không thoát khỏi bị hành hạ, kìm kẹp. Chắc hồn ma ấy cũng không hình dung ra kết cục khi lựa chọn cái chết như vậy. Hoá ra ngoài đói, ngoài rét, ngoài không được bố mẹ, gia đình yêu thương như chị em chúng thì còn có những nỗi đau khác. Mà nỗi đau này xem ra còn khủng khiếp hơn nỗi đau của chị em chúng. Đau đớn thế nào mà lại tự tìm đến cái chết, tự huỷ hoại cả bản thân mình? Bà ma già nói đó là tội bất hiếu. Bất hiếu với cha mẹ đã mang nặng đẻ đau yêu thương, chăm sóc mình. Bất công với chính mình khi bao năm trời tu luyện mới được đầu thai làm người mà lại tự huỷ đi cái thành quả đó. Ngay như chuyện của bà ma già. Bà ấy nói đã từng đau đớn vì bệnh tật chỉ muốn chết, muốn giải thoát khỏi những nỗi đau đó. Nhưng bà ấy không dám. Bà ấy vẫn phải gồng mình lên chịu đựng nỗi đau của bệnh tật và xem đó như một kiếp nạn mà mình phải trả, phải tự đi cho hết đoạn đường khổ ải đó. Bà ấy biết việc từ bỏ mạng sống sẽ phải trả giá đắt thế nào sau khi chết. Bà ấy còn nói làm như vậy sẽ không được lên lại làm người. 

    Lên lại làm người ư? Đời người có gì vui, có gì hay mà bà ma già rồi cả người chồng đã chết của bà lão ấy đều nói đến nó một cách đầy mong ước như thế. Chính ông ấy đã bảo chúng: 

    – Đi đi, đi mà giải thoát rồi đầu thai lại làm người. Các ngươi chưa được hưởng những lạc thú và niềm vui của kiếp người quả là đáng phí. Hãy cứ đi, cứ tu và trở lại.

    Vì muốn biết, muốn hiểu thêm nhiều chuyện mà chị em chúng cứ bám riết lấy bà ma già. Chúng lẽo đẽo đi theo bà ngồi nghe kinh, nghe thầy giảng pháp. Chúng chờ đợi bà ấy hành lễ cả buổi chỉ mong được giải đáp vài điều mà chúng thắc mắc. 

    Một lần chúng hỏi bà:

    – Bà ơi, tại sao bà lại không giận các con khi họ đưa bà lên chùa mà bà không muốn?

    Bà ma già cười:

    – Ta không trách vì chúng vô minh. Chúng không biết là mỗi người mỗi sở thích. Chúng cứ nghĩ làm thế là rất tốt cho ta. Nhưng ở đời, nhiều người cũng nghĩ như chúng lắm. Họ cứ nghĩ họ đang làm điều tốt nhất cho người khác nhưng thật ra lại không phải vậy. Đôi khi, họ làm điều đó chỉ để thoả mãn mong muốn của họ thôi.

    Con ma chị:

    – Phức tạp quá bà nhỉ? Tại sao lại cứ làm những điều mà người khác không thích thế? Kệ họ có hơn không?

    Bà ma già cười lớn:

    – Cũng không hoàn toàn như cháu nghĩ đâu. Có những điều tuy người khác không muốn nhưng vẫn phải làm ví dụ như việc cha mẹ bắt con phải học dù chúng không thích học, chỉ thích chơi. Hay có người cha mẹ, bạn bè ngăn cản đến cùng không cho yêu vì biết đấy là người xấu, lăng nhăng nhưng cái người đang yêu lại không nghe, lại oán trách những người can ngăn họ.

    Con ma em thỏ thẻ:

    – Cháu chả hiểu gì cả. Sao lại rắc rối thế? Loạn cả lên thế thì sao mọi người vẫn thích được lên làm người hả bà?

    Bà ma già mơ màng:

    – Ôi đời người có những cái thú vị mà các cháu chưa biết được đâu. Đó là khi mắt ta, miệng ta, vị giác của ta được tận hưởng trọn vẹn một món ăn mà ta yêu thích. Là khi ta được đi đến một nơi mà cảnh vật khiến ta phải chìm đắm trong nó và thấy mình thật bé nhỏ trước vũ trụ, trước bao la đất trời. Rồi khi ta đọc được một cuốn truyện hay khiến ta phải thay đổi, phải suy nghĩ lại những gì mình đã nghĩ, đã làm. Lại có những người khi gặp khiến ta rung động, muốn yêu thương, gắn bó trọn cả một đời. Đó là những cái lớn, ngoài ra còn rất nhiều những cái nhỏ bé, thú vị như khi ta đắm chìm trong một bản nhạc hay, một giọng ngâm thơ trầm ấm, một điệu khiêu vũ sôi động hay lả lướt. Rồi khi trời chuyển mùa ta bỗng thấy hạnh phúc khi đón nhận đợt gió heo may đầu tiên. Hay những lúc bâng khuâng nghe một tiếng chuông chùa, nhìn một chiếc lá vàng rơi… Ôi ta thấy nhớ tất cả. Ta thèm được cảm nhận lại từng hương vị của đời người. 

    Nói rồi bà ma già ngẩng mặt, nhắm mắt, gương mặt tràn đầy hạnh phúc. Bà cứ im lặng như thế một lúc lâu. Có lẽ bà ấy đang nhớ lại những ngày còn sống. Chúng bỗng như lây cái thèm được làm người của bà. Chúng cũng mong muốn được nếm trải những thứ thú vị mà bà ấy mô tả. Cuộc đời con người vui thú đến thế ư? Có lẽ là thế thật. Cứ nhìn con bé cháu bà ấy cũng như đám bạn bè nó và cả đám cư dân trong con ngõ ấy. Ở họ luôn toả ra niềm vui sống, sự hạnh phúc, vui vẻ với cuộc đời. Các bài kinh, những câu chuyện khuyến đạo, răn đời treo bên hông tường nhà chùa đều hướng con người ta đến việc thiện. Và một trong những phần thưởng của việc tu tập ấy là thoát khỏi ngạ quỷ, thoát khỏi kiếp làm súc vật và được lên lại làm người. Đời người theo như bà ấy nhớ lại và mô tả thì có rất nhiều khoảnh khắc vui sướng và tỉnh ngộ. Những hồn ma của mấy kẻ bặm trợn đang trú ngụ tại chùa cũng hay kể về những cảm giác sung sướng khi đu bám theo mấy thầy khấn thuê đi ăn, đi chơi, đi hưởng lạc thú. Nhưng nếu đời người vui đến thế thì tại sao hồn ma xanh lướt lại khổ sở tìm cách rời bỏ nó. Rồi cả cô gái xinh đẹp khóc nức nở khi nhờ mấy thầy khấn thuê cách hoá giải nghiệp đào hoa của chồng. Cả bà ma già nữa. Dù luôn nhớ về cuộc sống, về kiếp làm người nhưng bà ấy cũng có lúc thở than, ngầm trách người thân không hiểu, không làm theo ý mình đấy thôi. Ôi đúng là rối não. Càng dấn sâu vào tìm hiểu chị em chúng càng thấy mông lung. Có lẽ nào đúng như bà ấy nói. Ngày còn rộng, tháng còn dài chị em chúng cứ phải từ từ mà suy ngẫm, mà tìm hiểu.