Author: editor editor

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG V: BUÔNG BỎ THÙ HẬN

    CHƯƠNG V: BUÔNG BỎ THÙ HẬN

    Hai chị em con ma nhỏ vẫn ngồi vắt vẻo trên đầu đao cong cong của mái đình xây thêm. Đình này nghe nói nhà chùa đã cho xây thêm trên khoảng đất trống bên hông chùa. Vừa có thêm điểm để thờ cúng, lễ bái vừa giúp chùa đỡ trống trải. Vì xây sau nên đình trông khá mới dù tốp thợ đã sử dụng mầu ngói, mầu sơn thật trầm cho ăn nhập phần nào với ngôi chùa đã xây từ lâu. Từ chỗ ngồi này, chúng dễ dàng đọc được các bức tranh được treo bên bức tường đầu hồi của nhà chùa. Những bài học răn dạy, những hình phạt dành cho kẻ phạm lỗi làm chúng có chút chờn chợn. Vốn chữ tuy ít ỏi nhưng cũng đủ cho chúng đọc hiểu nội dung các bức tranh. Đang đánh vần từng từ thì một bà ma già gọi chúng:

    – Ngồi vắt vẻo thế làm gì. Xuống đây với bà nào!

    Hai chị em chúng nhẩy xuống. Bà ma già kéo chúng ngồi xuống bên thềm rồi bảo:

    – Bà thấy hai chị em chúng mày hay dừng lại nơi mấy bức tranh. Chúng mày có hiểu nội dung không?

    – Bọn cháu đánh vần từng từ thì cũng hiểu nhưng hơi lâu bà ạ – Con ma chị thật thà.

    Bà ma già cười xoà:

    – Ừ, cứ từ từ mà tìm hiểu. Cái chúng ta có bây giờ chả có gì ngoài thời gian cả.

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Bà ơi, bà ở đây lâu chưa? Sao bà không ở nhà mà lại ở đây?

    Bà ma già lặng đi: 

    – Ta cũng muốn ở nhà nhưng con cháu nó thích mang ta lên chùa. Những ngày đầu ta buồn lắm. Ta nhớ nhà, nhớ con cháu. Nhưng bây giờ thì ta quen rồi. Chỉ thi thoảng ngày giỗ, ngày lễ chúng lên mời thì ta mới về thôi. 

    – Thế là họ không thích cho bà ở nhà ạ? Con ma em tò mò.

    Bà ma già cười hiền: 

    – Không phải là chúng không thích mà chúng không nghĩ sâu xa thôi. Chúng thấy mọi người đưa cha mẹ ông bà đã mất lên chùa thì chúng làm theo. Chúng không biết rằng mỗi người mỗi sở thích khác nhau. Ta thích ở cùng người thân hơn là lên chùa nhưng chúng sợ không làm thế thì thiên hạ lại chê cười nên chúng cứ làm theo số đông.

    – Thế nghĩa là họ đưa bà lên đây là vì họ chứ không phải vì bà đúng không ạ? Con ma chị dò hỏi.

    – Đúng vậy! Bà ma già xác nhận.

    – Thế sao bà không nói với họ là bà không thích lên chùa ạ? Con ma em ngập ngừng.

    Bà ma già thở dài: 

    – Ta có nói với chúng vài lần khi còn đang bệnh nặng. Ta nói khi khoẻ mẹ hay thích ra công viên, thích nhẩy múa, đàn hát với bạn bè. Mẹ thích không khí vui tươi, náo nhiệt. Mẹ không thích sự vắng vẻ, cô tịch của nhà chùa. Sau này mẹ mất thì đừng đưa mẹ lên chùa, cứ để mẹ ở nhà thôi.

    – Thế nhưng họ không nghe và vẫn đưa bà lên chùa ạ? Con ma em lại hỏi.

    Bà ma già cười buồn: 

    – Ta nghĩ chắc chúng chả nhớ những gì ta đã nói. Chúng cứ nghĩ đưa ta lên chùa như mọi người là báo hiếu, là tốt cho ta. 

    – Thế bà có ghét bọn họ vì đã làm trái ý của bà không? Con ma chị lại hỏi.

    Bà ma già cười buồn: 

    – Lúc đầu thì ta có giận, có trách chúng vô tâm, chúng làm trái lời ta. Nhưng sau ở đây lâu, nghe kinh nhiều ta cũng tha thứ cho chúng. Có thể chúng đã quá mệt mỏi khi phải chăm sóc một người mẹ ốm đau lâu năm như ta. Có thể chúng cũng muốn giải thoát cho chính chúng.

    Con ma chị giật mình. Giải thoát ư? Nó tưởng chỉ có đám âm binh và những hồn ma bị nhốt trong khu vườn mới cần giải thoát. Sao bà ấy lại nói các con mình muốn giải thoát. Ngẫm nghĩ một hồi, nó dò hỏi:

    – Bà ơi, sao bà lại nói các con đưa bà lên đây là vì họ muốn giải thoát ạ?

    Bà ma già bâng quơ: 

    – Các cháu còn bé quá chưa hiểu biết nhiều đâu. Dù là ông bà, cha mẹ hay vợ chồng khi mà ốm đau lâu quá thì người chăm cũng đều mệt mỏi. Mình chết khi đó không chỉ là giải thoát cho mình mà là giải thoát cả cho người chăm mình nữa. Chả có ai muốn chăm người ốm lâu trừ khi đó là cha mẹ chăm con. Các cụ ngày xưa nói cấm có sai mà. Nước mắt chảy xuôi. Chỉ có cha mẹ là yêu thương con vô bờ bến, vô điều kiện mà thôi. 

    Con ma chị giãy nảy:

    – Không phải đâu bà ạ. Chúng cháu cũng là trẻ con nhưng ngay cả khi còn sống lẫn khi đã mất bố mẹ cũng có yêu chúng cháu đâu.

    Bà ma già trầm ngâm:

    – Vậy là các cháu thuộc số ít trẻ con không may mắn rồi. Ta đã sống trên đời gần bảy chục năm. Ta đã chứng kiến nhiều bố mẹ bỏ công, bỏ việc bán nhà, bán cửa để chăm sóc, chạy chữa cho con. Nhưng ta ít thấy đứa con nào chịu bán nhà để cứu cha cứu mẹ khi bệnh nặng cả. Chúng cứ nghĩ đó là số giời, là thuận tự nhiên. Nhưng khi con chúng bị bệnh thì chúng lại luôn muốn cãi lại mệnh số, cãi lại mệnh trời để giữ mãi các con bên mình.

    Hai chị em con ma nhỏ lặng thinh. Những gì bà ma già nói quá lạ lẫm đối với chúng. Bà ý nói trẻ con được yêu thương, được ưu tiên hơn hết thảy. Nhưng hai chị em chúng đã thấy điều ngược lại. Chúng đã bị thờ ơ, bị ghẻ lạnh ngay trong chính căn nhà của mình. Con ma chị nhìn bà ma già rồi ngập ngừng:

    – Vậy bà có hận các con của bà không?

    Bà ma già lắc đầu:

    – Không, ta từng khó chịu nhưng ta không hận chúng. Chúng đối với ta cũng không xấu hơn con nhà người khác đối với cha mẹ. Chúng cũng chăm sóc ta khi ta bệnh nặng. Chỉ có điều trong cán cân tình cảm thì ta mãi không thể quan trọng hơn con của chúng mà thôi.

    – Sao bà không nói điều làm bà khó chịu với các con của bà? Con ma em ngập ngừng.

    Bà ma già cười buồn:

    – Nói thì giải quyết được gì chứ? Ai cũng sống như vậy mà. Ngay cả ta cũng yêu thương con của ta hơn bố mẹ ta đấy thôi. Tình yêu với con cái là bản năng không ai phải dạy. Ngay đến các con vật vô tri cũng yêu thương và bảo vệ con mình. Nhưng tình yêu với cha mẹ thì lại cần đến lý trí, cần đến trách nhiệm mới có thể chu toàn được. Ta thấy có người nói tình yêu cha mẹ đối với con cái là thiên tính tức bẩm sinh ra đã vậy, không phải cưỡng cầu, không phải cố gắng. Còn tình yêu của con cái đối với cha mẹ thì là lý tính tức cần đến trí tuệ, nhận thức và cả sự cố gắng, trách nhiệm mới có thể chu toàn. 

    Thấy hai chị em con ma bé ngẩn ngơ nhìn mình, bà cười xoà: 

    – Hai chị em cháu còn bé quá chưa hiểu được cái đạo lý ấy đâu. Đến như ta, phải sau vài năm ốm bệnh thì mới ngộ ra nhiều chuyện. Ngộ ra để hiểu thôi chứ cũng không hờn trách, oán hận gì. Nó là nợ đồng lần cả thôi mà. 

    Một đám các bà áo váy loè loẹt ùa vào chùa. Họ mang theo nào hoa, nào quả cả những gói bánh kẹo nhiều mầu sắc. Bà ma già nhận ra người quen liền vội vã chạy lại. Bà ý cứ lượn lờ quanh mấy bà bạn vẻ vui mừng rạng rỡ. Con ma chị trầm ngâm. Nó cứ nghĩ chỉ có chị em nó bất hạnh. Nhưng xem ra nhiều người cũng có những nỗi buồn riêng. Ngay cả bà ma già thường ngày trông thanh thản, nhẹ nhàng là thế mà cũng có những điều không vừa ý. Nhiều điều bà ấy nói chị em chúng không hiểu. Sao lại không ghét, không hận những người đã làm mình giận, mình buồn chứ? Chúng phải hỏi kỹ lại bà ma già chuyện này mới được. Nhưng giờ bà ý đang vui vẻ, đang xoắn xuýt bên mấy bà có tuổi lại ăn mặc loè loẹt. Bà ý cứ lượn quanh người này, ngó mặt người khác với vẻ vui mừng, rạng rỡ nhưng nào có ai nhìn thấy bà ấy đâu. Bà ấy chỉ là cái bóng mờ không thể chạm cũng không thể thấy dù đã cố chen, cố đứng sát vào các bà bạn. Giữa họ giờ đã là hai cảnh giới, là âm dương cách biệt. Không phải ai, không phải người nào cũng có thể cảm nhận, dù là mơ hồ cái ranh giới ấy.

    Con ma bé giật tay con ma chị và đánh ánh mắt về phía cổng chùa. Bà già ấy lại đang chậm rãi bước qua cánh cửa phụ. Thường mọi người hay đi cái cửa này dù vào những dịp mùng một, ngày rằm hay khi đông khách nhà chùa vẫn mở cả hai cánh cổng chính. Nhưng hôm nay bà ấy có vẻ lạ lắm. Không còn nét bình thản như thường thấy. Bà ấy cứ đi loanh quanh rồi lại nhìn quanh nhìn quẩn. Hết ngó lên ngọn cây cao lại nhìn chăm chăm vào các phù điêu, các bức tượng quanh chùa. Có vẻ như bà ấy đang muốn tìm kiếm ai đó. Chắc là tìm chị em chúng. Hôm trước bà ấy đã đánh tiếng bảo chúng đừng làm hại con bé cháu. Chắc bà ấy cũng đã đoán ra rồi. Những người như bà ấy luôn rất nhạy khi cảm nhận các luồng âm khí. Hai chị em chúng cũng muốn nghe xem bà ấy muốn gì.

    Cả hai chị em chúng từ từ tiến lại. Chúng đến trước mặt rồi lại gần bà ấy. Chúng cảm nhận bà ấy thoáng rùng mình. Chắc luồng âm khí từ chị em chúng đã khiến bà ấy thấy lạnh. Bà ấy chọn một chiếc ghế đá khuất sau cái cây to rồi từ từ ngồi xuống. Trong chùa có khá nhiều những chiếc ghế như vậy. Chúng là của các doanh nghiệp, các cửa hàng lớn đem cung tiến vào chùa. Hai chị em chúng cùng ngồi xuống hai bên cạnh bà. Chúng cũng muốn nghe xem bà ấy muốn gì?

    – Vậy là hai chị em ngươi đang ở trong ngôi chùa này – Bà ấy nhỏ giọng. Ta cũng đã lờ mờ đoán ra khi gần đây luôn cảm nhận được cái cảm giác của ngày xưa ấy. Cái cảm giác sống lẫn với người âm trong từng khoảnh khắc khi ta còn bé, khi ở trong khu vườn của ông ngoại. Ta không bao giờ quên được cảm giác ấy. Tám mươi năm qua, ta ngỡ đã quên đi tất cả. Nhưng thật ra, không có gì bị lãng quên cả. Ngay khi cái cảm giác ấy trở về, ta đã cảm nhận được. 

    Bà ấy dừng một chút rồi tiếp tục:

    – Tại sao chị em ngươi không nghe lời sư thầy, không tỉnh ngộ mà theo Phật, nghe kinh để giải thoát. Tại sao chị em ngươi lại bám theo hai bà cháu ta về đến tận đây? Ở đây quá xa với quê nhà của các ngươi. Đây cũng là chốn phồn hoa đô hội rất khó để tĩnh tâm, tu tập hay giác ngộ, giải thoát. Ta không biết giữa ta và các ngươi có mối liên hệ hay có ân oán gì? Nhưng ta biết ta chưa từng có lỗi với các ngươi. Con bé cháu của ta cũng vậy. Nếu chỉ vì bà cháu ta đã có một cuộc sống khác với chị em ngươi thì đó cũng không phải lỗi của chúng ta. Ai cũng có một số phận. Ai cũng cần chọn lựa, phấn đấu để đạt tới những gì mình mong muốn. Cả đời ta đã không ngừng cố gắng. Cả đời ta đã chăm chỉ làm lụng, chắt bóp từng chút một. Ta từng giận bố giận mẹ khi đem ta cho ông ngoại và bà Ba nuôi khiến ta chịu bao khốn khổ trong 3 năm thơ bé ấy. Nhưng ta đã tha thứ cho họ khi hiểu rằng họ đã quá sợ, quá tin vào lời phán của các ông thầy. Các ngươi cũng hãy buông bỏ thù hận với cha mẹ, với người thân đi. Ta nghĩ cha mẹ, ông bà và người thân của hai chị em ngươi cũng phải trả giá rồi. Cái giá họ phải trả chính là không có được tình cảm yêu mến, gắn bó, sự tôn trọng từ hai chị em ngươi. Đối với bậc làm cha mẹ, không có gì đau xót hơn khi bị chính con cái mình căm ghét, oán hận. Cha mẹ các ngươi chắc cũng đã mất từ lâu rồi. Những ân ân oán oán, những thù thù hận hận rồi bùa phép trấn yếm có lẽ đã khiến cho các ngươi không gặp được cha mẹ, gặp được người thân của mình ở thế giới bên kia. Giờ ta chắc chị em ngươi cũng không nhớ nổi đường về nhà. Đã gần một thế kỷ trôi qua rồi. Bao làng mạc, tỉnh thành đã đổi khác vì bom đạn cày phá, vì sát nhập hay thay đổi. Ngay cả đến tên đường, tên xóm, tên làng ngày xưa chắc gì đã còn giữ được. Chị em các ngươi lại chưa từng đi xa. Làm sao còn biết lối, còn nhớ được địa chỉ mà quay về. Mà nếu quay về được thì quê nhà các ngươi liệu có còn người thân nào còn ở đó hay không? Gần một thế kỷ trôi qua rồi. Bãi bể, nương dâu cũng biến cải hết rồi. Hãy buông bỏ kiếp đời ngắn ngủi ấy đi. Hãy bắt đầu lại. Hãy tu tập để giải thoát, chuyển kiếp, siêu sinh. Chắc chị em các ngươi cũng không muốn vạ vật mãi ở nơi này. Cứ mãi phải nghe, phải chứng kiến những tham luyến, sân si của người khác. Chị em các ngươi hãy nương nhờ Phật pháp, nương theo chỉ dẫn của các linh hồn tốt mà giác ngộ, tu tập. Chị em ngươi phải tự cố gắng thôi. Phải tự cứu lấy mình. Các người đừng so bì, đừng oán hận khi thấy người khác vui vẻ, hạnh phúc hơn mình. Sự oán hận đó sẽ chỉ làm khổ các ngươi. Nỗi oán hận cũng sẽ nhấn chìm để các ngươi mãi vùng vẫy trong biển khổ mà không sao thoát ra được. Hãy lắng nghe, hãy mở lòng mình ra. Các ngươi sẽ thấy có rất nhiều lựa chọn. Ta chỉ nói đến đây thôi. Ngày còn rộng, tháng còn dài chị em các ngươi cứ từ từ mà suy ngẫm. 

    Bà ấy thở ra một hơi dài sau khi trút xong những lời gan ruột ấy. Dường như việc nói dài, nói một hơi đã làm bà ấy mệt. Chị em chúng ngồi lặng. Chúng không biết phải nghĩ gì? Những lời bà ấy nói có cái chúng hiểu có cái không. Nhưng chúng biết bà ấy đã nói thật lòng, đã trút gan ruột của mình ra với chị em chúng. Cả ba cùng ngồi lặng nhìn ra khoảng sân chùa. Cái tĩnh mịch, yên ả, thưa vắng của buổi chiều khiến cho lòng dịu xuống. Lần đầu tiên, chị em chúng thấy không còn ganh ghét, không còn thù hận đối với bà ấy. Dù không hiểu hết những gì bà ấy nói nhưng chúng mơ hồ nhận ra một mối liên hệ. Dường như giữa chúng và bà ấy có một mối duyên, dù không biết là duyên thuận hay duyên nghịch. Những ngày ở chùa, khi buồn chúng vẫn hay nghe những bài kinh bài kệ được nhà chùa bật suốt từ sáng tới tối. Chưa kể nhiều buổi lễ, khoá tu ở chùa chúng cũng nghe được kha khá. Chúng hiểu mọi người, mọi vật có gặp mặt, có liên hệ đều là nhân duyên. Nếu nhân duyên tốt sẽ khiến mọi người cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Nhân duyên xấu thì chỉ mang lại khổ đau, oán hận. Nhưng dù nhân duyên tốt hay xấu thì luôn có sự chuyển hoá. Có nhân duyên tốt nhưng không được vun trồng, tưới tắm lâu dần biến thành nhân duyên xấu. Ngược lại, có những nhân duyên xấu nhờ lắng lại, bình tĩnh, hoá giải mà dần trở lên tốt. Không biết mối nhân duyên của hai chị em chúng với bà ấy là tốt hay xấu. Nhưng lần đầu tiên nghe bà ấy nói chúng không còn thấy khó chịu. Chúng thấy mình có thể thấu cảm, có thể gần gũi với người đàn bà đã đi gần hết cuộc đời này.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG IV: MẤT PHẠM GIỜ XẤU

    CHƯƠNG IV: MẤT PHẠM GIỜ XẤU

    Bà nằm mãi mà vẫn không ngủ nổi. Kể từ sau cái đêm lập đàn lễ ấy, câu chuyện về các hồn ma, về một thế giới khác tồn tại song song với thế giới người sống ngày càng nhận được sự đồng tình của các con, các cháu và những bạn bè, hàng xóm của bà. Nhiều người đã kể lại những trải nghiệm mà họ từng có. Những câu chuyện đó càng làm cho niềm tin về một thế giới tâm linh, thế giới của những người đã mất thêm vững chắc. Cô con dâu út của bà đã kể cho mọi người nghe một câu chuyện mà chỉ những người chứng kiến mới dám tin. Đó là vào một buổi tối mùa hè khi con bé vẫn đang là sinh viên và thuê trọ cùng mấy đứa bạn. Buổi tối đó cả dãy nhà trọ bị cúp điện. Vì nóng nên cả mấy đứa đều chưa ngủ, vừa quạt tay vừa tán chuyện gẫu. Đang nằm ngồi ngả ngốn bỗng một đứa hét to:

    – Ai đấy? Sao lại vào đây? 

    Cả đám nhốn nháo sau tiếng hét. Con bé vừa hét mếu máo, giọng đã lạc đi vì sợ:

    – Tao vừa thấy một cái bóng bước thẳng lên giường của bọn mình. Nó còn chen vào giữa tao với con Hạnh. 

    Một đứa khác đồng tình:

    – Tao cũng nhìn thấy cái bóng đó. 

    Cả bọn hú hét rồi tháo chạy toán loạn ra khỏi phòng. Tiếng hét làm mấy phòng trọ bên cạnh cũng ùa ra. Khi nghe mấy cô gái kể lại câu chuyện, các phòng khác cũng nhao nhao khi có người nói đã nhìn thấy một cái bóng lướt qua khu vệ sinh vào lúc sáng sớm. Người thì nói đã nhìn thấy một cô gái với mái tóc dài ngồi trên bể nước khi đi kèm gia sư về muộn. Ngay cái ao đầu đường dẫn vào khu trọ cũng nghe nói có nhiều ma quỷ trú ngụ. Có người quả quyết đã gặp ma khi đi làm về muộn ngang qua cái ao đó. Họ kể đang đi thì bất chợt nghe tiếng rào… rào… như có ai đó hất cả một chậu nước ra hồ. Nhưng khi ngoảnh lại thì xung quanh lại chả có ai. Hay như có một tối, khách đến chơi nhà một ông bên cạnh hồ. Khi ra về, thay vì đi đường cái người khách lại lững thững bước thẳng xuống mặt hồ. May mà chủ nhà theo ra nhìn thấy mới hô hoán và chạy xuống kéo lên. Những câu chuyện hư hư thực thực khiến tối đó, cả mấy cô đều không dám về phòng. Chỉ đến khi có điện trở lại cả đám mới dám dẫn nhau về. 

    Cô con dâu cả thì kể cho mọi người nghe một chuyện còn kinh sợ hơn. Ngày đó cô chưa lấy chồng và còn làm ở nhà máy may. Có một lần cả nhóm đi thăm một người bạn làm cùng đang nằm viện. Cô kể người bạn ấy bị sốc khi trước đó nhiều đêm đang ngủ thì có những người đến rủ đi cùng. Khi cô ấy từ chối vì còn phải đi làm gửi tiền về cho chồng nuôi con thì bị doạ: 

    – Nếu mày không đi thì bọn tao sẽ về bắt chồng và bắt con mày. 

    Cô ấy vốn mạnh mẽ nên chỉ coi những giấc mơ ấy là chuyện mộng mị không đáng tin. Nhưng một ngày đang giờ làm thì cô ấy nhận được điện báo cả chồng và con đã mất đêm qua. Lý do hai bố con mất đến giờ vẫn là một ẩn số. Họ hàng, làng xóm đều nói buổi tối cả hai bố con vẫn sinh hoạt bình thường. Nhưng sáng hôm sau đã qua giờ đi học của thằng bé mà vẫn không thấy hai bố con mở cửa nên mọi người sinh nghi. Khi phá cửa xông vào thì cả hai bố con đều đã chết. Người cũng cứng nên mọi người đoán cả hai đã mất từ đêm. Xung quanh nhà, các cửa không có dấu hiệu bị trộm, bị cướp nên nhiều người tin là cả hai bố con bị cảm rồi mất. Nhưng việc cả hai bố con cùng chết thì vẫn luôn là một dấu hỏi lớn. Họ hàng cũng mời công an đến khám nghiệm nhưng không tìm ra dấu vết khả nghi. Chỉ có cô bạn là mơ hồ về lý do mà cả chồng và con đều mất đột ngột. Cô ấy cứ khóc và bảo nếu tao đi theo chúng thì có lẽ giờ này cả chồng và con tao vẫn còn đang sống. Đám bạn đến thăm đã gạt đi phần để an ủi người bạn bất hạnh, phần thì bán tín bán nghi với câu chuyện. Cũng trong buổi đến thăm ấy, cô con dâu bà và đám bạn còn được bà bệnh nhân cùng phòng kể cho nghe những câu chuyện ma đáng sợ trong bệnh viện. Đó là có những người mất ở bệnh viện mà linh hồn họ cứ quanh quẩn mãi nơi ấy. Có nhiều phòng bệnh, không chỉ bệnh nhân mà người nhà cũng nhìn thấy những bóng người thấp thoáng khi sáng sớm, lúc ban trưa hay khi trời sẩm tối. Nhiều người giữa đêm thức dậy rồi không dám ngủ tiếp khi kể có những bóng người đến ngồi, thậm chí nằm cạnh khi họ đang ngủ. Đặc biệt ở những khoa phòng ung thư, nơi cái chết diễn ra hàng ngày, hàng tuần thì những sự lạ không còn là chuyện hiếm gặp. Nhiều người không chỉ gặp trong mơ mà còn như nhìn thấy phảng phất bóng người đi ra đi vào phòng bệnh ngay cả khi thức. Không chỉ nhìn và nghe, một vài người còn bị người đã chết nhập vào khi có cùng tần số. Bà bệnh nhân hôm ấy còn kể nhiều chuyện ma kinh sợ và dặn mọi người một chi tiết mà con dâu bà vẫn nhớ. Đó là khi đến chỗ lạ, đi qua chỗ vắng hay khi cảm thấy rờn rợn, không an tâm thì hãy lấy đầu ngón tay cái bấm vào đốt đầu tiên của ngón tay đeo nhẫn. Bà ấy bảo đó là cách khoá để những linh hồn lạ không nhập được vào người. 

    Những câu chuyện ấy cho đến giờ vẫn có người tin người không. Nhưng bà thì luôn thắc mắc. Dường như vẫn có một mối liên hệ nào đó giữa hai thế giới. Thế giới của người sống và thế giới của những người đã mất. Câu chuyện về người bạn đồng nghiệp của con dâu bà có nét trùng hợp với câu chuyện của bà. Đó là bà và cô ấy đều bị những linh hồn đã mất rủ rê đi theo họ. Cả bà và cô ấy đều vượt qua cửa ải đấy. Nhưng có những người đã không vượt qua được. Thậm chí có những người đã bị thế chỗ. Nếu ngày ấy anh Thường không cứu bà thì đã không bị hai chị em con ma nhỏ bắt đi. Nếu cô đồng nghiệp của con dâu bà thuận đi theo chúng thì chồng và con cô ấy có thể đã không chết. Bà thấy ớn lạnh. Thế giới người sống đã có nhiều chuyện phức tạp. Những ân oán mà cha làm con gánh, chồng làm vợ chịu. Nhiều gia đình chỉ vì một thành viên gây thù chuốc oán với người khác mà cả nhà gặp nạn khi cùng bị sát hại. Thế giới người sống phức tạp là vậy. Nhưng xem ra thế giới người chết còn phức tạp hơn gấp bội phần. Không biết bà và cô đồng nghiệp của con dâu bà có liên quan gì đến thế giới ấy khi bị họ rủ rê? Rồi khi bà và cô ấy không đi thì họ lại giận dữ và bắt sang người khác. Trường hợp của bà là anh Thường hàng xóm. Người thanh niên mà bà đã kêu cứu, đã nhờ giúp. Trường hợp của đồng nghiệp con dâu bà là chồng và con trai cô ấy. Không lẽ chỉ vì một lời rủ không đi mà họ sinh oán giận? Không lẽ vì không bắt được người này nên họ bắt sang người khác. Phải có một thứ gì đó kinh khủng hơn thế mới khiến sự việc thành ra như vậy. Nhưng thứ đó là gì? Bà đã từng nghe thế giới người sống tuy phức tạp nhưng dễ hoà giải khi con người biết quay đầu, mở lòng và hối lỗi. Thế giới người âm thì phức tạp hơn nhiều. Bà là người sắp đi đến thế giới ấy. Nếu nó thật sự đáng sợ như vậy thì bà sẽ thế nào? Bà sẽ phải chuẩn bị sẵn tâm thế hay những hành trang gì để không bị nó cuốn lấy và bắt phải làm theo dù lòng mình không muốn, không thuận?  

    Bà đã từng nghe kể nhiều người khi còn sống yêu thương chồng con và tính toán khôn ngoan lắm. Thế nhưng khi chết phải giờ xấu, theo dân gian gọi là bị phạm vào giờ trùng, ngày trùng, tháng trùng hay năm trùng nên bị quỷ sứ tra khảo, đánh đập. Nhiều người không chịu được đau nên đã dắt quỷ, dắt ma về nhà bắt chồng con, bắt người thân. Người nào còn giữ được chút khôn ngoan thì thay vì dẫn quỷ, dẫn ma về bắt người nhà sẽ dẫn chúng ra cầu, ra cống, ra đường, ra chợ để không đụng mặt người nhà. Nhưng cái sự khôn hay dại khi sống nhiều khi lại chả liên quan gì khi người ta chết. Có người khi sống rất khôn ngoan nhưng lại dẫn ma về bắt người nhà. Có lẽ họ bị đánh đau quá nên không chịu nổi hoặc có thêm lý do nào khác. Nhiều nhà khi người thân vừa nằm xuống phải cử ngay một người đến gặp thầy để xem giờ, xem ngày người vừa mất có phạm vào trùng tang hay không? Bà thấy các thầy đều tính bốn yếu tố khi mất là năm tháng ngày giờ đem so với tuổi người mất để tính ra được người đi lành hay dữ. Lành là khi cả bốn yếu tố năm, tháng, ngày, giờ khi mất đều rơi vào các cung thiên di hay nhập mộ. Lúc đấy người ta quan niệm người mất là đúng số, là hết dương thọ. Thiên di là di rời đến nơi khác khi đã hết hạn, hết số, hết duyên. Nhập mộ là thể hiện sự yên ổn về mặt âm phần hay phần mộ của người đã mất. Nó cũng thể hiện sự yên ổn, vững bền của người vừa mất. Trong cách xem ngày mất, cả thiên di lẫn nhập mộ đều thể hiện điềm lành, sự chuyển tiếp là đúng quy luật, đúng phần số của con người. Cái mọi người sợ nhất là người mất phạm phải một hay nhiều trùng tang. Càng có nhiều yếu tố trùng tang ở các cung giờ, ngày, tháng, năm ở người vừa mất thì càng xấu. Tuy nhiên, dân gian lại có phép hoán đổi khi cứ một trùng tang thì sẽ có một nhập mộ hoá giải. Nếu con số xấu tốt cân bằng, hoá giải được cho nhau thì vẫn được xem là tốt. Cá biệt có người được đến ba, thậm chí bốn yếu tố đều nhập mộ. Nhưng có quá nhiều nhập mộ cũng không tốt. Giống như khi đi rút quẻ mà bốc được quẻ thượng cát hay thượng thượng thì các thầy lại bảo nên cẩn thận vì tốt quá hoá lốp. Xem ra, trong vũ trụ này không thể quá tả hay quá hữu. Quá nhiều cái tốt dồn vào một chỗ, dồn vào một nơi cũng không hay lắm. Còn quá nhiều cái xấu dồn tụ lại thì tất nhiên là rất xấu rồi. Với những nhà có nhiều yếu tố trùng tang của người vừa mất, người nhà sẽ phải mời thầy làm lễ. Người trong nhà từ vợ chồng, con trai con gái, con dâu, cháu nội đều phải đeo bùa để tránh bị tà ma bắt đi. Trong khi con dâu, cháu nội phải cẩn thận, phải đeo bùa thì con rể và cháu ngoại lại không bị phạm. Các thầy giải thích con rể và cháu ngoại là sang họ khác nên không bị ma mới trong nhà bắt đi. 

    Khi còn chưa lấy chồng bà vẫn nhớ vụ ông bác ruột ở quê mất phạm phải giờ trùng. Ngoài việc đeo bùa thì người lớn lẫn trẻ nhỏ trong nhà đều được dặn trong vòng 49, 50 ngày sau khi ông bác mất không được đi ra ngoài sau giờ gà lên chuồng. Nếu có việc phải đi thì phải rủ thêm người, nhét tỏi trong túi và đi nhanh về nhanh không rẽ ngang rẽ tắt. Khi ra ngoài hay lúc đêm ngủ nếu có người gọi tên thì không được thưa. Nếu không tuân thủ các điều trên thì rất dễ bị ma quỷ do người thân vừa mất đưa về bắt đi. Nhiều người kể có những nhà, những dòng họ bị trùng tang không biết cách hoá giải nên sau khi một người mất lại có thêm vài ba người mất sau đó không lâu. Dân gian vẫn gọi đó là trùng tang. Nhiều câu chuyện quỷ dị đã được kể về những người mất phạm phải trùng tang. Có người còn quả quyết mơ thấy hay nhìn thấy người mới mất dẫn theo quỷ sứ về nhà. Có người sợ quá hét lên. Người nhà lập tức huy động chổi cùn, chổi rách dựng ngang cửa hay gác đầu giường. Có người còn bảo phải đem nhổ cọc sắt đóng góc chuồng lợn đem cắm ngoài cửa để trừ quỷ. Không biết thực hư thế nào nhưng đời bà đã chứng kiến nhiều người mất phạm phải giờ xấu đều viện đến các bùa phép trấn yểm từ khi khâm niệm đến khi chôn cất. Có người đem lọ cát thầy đưa rải xung quanh người mất khi khâm liệm, bắt đầu từ vai trái đi dọc theo người cho đến vai phải. Người thì sau khi hạ huyệt người nhà sẽ chôn bốn cái lọ bùa ở bốn góc mộ. Nhiều nhà phải chôn thêm lọ bùa ở trước cửa nhà cũng như dán thêm các lá bùa trên cửa nhà, cửa phòng. Người bị trùng nặng thì trong vòng 49, 50 ngày con cháu ruột thịt tuyệt đối không được bén mảng ra ngoài phần mộ. Sau 50 ngày, khi đã rước chân hương lên với ông bà tổ tiên thì người nhà mới được ra mộ sửa sang hay xây cất. Trong vòng 49 ngày nếu có việc thì người ra mộ người trùng tang phải là con rể, cháu ngoại hay họ hàng xa để tránh bị quỷ sứ, ma tà bắt đi. Về cúng giải thì có thầy cúng đơn giản nhưng có thầy cúng rất phức tạp khi yêu cầu gia chủ phải có thêm chó đen hay chó trắng còn sống khi cúng. Những con chó này sẽ được thả sau khi cúng xong như một phép để hoá giải. Nhiều người mất phạm phải trùng nặng ngoài cúng lễ người nhà còn phải đem gửi, đem nhốt vong lên những ngôi chùa có tiếng về giữ hồn để không về làm hại người nhà. Không biết có bao nhiêu phần trăm là sự thực trong những câu chuyện ấy nhưng bà nhớ là đã nghe kể không biết bao lần. Những gia đình có người mới mất bị trùng tang dù tin hay không thì cũng luôn chọn cách cúng lễ, đeo bùa khi những câu chuyện ghê rợn về trùng tang hay nỗi sợ sẽ có thêm người mất khiến họ thà làm thừa còn hơn bỏ sót. 

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG III: HOANG MANG VÀ TỈNH NGỘ

    CHƯƠNG III: HOANG MANG VÀ TỈNH NGỘ

    Khi cả hai bà cháu bước vào căn nhà sáng trưng với những ngọn đèn to nhỏ, quanh bàn ăn mọi người đã chờ sẵn thì có hai cái bóng nhỏ vẫn đứng từ xa nhìn vào. Chúng cũng không dễ dàng vào được ngôi nhà khi gia chủ, ông bà của gia đình đấy nhìn thấy và xua đuổi. Nhưng cũng vài lần chúng lẻn vào được ngôi nhà ấy khi họ không để ý. Chúng đã nhìn thấy mọi thứ. Một căn nhà rộng rãi, bày biện sang trọng với những chùm đèn ấm áp và sự vui vẻ của những người đang sống trong căn nhà đó. Nhà có bà già – chính là cô bé gái năm xưa từng sống cùng ông ngoại và bà Ba trong khu vườn – hai vợ chồng người con trai, cô cháu gái và một cậu con trai nhỏ. Ngoài những người trong gia đình còn có một cô giúp việc khoảng ngoài 40 tuổi, không chồng, không con. Cô ta cũng được đối xử tử tế nên cả ngày cứ hát véo von dù làm việc không ngơi tay. Hai vợ chồng người con trai thì đi suốt, chiều muộn mới có nhà. Cô cháu gái và cậu con trai nhỏ cũng đi học từ sáng tới tận chiều. Ở nhà, chính thức chỉ có bà già và cô giúp việc. Bà già, sáng thì tha thẩn ra chợ. Bà ấy hay dừng ở hàng này, hàng khác ngắm nghía là chủ yếu chứ cũng không mua nhiều. Đôi khi, bà đi cùng cô giúp việc. Những khi ấy thì thịt cá, rau củ, hoa quả sẽ mua nhiều hơn một chút. Chúng nghe lỏm thì là nhà hôm ấy có giỗ hay tụ tập con cháu ăn tươi. Nhiều hôm bà ấy ra chợ nhưng lại chả mua gì. Có vẻ bà ấy thích ngắm không khí của chợ hơn là mua bán. Buổi chiều bà ấy lại hay thơ thẩn ra ngồi chơi bên ngôi chùa cạnh nhà. Cô giúp việc hết lau dọn, lại giặt giũ, cơm nước nhưng cũng khá thoải mái khi được quyền sắp đặt việc nào làm trước, việc nào làm sau. Thỉnh thoảng cô còn có thời gian đi tập thể dục hay buôn chuyện với mấy người trong ngõ. Mà cái ngõ ấy cũng lạ. Mặt người nào người nấy từ già đến trẻ cứ hớn ha hớn hở. Người lớn thì bận đi làm. Trẻ con bận đi học. Người già và giúp việc có nhiều thời gian tán chuyện và chơi. Sao họ lại sống sung sướng như thế? Cảnh sống ấy thật khác với những gì hai chị em chúng từng trải qua khi còn nhỏ. Ngày đó, gia đình của chúng cũng gọi là có chút của ăn của để so với làng xóm nhưng bố mẹ tất bật từ sớm tới khuya chả mấy khi ngó ngàng tới chúng. Ông nội thì suốt ngày đi đánh tổ tôm. Ngoài mấy quân bài ra, có khi ông cũng chẳng nhớ hết mấy đứa cháu trong nhà. Bà nội thì chỉ chăm chăm soi mói người làm, người ở. Bà hay nói không có bà giám sát thì lũ người làm sẽ lười nhác, ăn vụng. Chúng còn bé nên không biết mấy người làm có lười nhác hay không? Nhưng chỉ biết là bà nội rất hay quát nạt, hành hạ họ. Lúc rảnh rỗi, bà cũng chỉ chăm bẵm mấy thằng cháu trai chứ không ngó ngàng gì tới mấy đứa cháu gái. Chúng lớn lên dưới sự thờ ơ của cha mẹ, ông bà. Chứng kiến những người làm bị quát nạt, mắng mỏ, thậm chí bị chửi bới, đánh đập. Rồi còn bị đối xử phân biệt giữa con trai, con gái, cháu trai và cháu gái. Rồi đến khi chúng ốm và mất. Về nhà thì bị xua đuổi vì không được cúng lễ tử tế. Ở lại nhà ông thầy thì cũng giống như người vô hình, chả ai quan tâm. Chúng đã nuôi thù hận bao nhiêu năm. Vậy mà, cả cái ngõ này, cả cái gia đình này đều vui sướng, hớn hở. Sao chúng thấy khó chịu thế không biết. Ngày được giải thoát, đáng lẽ phải đi theo các Đức Phật như lời sư thầy căn dặn nhưng đến phút cuối chúng lại bỏ trốn. Chúng cũng không biết tại sao lại làm thế. Có lẽ sự tò mò đã thôi thúc chúng. Chúng đã muốn biết cô bé ấy – nay là bà già ấy – đã sống ra sao khi đi khỏi khu vườn. Chúng cũng tò mò về cô cháu gái của bà ta. Trông nó thật rạng rỡ, hạnh phúc. Nó rất khác với chị em chúng và cả cô bé ấy ngày trước. Sự tò mò đã khiến chúng đã bám theo hai bà cháu. Chúng đã về đến tận đây. Một nơi có rất ít cây cối, sông hồ. Chỉ có những ngôi nhà, nhà và nhà san sát nhau. Có những toà nhà rất cao, cảm giác như cao chạm đến tận mây, tận trời cao. Lại có nhiều căn nhà cao từ 5 đến 7 tầng sáng choang cả ngày lẫn đêm. Chúng đã bị ngợp khi theo về đến đây. Mấy ngày đầu tiên, chúng vất vưởng nơi mấy cái cột điện và suýt bị phát hiện khi cái cột ấy bỗng bật sáng vào lúc chúng không ngờ nhất. Chúng cũng kịp lẻn vào nhà mấy bận và chứng kiến cái gia đình ấy đầm ấm, hạnh phúc, tràn ngập tiếng cười. Nhưng chúng cũng không thể ở lại trong đó khi gia chủ và ông bà, thậm chí là chồng của bà ấy xua đuổi. May là chúng luôn theo chân bà già và biết đến ngôi chùa này. Chùa cũng khá gần với ngôi nhà. Bà ấy thường ra chùa vào buổi chiều và ngồi ở đó cả buổi. Khi thì giúp nhà chùa mấy việc lặt vặt. Lúc lại chỉ ngồi chơi, tán chuyện hay im lặng nhìn vào một nơi nào đó trong tâm trí. Có lẽ bà ấy nhớ tới chồng, người đã mất cách đây hơn một năm. Ông ấy tuy không cao lắm nhưng dáng người to đậm và rất đẹp trai. Chính ông ấy đã mấy lần xua đuổi chúng. Ông có vẻ vẫn quyến luyến với ngôi nhà, với vợ và các con cháu. Chính ông đã bảo với chúng: 

    – Đi đi, đi mà giải thoát rồi đầu thai lại làm người. Các ngươi chưa được hưởng những lạc thú và niềm vui của kiếp người quả là đáng phí. Hãy cứ đi, cứ tu và trở lại. Đừng có tơ tưởng làm hại vợ con ta, đặc biệt là con bé cháu. 

    Vì ngỡ ngàng, vì bối rối chúng đã vơ vẩn ở đây khá lâu. Chúng thấy lạ với cuộc sống của mọi người trong cái ngõ này. Chúng cũng thích ngôi chùa mà bà ấy hay ra. Ngôi chùa ấy thật đẹp, rộng rãi và thoáng mát. Chùa cũng có nhiều cây to giúp chúng có thể trú ngụ. Là chùa, là đất của các thần phật cai quản nhưng thực tế cũng chả của riêng ai. Ngoài chị em chúng còn có khá nhiều linh hồn cùng trú ngụ trên những cành cây, khóm hoa, hòn non bộ hay những bức hoa văn trên tường, trên cánh cổng chùa. Có những kẻ mới đến như chị em chúng. Nhưng lại có người ở đây đã khá lâu như mấy cụ già. Có người ngày ngày nương theo tiếng kinh kệ, trì tụng mà mặt mũi, thân thể, lời nói nom thật thư thái, thoải mái. Có vẻ như họ chả chú ý gì đến mọi người, mọi việc ngoài việc thả mình trong tiếng kinh, tiếng kệ được nhà chùa bật suốt từ sáng tới tối. Lại có kẻ chỉ nhìn hau háu vào những lễ vật mọi người mang tới dâng cúng. Ở đây, đói thì không đói vì lúc nào cũng có sẵn hoa quả, bánh trái. Tuy nhiên, rượu thịt lại khá ít trừ hôm nào có đám lễ to to. Có người thực sự đã coi chùa là nhà khi tối ngày vào ra ở đó. Nhưng nhiều kẻ lại nhấp nhổm, toan tính khi vào ra nhòm ngó những thực khách đến chùa. Nhiều kẻ táo tợn còn lén đi theo vài người mà chúng nghĩ là giầu có hay có nhiều ám muội. Ám muội ở đây là lòng tham. Họ đến chùa nhưng tâm thì không tịnh, lòng thì không yên và đôi mắt thì chứa đầy dục vọng. Họ đến chùa và cầu xin đủ thứ. Đôi khi còn khấn oang oang át hết cả tiếng của người khác. Đám âm hồn còn hay la cà tại những hàng quán ngay bên cạnh chùa. Khi thì nương vào mấy cành hoa, lúc buồng cau, trái quả. Khi có đám nào đến xin viết sớ, nhờ mấy ông thầy lễ hộ là chúng xúm vào nghe ngóng, hóng hớt. Có người xin thầy viết cho cái sớ cầu tài, cầu lộc. Người cầu con thi đỗ, mẹ hết bệnh. Người lại cầu lên chức, lên quyền. Cá biệt, có người cứ thì thầm xin thánh xin thần vật chết hay làm cái đứa phá nát gia cang nhà họ phải bệnh tật, phải trả giá. Chúng nghe lén mấy âm hồn bặm trợn kháo nhau phải bám vào mấy đứa đến xin hại người mà quấy quả. Hội đấy thứ nhất là tâm bất chính khi đi xin thần, xin thánh để hại người. Thứ hai là u mê khi chả có thần phật nào giúp họ làm những việc ác. Thứ ba là ngu nên dễ lừa, dễ tin quàng xiên. Cứ hành cho chúng ốm, chúng đau để chúng phải đi lại lễ lạt, cúng bái. Nhiều kẻ còn kháo nhau cứ bám theo mấy ông thầy hay viết sớ, lễ hộ để kiếm chác. Nhiều ông thầy sau buổi viết sớ, cúng hộ gia chủ thường la cà ra quán làm vài món tươi tươi với vại bia, điếu thuốc. Hứng lên còn ăn nhậu, bài bạc, gái gú, ca hát. Cứ bám theo đám ấy là hưởng đủ mọi lạc thú chứ cứ ru rú mãi trong chùa thì chỉ có chết thèm, chết nhạt. Chị em chúng chưa lần nào đi theo nhưng cứ chứng kiến các ông bà thầy cãi chửi nhau vì tranh khách thì biết họ cũng vì lợi lộc chứ chả tin có thánh thần gì. Nhiều ông bà chả cần biết đang đứng trong hay ngoài chùa cứ cãi chửi nhau oang oang khi bị tranh khách hay bị giành mất mối ngon. Không chỉ đám đàn ông, các bà buôn bán quanh cái chùa này cũng chua ngoa không kém. Chỉ vì vài đám khách mua ở hàng này mà không mua ở hàng kia cũng có thể khiến mấy bà, mấy cô nhẹ thì lườm nguýt, nặng thì tốc váy, tốc áo chửi nhau. Nếu so với dân cư trong ngõ vui vẻ, hạnh phúc thì đám người kiếm ăn quanh ngôi chùa này phức tạp và ô hợp hơn nhiều. 

    Ở đây một thời gian, chúng đã chứng kiến nhiều chuyện. Nhà chùa thường xuyên bật các bài kinh kệ qua cái đài be bé nghe cũng thấy thư thái dù có hơi não nề. Vui nhất là ngày rằm hay mồng một. Cả chùa hôm ấy đông vui lắm. Ngay từ sáng sớm đến khi tối mịt các hàng quán quanh chùa đều nhộn nhịp mua mua, bán bán. Nghe nói ngôi chùa này rất thiêng, lại là chùa cầu duyên, cầu công danh nên nam thanh nữ tú đến chùa rất đông. Có nhóm thì đi đông 5 đến 7 người. Nhiều nhất là đi đôi. Lại có những cô cậu chỉ đi một mình và lầm rầm cầu khấn đến lâu. Nhiều lần, vì tò mò, chị em chúng đã sấn đến, cố nép sát vào để nghe xem họ cầu khấn, xin xỏ thần Phật những gì. Đa phần là xin cho con có người yêu, có chồng, có vợ đẹp trai, xinh gái, làm ra tiền và quan trọng là yêu con, yêu chỉ mình con. Eo ơi, đồ dâng cúng thì chỉ có tý tiền vàng mã, ít hoa quả, bánh trái mà xin thì rõ lắm. Có người vừa xin có người yêu xịn lại còn xin học giỏi, xin được điểm cao. Vài lần nghe lén chúng thấy nhiều người đúng là tham. Cái gì cũng muốn, cái gì cũng xin. Để đáp ứng hết từng ấy lời cầu xin thì chắc phải có đến nghìn ông Phật, nghìn bà Thánh mới làm hết được. Ơ mà, có người còn cầu xin rõ cả tên người, địa chỉ và xin chư Phật, chư Thánh run rủi cho người ấy yêu mình. Ơ thế nhỡ cái người có đúng tên và địa chỉ như thế cũng đến chùa và cầu xin Phật, xin Thánh cho yêu một người mà người đó không trùng với người đã cầu xin được họ yêu thì thế nào nhỉ? Xem ra cũng khó phết! Phật, Thánh chắc cũng rối não khi cô A thì xin cho anh B yêu mình. Nhưng anh B lại xin được yêu cô C. Ôi, cái thế giới yêu đương này phức tạp quá. Chúng nghe vài lần rồi chán vì biết chả Phật, Thánh nào có thể giúp nổi cái đống não yêu này. 

    Quanh quẩn mãi ở đó một thời gian rồi bỗng một ngày chị em chúng bừng tỉnh. Chúng về đây vì tò mò, vì muốn biết cô bé năm xưa nhất quyết không đi theo chúng đã sống ra sao suốt mấy chục năm. Còn cả vì con bé cháu trông đầy rạng rỡ của bà ta nữa. Nhưng về đến đây rồi, nhà bà ta thì không phải lúc nào chúng cũng vào được. May còn có ngôi chùa để chúng nương náu. Nhưng những ngày tới chúng sẽ phải làm gì? Không lẽ cả đời chúng sống tạm ở ngôi chùa, hưởng tý hương hoa, trái quả bánh kẹo và nghe mãi thiên hạ cầu xin đủ kiểu, đủ thứ khi đến chùa. Đặc biệt là cái đám be bé, tre trẻ chỉ rặt cầu xin chuyện yêu đương. Chúng phải làm gì đó. Nhưng cụ thể là làm gì? Hồi còn ở khu vườn, tuy không được ông thầy dung nạp nhưng chúng cứ bám theo đám âm binh. Có buổi chúng bám theo họ ra đồng tát nước, be bờ. Có bữa chị em chúng đi theo họ đến nhà người lạ tìm hiểu xem gia chủ nhà ấy đau ốm lâu ngày là do bệnh dương hay bệnh âm để về báo ông thầy lo chữa trị, trấn yểm. Sau ngày ông thầy mất cả đám như rắn mất đầu, đi không nổi, ở cũng không xong. Chúng rặt rẹo ở đó mấy chục năm thi thoảng lại nổi lên các trận cãi vã, đánh nhau khi cùng quẫn, bất lực. Rồi những lúc rảnh rỗi hay khi buồn bã chúng lại kể cho nhau nghe khi còn sống như thế nào? Rồi vì sao mà chết? Kể chán, chúng lại ước một ngày nào đó khi bùa phép hết hiệu lực chúng sẽ thoát ra ngoài. Khi đó, chúng sẽ làm gì nhỉ? À, việc đầu tiên là chúng sẽ về nhà. Chúng sẽ hành hạ, làm ốm, làm bệnh những kẻ đã ghét bỏ, hãm hại chúng khi sống và thờ ơ, bỏ mặc chúng khi chết. Cả lũ say sưa với những kế hoạch trả thù. Trả thù người thân, người quen, thậm chí cả những người xa lạ nếu chúng thấy ghét, thấy ngứa mắt. Rồi chúng mơ. Mơ được đi đây đi đó, mơ thăm thú nơi này nơi khác. Trong số chúng chỉ có gã lái trâu là được đi nhiều nơi khi còn sống. Gã kể có nhiều nơi đẹp lắm khi có núi, có sông, có đồng ruộng phì nhiêu bát ngát. Lại có nơi là phố thị đông người buôn bán sầm uất. Ở đó có những cái chợ lớn nơi người ta vào ra tấp nập, buôn bán, ăn uống, tụ tập… Cả bọn cứ ước một lần được đến đó. Được hoà vào cái không khí náo nhiệt, bán bán, mua mua, ăn ăn, uống uống đầy sôi động ấy. Gã ấy còn bảo muốn được sướng, muốn trả thù đời thì thi thoảng phải vặt cổ, làm ốm, làm chết vài đứa thì mới có rượu, có thịt, có lễ lạt mà đánh chén, thưởng thức. Gã còn bảo đã từng khuyên ông thầy nhiều lần phải làm chết vài đứa nhưng ông ấy không nghe. Ông ta cứ nửa tà nửa chính, vừa nuôi giấu âm binh vừa không muốn làm điều ác, hại người, di luỵ đến con cháu. Vì ông ta cứ chính tà lẫn lộn như thế nên bọn chúng mới khổ, mới bị mắc kẹt mãi tại khu vườn. Giờ thì không biết những kẻ ấy thế nào? Đàn lễ hôm ấy đã giải thoát cho một số người trong đó có chị em chúng, vợ chồng thuyền chài, chàng trai trẻ bị đánh chết vì ăn cắp gà khi mẹ ốm. Còn ai nữa nhỉ? Chúng cũng không nhớ. Vẫn còn rất nhiều kẻ bị kẹt lại nơi khu vườn cùng với ông thầy. Ông ấy đã quyết tâm ở lại để ghìm chân bọn chúng. Ông buộc chúng phải ở lại nơi đó, không thể thoát ra ngoài để làm hại người khác. Ông thầy còn nói làm thế là để chuộc lỗi. Là lỗi gì nhỉ? Ông ấy cũng đã cứu giúp nhiều người. Ông ấy đã đưa gã lái trâu từ nơi đầm lầy hôi thối về với khu vườn. Ông ấy đã cho vợ chồng thuyền chài và gã trai trẻ một nơi nương náu. Ngay cả chị em chúng cũng vậy. Về nhà thì bị đuổi. Lang thang thì đói rét. Chúng cũng đã về trú ngụ ở tại vườn nhà ông thầy đấy thôi. Ông ấy là người ngoài, không máu mủ, ruột rà nhưng cũng không xua đuổi chúng. Với ông ấy chúng vừa có ơn vừa có oán. Ơn vì đã không đuổi chúng. Oán vì đã giam cầm chúng bao lâu cùng lũ âm binh của ông. Giờ thì chúng ở đây. Không người giam cầm, không người chỉ dẫn. Chúng cũng muốn về lại quê cũ, thăm lại ngôi nhà cùng những người thân. Nhưng chúng không biết lối. Mọi thứ đã khác quá. Khác từ phong cảnh, nhà cửa, đường xá. Chúng đã đi theo xe chở hai bà cháu về đến tận đây. Chúng đã đi quá xa và không biết lối để quay về.

    Cũng có ngày chị em chúng cứ vẩn vơ ra ra vào vào rồi lại tự hỏi nhau làm gì, làm gì nhỉ? Không lẽ chị em chúng sẽ làm theo lời gã lái trâu hay mấy kẻ bặm trợn đang nương náu ở đây. Đó là làm ốm, làm chết vài người để có rượu, có thịt, có đàn, có lễ. Nhưng chúng đâu có thèm rượu dù vẫn thèm xôi, thèm thịt. Vả lại, nếu làm thế thì chị em chúng có bị trả giá, bị đầy sâu xuống bảy tầng địa ngục hay bị các thầy cao tay trừ khử hay không? Ngày còn ở khu vườn nhà ông thầy nhiều khi cả bọn cũng tranh cãi dữ dội. Khi gã lái trâu say sưa với các kế hoạch hại người thì có kẻ đã bảo gã:

    – Đừng có tưởng thích làm gì thì làm, thích hại ai thì hại. Vẫn có các pháp sư, các thầy cao tay chuyên trừ ma, trị quỷ đấy. Nhiều thầy cao tay đã phong ấn những con quỷ hại người suốt nhiều năm khiến chúng không thể trốn ra khỏi nơi bị giam hãm. Có thầy thì hô gọi quỷ sứ lôi đi. 

    Nghe nói khi bị như vậy thì sẽ rất đau đớn, khổ sở. Ngay tại ngôi chùa chúng đang nương náu cũng có một bức tường với các bức tranh nói về những nỗi khổ, những sự đoạ đầy đối với người mắc lỗi sau khi chết. Người hay nói dối, vu vạ thì bị cắt lưỡi. Người hay ăn cắp thì bị chặt tay. Có người còn bị cho vào vạc dầu sôi đun lên. Những hình phạt ấy chỉ nhìn vào thôi cũng đã thấy sợ. Còn có những bức tranh lại kể về những người hành thiện, tích đức hay tu tập thành phật, thành tiên. Những người đó sau khi chết đều được hưởng phúc, được vãng sinh vào cõi cực lạc. Có quá nhiều sự việc, những ngả đường tốt xấu khiến chị em chúng hoang mang không biết sẽ phải đi theo hướng nào. 

    Lần đầu tiên gặp lại cô bé nay đã thành một bà lão 90 chúng thấy cảm xúc thật lẫn lộn. Một chút ghen tỵ, một chút tò mò. Đặc biệt khi biết cô bé ấy đã lấy chồng, sinh con và còn có cả một đàn cháu nội, cháu ngoại. Con bé cháu lại vô cùng rạng rỡ. Cả người nó như toả ra nguồn năng lượng vui vẻ, hạnh phúc – thứ mà chị em chúng chưa bao giờ có. Từ tò mò, không cam lòng đến căm hận, muốn phá hoại cứ từng nấc tăng dần. Vì muốn biết cuộc đời của cô bé năm xưa không đi theo chúng ra sao, cũng như không cam lòng khi thấy con bé cháu bà ấy hạnh phúc, rạng rỡ mà chị em chúng đã bám theo về đến tận đây. Những ngày quanh quẩn trong các góc tối, nóc nhà, cột điện chúng đã chứng kiến cuộc sống của gia đình bà ấy và cả con ngõ. Không chỉ gia đình bà ấy vui vẻ, hạnh phúc mà các gia đình khác trong ngõ cũng như được tắm trong bầu không khí của sự hoà thuận, viên mãn. Đám bạn con bé cháu, cả trai lẫn gái đứa nào đứa nấy đều rạng rỡ, xinh xắn. Ngay cả cái đám hay đến chùa cầu xin thì những thứ họ cầu mong cũng không phải cơm ăn, áo mặc. Họ mong cầu tiền bạc, chức tước, giầu sang hay thứ tình cảm trai gái yêu đương mà chúng nghe mãi vẫn không hiểu. Những nỗi đau bị bỏ mặc, bỏ đói, sự thiếu quan tâm của ông bà, cha mẹ mà chị em chúng phải chịu khi còn sống cũng như khi đã chết dường như chỉ là chuyện của riêng chúng và thuộc về một giai đoạn đã xa. Những người chúng gặp gần đây từ già đến trẻ, đặc biệt là bọn trẻ con dường như không ai phải chịu cái kiếp nạn như chị em chúng và cả bà già kia phải chịu khi còn nhỏ. Mấy chục năm bị giam hãm trong khu vườn, chị em chúng và cả đám âm binh, âm hồn vất vưởng dường như đã bị bỏ lại, bị lãng quên. Cuộc sống bây giờ đã quá khác. Ngày mới gặp lại bà ấy, chúng chỉ hận bà ta đã có một cuộc đời hạnh phúc khác với chị em chúng bị giam hãm, cầm tù bởi bùa phép. Chúng cũng tưởng chỉ có mình con bé cháu bà ấy là vui vẻ, rạng rỡ. Hoá ra, đã có rất, rất nhiều người giống như bà cháu nhà ấy. Họ không phải vật vã trong cái đói, cái nghèo, cái khổ. Họ không bị thiêu đốt trong sự so sánh, dằn vặt, hận thù ngay cả với người nhà như ông bà, cha mẹ, anh chị em giống như chúng. Từ chỗ ghen tỵ và muốn làm hại hai bà cháu, dần dà chúng nhận ra những kẻ như hai bà cháu họ có quá nhiều. Không lẽ chị em chúng phải căm hận, phải làm hại tất cả bọn họ. Nhưng kể cả là có muốn thế thì với sức lực của hai chị em, bọn chúng cũng không thể nào làm nổi. Cái sự ngộ ra ấy khiến cho chúng lúng túng, bực bội. Cái mục tiêu ban đầu đã ngày càng xa vời khi chúng biết chúng không có những lý do chính đáng để làm hại hai bà cháu họ. Vậy thì lỗi do ai? Vì sao cuộc đời chúng lại bi thảm như thế? Phải có ai đó để trút giận. Phải có ai đó chịu trách nhiệm về sự khốn khổ của chị em chúng suốt những năm qua chứ?  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG II: ĐỪNG LÀM HẠI NÓ!

    CHƯƠNG II: ĐỪNG LÀM HẠI NÓ

    Bà đã ngồi ở sân chùa khá lâu cho đến khi cô cháu gái ra tìm và đưa bà về. Tiếng con bé líu ríu:  

    – Bố con đi làm về liền hỏi bà đâu rồi? Con đoán bà lại ra chùa hóng mát nên ra tìm. Thế mà đúng thật. Bà ơi, sao bà lại thích ngồi ở chùa thế ạ?

    – Ngồi ở đó bà thấy lòng mình bình an con ạ? Bà nhẹ nhàng.

    – Nhưng bà ngồi lâu sẽ mỏi lưng đấy – Cô cháu gái lo lắng. Bà có thể nằm ở nhà và mở kinh Phật lên nghe cũng hay mà.

    – Ừ, nhưng bà thích cảnh chùa con ạ. Ở đó có cảm giác thanh thản, nhẹ nhàng mà ở nhà không có. 

    – À bà ơi, bà có còn gặp lại các con ma sau hôm ở đàn lễ nữa không bà? Tiếng cô cháu gái líu ríu.

    Bà lặng im. Thời gian đầu đúng là bà có cảm giác thanh thản, nhẹ nhàng như đã làm xong một ước nguyện lớn. Nhưng gần đây, bà bỗng có cảm giác chợn rợn, lành lạnh khi bất chợt đi vào một ngõ vắng. Cảm giác đó đôi khi còn xuất hiện ngay khi bà ở nhà. Ban đầu, bà không chú ý lắm. Hoặc có đôi khi nghĩ đến thì chỉ nghĩ là ông hay các cụ về thăm nhà, thăm con cháu. Bà là người nhạy cảm nên rất nhạy khi đến môi trường lạ hay khi cảm nhận nguồn năng lượng âm. Nhưng tần suất ngày một nhiều nhất là khi cô cháu gái đột nhiên hỏi thế khiến bà không yên tâm. 

    Bà nhìn cô cháu gái rồi dò hỏi:

    – Từ hôm đó tới giờ, con có thấy điều gì lạ không?

    Cô cháu gái ngẩn người ra một lúc rồi thì thầm, giọng nó rất khẽ: 

    – Con cũng không rõ bà ạ. Chỉ là khi ngủ thỉnh thoảng con có những giấc mơ rất lạ. Con cứ thấy mình bị săn đuổi mà không rõ là bị ai hay cái gì săn đuổi. Con chỉ biết là con sợ và chạy rất nhanh. Đôi lúc con thấy mình bay lên để thoát thân. Có lúc mải chạy con thấy mình như sắp rơi xuống vực. Con đã nhiều lần tỉnh dậy giữa đêm khi thấy mình sắp rơi xuống. Sau đó mồ hôi con vã ra. Thường con sẽ phải thức mất một lúc lâu sau mới lại ngủ tiếp được. Con đã kể với bố và bố bảo chắc con áp lực vì đang ôn thi. Có hôm con ngồi học rất khuya và cứ có cảm giác như ai đó đang nhìn mình nhưng khi nhìn lại thì chẳng thấy ai. Mọi người trong nhà đều ngủ rất say. Con còn nghe cả tiếng ngáy to của bố ở phòng bên cạnh, tiếng thằng Chôm nói mơ khi ngủ say.

    – Con có thấy cảm giác lạnh sau gáy hay tự nhiên nổi hết gai ốc lên không? Bà lo lắng.

    Con bé chau mày:

    – Con cũng không biết ạ. Đôi khi con cũng thấy lạnh, thấy mẩn các nốt ở tay lên. Con nghĩ là do con bị lạnh thôi ạ. 

    Bà yên lặng không nói gì. Vậy là cảm giác của bà không sai. Gần đây bà cứ thấy có gì đó không ổn. Lúc rợn rợn sống lưng, lúc lành lạnh sau gáy, khi lại có cảm giác như có ai đó đang nhìn. Dường như có những luồng âm khí đang lảng vảng đâu đó quanh bà, quanh gia đình bà. Nhưng nguồn âm khí đó đến từ đâu nhỉ? Từ ông bà, cha mẹ, họ hàng hay còn có những thế lực khác? Nếu là nguồn âm khí đến từ gia đình, dòng họ thì bà đã không thấy bất an như thế này. Những người thân đã mất dù có về thăm cũng hiếm khi khiến con cháu cảm thấy lo lắng. Nếu có gì không vừa ý thì cũng hay báo mộng hay nhắm vào một, hai đối tượng cụ thể. Nhưng lần này khác lắm. Cảm giác đó vừa lạ lại vừa quen. Lạ là bà không cảm thấy tâm an. Quen là hình như bà đã từng gặp cảm giác này ở đâu đó. Nhưng ở đâu mới được chứ? Bà chợt khựng lại. Đúng rồi, cảm giác này quen lắm. Đó là cảm giác mà bà luôn có khi sống trong khu vườn ngày xưa cùng với ông ngoại và bà Ba. Cái cảm giác dù có ở một mình vẫn không phải chỉ có một mình. Cái cảm giác như luôn có những người khác, những thế lực khác đang cùng mình song hành. Hay cái cảm giác luôn bị nhìn ngó từ trước mặt, từ sau lưng, từ những người không quen biết. Cái cảm giác lẫn lộn không biết đâu là thực đâu là mơ khi ranh giới giữa người sống và người đã mất bị đặt quá gần, quá xen kẽ. Nhưng tại sao sau gần 80 năm bà mới lại có cảm giác ấy. Đặc biệt là nó càng mạnh lên sau lễ giải thoát của đàn lễ đêm ấy. Có lẽ nào, đã có thêm những kẻ thoát khỏi sự phong ấn của ông ngoại, của khu vườn và đang tìm đến bà. Hay luồng âm khí đó đến từ những âm hồn đã được giải thoát. Không có lẽ nào! Họ đã mong mỏi. Họ đã khao khát cơ hội ấy từ lâu lắm mà. Không có lý gì họ quay lại trừ khi. Bà chợt lạnh sống lưng. Trong số những linh hồn được giải thoát hôm ấy có hai chị em con ma nhỏ. Lẽ nào vì là trẻ con nên chị em chúng không biết quý trọng cơ hội giải thoát. Lẽ nào vì là trẻ con nên chúng còn vương vấn cõi này. Nếu đúng là thế thì thật không hay. Trẻ con vốn đã không dễ chiều. Lại là ma trẻ con thì càng không biết chúng muốn gì và tác oai tác quái đến đâu. Mà hình như ông ngoại đã từng nói lòng thù hận đã biến chúng thành quỷ. Nếu đúng như vậy thì thật đáng sợ. Nhưng tại sao chúng lại tìm đến bà và gia đình bà? Bà đâu có gây thù chuốc oán gì với chúng? Có lẽ nào là do nguồn năng lượng rạng rỡ, hạnh phúc từ cô cháu gái đã tác động đến chúng. Nghĩ đến đó bà chợt rùng mình. Bà nhớ lại cảnh con ma chị từng rít lên: 

    – Ta không cam lòng. Tại sao cùng là trẻ con mà nó được mọi người yêu thương, được mọi người bảo bọc. Còn chúng ta, chúng ta cũng là trẻ con nhưng không được ai yêu thương, không được ai đoái hoài đến. 

    Có lẽ nào sự đố kỵ, ganh ghét đã khiến chúng tìm đến con bé. Bà nhìn chăm chăm vào con bé cháu. 

    Nó nhoẻn cười:

    – Trên mặt con có dính gì hả bà?

    – Bà bảo này nhưng con phải nói thật nhé – Bà nhẹ giọng. Con có nhớ đêm ở đàn lễ không? Con có sợ không?

    – Lúc đầu con sợ lắm nhưng sau con lại thấy thương. Thương nhất là hai chị em ma bé. Sao họ khổ thế hả bà? Con thấy thương họ lắm – Con bé hồn nhiên.

    – Các ngươi nghe rõ chưa? Bà lẩm bẩm. Con bé lương thiện là thế. Bị các ngươi làm cho hoảng sợ nhưng vẫn thương các ngươi. Đừng có làm hại nó!

    – Bà ơi, bà đang nói chuyện với ai đấy ạ? Con bé ngạc nhiên.

    – À, bà chợt nhớ đến hai chị em con ma nhỏ. Bà dặn chúng không được làm hại người khác – Bà chống chế.

    – Họ đang ở đâu hả bà? Họ có nghe thấy những gì bà nói không ạ? Cô cháu gái tò mò.

    Bà vội đánh trống lảng:

    – Bà cũng không biết. Bà cứ nói bâng quơ vậy thôi. Biết đâu họ nghe được. Thôi mình về nhà nhanh không mọi người lại mong.

    Hai bà cháu líu ríu đi về nhà. Những lời bâng quơ của bà mong ai đó nghe được đã được hai âm hồn đi theo nghe không sót một chữ nào. 

  • PHẦN MỘT : ÂM BINH CHƯƠNG V: PHONG ẤN

    CHƯƠNG V: PHONG ẤN

    Nhìn bên ngoài khu vườn không có nhiều khác lạ. Nhưng nếu ai có năng lực tâm linh hay giác quan nhạy bén một chút sẽ nhận ra vài điểm. Ví như dù bị bỏ hoang đã lâu nhưng cỏ cây trong khu vườn luôn xanh hơn những vườn cây bên cạnh. Khi sáng sớm, lúc sẩm tối, quãng giữa trưa nếu ai có việc đi ngang đều có cảm giác lành lạnh sau gáy hay mơ hồ như nghe tiếng lúc thì thầm, khi to nhỏ đâu đó. Có người còn quả quyết có những bóng người, thậm chí nhiều người xuất hiện trong khu vườn trong những quãng thời gian khác nhau. Đặc biệt những hôm trời trăng thanh, những bóng người đi lại trong đó càng nhiều. Hàng xóm đồn rằng khu vườn có ma. Rằng có cả một đội quân âm binh vẫn còn ở đó khi ông thầy bị chết bất đắc kỳ tử. Chính vì cái chết đột ngột ấy khiến đám âm binh chưa kịp rải ráp. Chúng cần một người thầy cao tay có thể thu nạp và sử dụng. Cũng có thể một vị cao nhân nào đó có thể giúp chúng được siêu thoát. Ông thầy ra đi đột ngột mà nghe đồn có liên quan đến sự trả thù của một vài âm binh. Bà vợ thì không đủ năng lực nên sau nhiều năm bị chúng hành lên hành xuống cũng đã ra đi. Đám con ông thầy không một ai theo nghề của cha. Những hiện tượng kỳ lạ, những ám ảnh và cả sự đồn thổi của làng xóm cũng khiến mấy người con không dám ở lại đó. Khu vườn bị bỏ hoang đã khá lâu. Không có người chăm nom, không có ai sai khiến nhưng bùa phép của ông thầy vẫn còn đó khiến chúng không thể rời bỏ khu vườn. Mấy chục năm qua đi, từ chỗ hả hê khi khiến người điều khiển chúng mất mạng giờ chúng lại càng khốn khổ hơn khi không có người cúng tế, nuôi ăn hay sai bảo các việc. Đám âm binh đó vẫn dồn tụ trong vườn đi không nổi mà ở cũng chẳng ra sao. Trong những ngày đó, chúng chỉ ôn lại chuyện cũ. Chúng nhớ về quãng thời gian mới được ông thu nạp về đây. Từ những hồn ma vất vưởng được ông chiêu dụ, cho ăn rồi sai đi làm các công việc khác nhau. Đội quân cũng ngày một đông hơn khi có thêm các linh hồn mới là những kẻ bệnh tật bỏ mạng khi không qua khỏi. Có một điều chúng không hiểu. Là kẻ điều khiển âm binh nhưng tại sao ông thầy lại ra sức cứu người khi họ ốm đau, bệnh tật. Một lúc kiêm ba bốn việc nên ông vắng nhà triền miên. Bà vợ trẻ khát chồng đâm ra cáu kỉnh. Và con bé gái ấy là đứa bị hành hạ đến khổ sở khi nó sống ở đây. Chỉ những ngày ông có ở nhà nó mới được bà Ba cho ăn cơm cùng. Khi ông đi vắng bà Ba kiếm đủ cớ để đánh đập, hành hạ và hắt hủi nó. Mới bé tý mà không ít lần nó bị bà Ba đuổi không cho ăn cùng. Con bé đói quá đành lần mò sang các nhà bên cạnh. Nhưng ai cũng nghèo làm sao có thể cưu mang thêm nó. Chưa kể họ còn nể và sợ ông thầy. Sợ luôn cả bà vợ trẻ vừa tai quái vừa ghê gớm của ông. Nhưng cũng không thể bỏ mặc con bé mà không cứu giúp. Vậy là họ cho nó đi làm cùng. Bữa thì đi mót lạc, khi mót khoai hay đám thóc trên đồng chưa gặt hết. Khi mùa vụ qua, họ lại dẫn nó đi theo để hái chè. Được cái con bé cũng chịu khó nên dù có đói cũng hiếm khi nào đứt bữa hẳn. Những hôm chè hái được nhiều, O Thắm còn xúi nó cất bớt tiền dành khi mưa gió hay không có việc để kiếm tiền. O Thắm còn cẩn thận giữ hộ nó một ít phòng khi không có người thuê hay đồng ruộng hết thứ có thể đi bòn, đi mót. Con bé cũng tiết kiệm. Kể cả hôm kiếm được dư dư cũng không dám ăn hơn. Chỉ tội những hôm bà Ba bắt nó đi chăn trâu. Đã không cho ăn còn bắt con bé làm việc khiến nó không ít lần phải hái quả dại, rau dại để ăn cho đỡ đói. May là vườn nhà ông thầy rộng, cỏ mọc nhiều nên trâu nhà cũng ít phải đi chăn. Chỉ những khi trời rét lâu hay khi nắng rát cỏ không mọc nổi thì mới phải dắt trâu đi kiếm cỏ ở bên ngoài. Ông thầy dường như cũng biết vợ mình đối xử với đứa cháu bà Hai không ra gì nhưng lại không dám nói. Ông thì già, vợ lại trẻ. Công việc lại khiến ông hay phải vắng nhà nên mọi việc ông cứ phải giả ngơ để mặc bà Ba muốn làm gì thì làm. Ngay cả khi bà Ba đem bán con bé ông cũng không dám trách mắng nhiều. Ông chỉ lẳng lặng đi tìm rồi âm thầm chuộc nó về. Người tưởng như chả sợ ai, kể cả ma quỷ như ông thầy lại rất sợ bà Ba. Có lẽ vì bà ấy trẻ, vẫn còn đẹp nên ông muốn giữ. Sự bất công ấy đám âm binh và những linh hồn vất vưởng trong ngôi nhà, trong khu vườn đã chứng kiến hết. Chúng không dám can thiệp vào việc nhà của ông thầy. Chúng chỉ biết xót thương con bé còn nhỏ mà bị bao khổ nạn. Chỉ có hai chị em con ma nhỏ là luôn thấy bất bình. Vì chúng mất khi còn nhỏ nên không được ông thầy thu nạp. Ông cũng không nỡ đuổi khi cha mẹ chúng tiếc tiền không làm lễ cho hai chị em siêu thoát. Chị em chúng đành vất vưởng ở lại khu vườn. Không người cúng lễ chúng thành những ma đói ma khát đôi khi được đám âm binh thương tình vứt cho một ít. Thời buổi khốn khó, ông thầy cũng ít việc nên đám âm binh cũng không dư dả gì. Đồ khao quân cũng ngày một ít khiến chúng ăn còn không đủ nên cũng chả giúp hai chị em con ma nhỏ được nhiều. Sống trong cảnh đói khát nhưng hai chị em con ma nhỏ lại không bị đánh đập, bắt nạt. Những con ma lớn thương lũ ma bé đói khát nên cũng mặc kệ chúng muốn làm gì thì làm. Hai chị em con ma nhỏ lại thấy thương con bé cháu gái ông thầy khi luôn bị bà Ba đánh đập, bỏ đói. Chúng nghĩ khi còn sống chúng cũng không được bố mẹ yêu thương. Khi chết đi cũng chỉ được chôn cất qua loa cho có lệ. Không làm lễ nên đến nhà chúng cũng chẳng về được. Không chốn dung thân nên chúng mới lẩn khuất rồi ở lại nơi này. Nơi linh hồn chúng từ giã cõi đời trên chiếc phản của nhà ông thầy.Và chúng đã chứng kiến con bé bị hành hạ. Chúng muốn rủ con bé đi cùng. Ít ra đi theo chúng dù có bị đói nhưng cũng không bị đánh đập, hành hạ. Nhưng con bé đó cao vía. Dù chúng có ngọt nhạt, dỗ dành ra sao vẫn nhất quyết không đi. Nó vẫn mong một ngày được về lại với bố mẹ, với anh em ở một ngôi làng nào đó xa lắc tận ngoài Bắc. Nó còn gọi cả người đến hỗ trợ. Đó là một thanh niên nhà bên cạnh. Anh ta đã chạy đến mang con bé đi khi nó kêu cứu. Hai con ma nhỏ giận lắm. Chúng không rủ được con bé đi cùng nên quay ra căm hận người thanh niên đã cứu giúp con bé. Chúng hành anh ta ốm lên ốm xuống suốt mấy tháng mà không tìm ra bệnh. Rồi cuối cùng người thanh niên ấy cũng mất. Nhưng anh ta mất lại là xui cho chúng. Cả vùng ai cũng biết ông thầy cao tay. Thầy có thể sai khiến lũ âm binh làm nhiều việc từ trong nhà ra đến thiên hạ. Nhà ai có người ốm, người bị ma hành, quỷ nhập cũng tìm đến ông thầy. Nhưng ông thầy đã không cứu nổi người thanh niên dù là hàng xóm. Sự bất lực của ông khiến danh tiếng bị sa sút đi nhiều. Những người ở gần không còn tin vào tài phép của ông. Khách vắng khiến lũ âm binh đã đói lại càng thêm đói. Chúng bắt đầu ghét hai chị em con ma nhỏ. Chúng muốn đuổi hai chị em nó đi nhưng ông thầy lại làm ngơ. Ông không thu nạp nhưng cũng không đuổi dù biết chúng gây ra tai hoạ. Dường như ông biết điều gì đó mà đám âm binh không hay biết. Dù gì thì người chủ khu vườn không đuổi nên chúng cũng chả đủ năng lực và lý do để đuổi hai chị em con ma nhỏ đó đi. Chúng đâu biết sự hận thù đã biến chị em nó thành quỷ. Một thứ còn đáng sợ hơn cả chúng khi có thể ra tay thật tàn ác. 

    Chuyến trở lại của con bé đó đã làm cả khu vườn xáo trộn. Gần 80 năm đã trôi qua. Nhưng chúng vẫn nhận ra bà lão hom hem kia chính là con bé gầy gò của năm nào. Tại sao con bé ấy lại quay về khi đã đi biệt lâu đến thế. Cả ông thầy và bà Ba cũng đã không còn. Đám con ông bà cũng bỏ ra ngoài sinh sống. Khu vườn bị bỏ hoang đã khá lâu. Vậy mà con bé đó lại quay về.

    Hai chị em con ma nhỏ cũng ngồi đó. Cuộc trở lại bất ngờ của bà lão chính là con bé con năm xưa khiến chúng choáng váng. Vậy là con bé đó đã lập gia đình, đã có con, thậm chí có cả cháu. Nhìn con bé cháu đi cùng có vẻ nó có một cuộc sống khá tốt. Nó trông cao ráo, xinh đẹp, tóc dài, da trắng, mặt mũi tươi tỉnh. Cùng là trẻ con nhưng trong khi chúng và cả con bé năm xưa phải sống trong khốn khổ vì bị bỏ mặc, bị đánh đập, chửi mắng thì con bé cháu giống như một thiên thần. Cả người nó toát lên sự hạnh phúc, toát lên niềm vui. Những thứ đó cả cuộc đời của chị em chúng và quãng thời gian thơ ấu của con bé kia đều không có được. Một thứ ánh sáng của sự hài lòng, của niềm hạnh phúc. Chúng bỗng thấy ghen tỵ. Tại sao lại có người có được thứ mà chúng chưa hề có. Nỗi tức giận, sự ghen tỵ khiến chúng như sôi lên. Khi còn sống cả hai chị em chúng đã không nhận được tình yêu thương. Đến khi chết chúng cũng bị bỏ mặc. Ngay cả đám âm binh, dù không đánh đập, xua đuổi nhưng nhiều lúc cũng xem chúng như không tồn tại. Thi thoảng, thấy chị em chúng đói quá đám đó cũng vứt cho chút đỉnh. Nhưng chút ít ỏi đó làm sao bù đắp nổi hai cái bụng luôn bị cơn đói kêu gào. Túng thì phải tính. Chúng đã muốn rủ con bé đi cùng. Ngoài sự thương xót còn là tính toán. Con bé là cháu ngoại của ông thầy. Nếu nó mà chết, lại chết ngay trong chính ngôi nhà và khu vườn này thì ông thầy sẽ phải lập đàn cúng lễ. Ông có thể có lỗi với người sống khi làm ngơ để bà Ba hành hạ con bé. Nhưng ông không thể có lỗi với người chết bởi ông hiểu quá rõ về bọn chúng. Nếu làm cho bọn chúng giận, chúng có thể quấy phá và gây ra nhiều điều bất lợi. Chúng đã muốn ông thầy hối hận. Muốn ông phải cúng lễ tử tế cho cháu gái nếu chúng rủ được con bé đi cùng. Và nếu được như thế chúng sẽ được ăn, được dự lễ cúng – một nghi lễ mà gia đình chúng đã bỏ qua. Nhưng con bé đó dứt khoát không đi theo chúng. Nó quá khát khao được trở về với bố mẹ, với anh em, với làng quê của nó. Và nỗi tức giận càng dâng cao khi con bé được người thanh niên đó giúp. Không lôi được con bé theo thì chúng phải bắt cho bằng được người thanh niên ấy. Không biết là rủi hay may khi chúng bắt đầu lấy dần các vía và hành hạ người thanh niên ấy ốm quay ốm quắt thì ông thầy lại không có nhà. Gia đình nhà ấy đã mời những ông thầy khác để chữa trị, để cúng lễ. Chúng cũng được vài bữa no khi đứng chầu trực quanh mâm cúng ấy. Khi ông thầy trở về thì bệnh của người thanh niên đã quá nặng. Nếu ông xin chúng thì người thanh niên đó có thể không chết nhưng có sống thì cũng chả ra hồn người khi bảy vía thì đã bị chúng bắt đi năm đến sáu phần. Có lẽ nhìn thấy trước việc đó nên ông thầy đã buông tay. Anh ta chết. Chúng được no thêm vài bữa. Nhưng ông thầy đã phong ấn chúng. Chúng không thể đi đâu được nữa ngoài khu vườn. Mà khu vườn thì chỉ có ông thầy, bà Ba và con bé cháu. Ông thầy thì chúng không dám đụng và cũng không thể đụng tới. Bà Ba thì luôn có bùa bảo trợ. Con bé thì cao vía. Vậy là chúng cứ bị giam lỏng khi không thể đi nhưng ở lại cũng đói vàng đói vật. Ông thầy không xua đuổi chúng lúc mới đến nhưng cũng không thu nhận chúng. Có lẽ ông thấy chúng còn nhỏ, chúng không được việc. Cả hai chị em chúng cứ bị mắc kẹt cả khi sống cũng như khi đã chết. Ở đâu cũng không có ai quan tâm, không ai yêu thương, không ai cần đến chúng. Chúng đã khốn khổ ngay cả khi sống lẫn khi chết. Vậy mà con bé gái đi cùng bà lão ấy lại rạng rỡ đến thế. Đó là điều chúng không muốn, là điều chúng không thể chấp nhận.

  • Thời Đại Biến Mất

    Lớp học Lịch sử hôm nay của các tân sinh Học viện Pháp thuật Levart đang khá náo nhiệt. Lí do đơn giản là vì giáo sư đứng lớp có việc đột xuất không thể đến. Thay vào đó, người sẽ dạy cho các tân sinh về lịch sử của lục địa Manteiv trong buổi học này là ngài Cố vấn Chánh. Ngài ấy vừa là viện trưởng của Học viện Pháp thuật Levart, cũng đồng thời là cố vấn của Hoàng gia DAS, đang cai trị vương quốc Souast hiện tại.

    – Tao nghe nói hôm nay ngài cố vấn sẽ dạy cho chúng ta. Nghe là biết thú vị hơn ông giáo sư chán òm kia rồi. Trước khi đi học, tao cũng dò hỏi các đàn anh khác về các giáo sư ở đây.

    Một tân sinh vừa cười vừa vỗ tay đôm đốp với đứa bạn ngồi cạnh bên.

    – Chứ sao nữa! Đâu phải lúc nào cũng có cơ hội được học từ ngài viện trưởng đâu. Chỉ tiếc là hôm nay lại học lịch sử chứ không phải các môn về ma thuật.

    Một tân sinh khác tỏ vẻ tiếc nuối, nằm ườn ra trên bàn học. Cũng không thể nào trách hoàn toàn suy nghĩ của cậu tân sinh này. Hiện tại, Cố vấn Chánh chính là vị pháp sư hàng đầu của vương quốc Souast nói riêng và là một trong năm pháp sư bậc chín của cả lục địa Manteiv nói chung. Ngoài ra, Cố vấn Chánh còn là Hội trưởng Hội nghiên cứu Lịch sử Manteiv và lượng kiến thức của ngài ấy là không cần bàn cãi.

    – Đáng lẽ chúng ta đã được gặp ngài viện trưởng lúc khai giảng rồi ấy! Nghe đâu ngài ấy có bộ râu trắng dài đến thắt lưng, luôn đội cái mũ chóp nhọn cao thiệt cao cùng tông với chiếc áo choàng pháp sư màu xanh nước biển. Nghe thôi là toát lên khí chất của một pháp sư bậc chín rồi.

    – Chỉ từ năm hai trở đi chúng ta mới được học với ngài viện trưởng thôi. Mà chúng ta thật sự may mắn khi được học với ngài ấy ngay ở năm nhất… dù chỉ là một buổi. Còn hôm khai giảng, nghe đâu là do ngài ấy đang bận bàn bạc với Nữ hoàng đó.

    Cánh cửa lớp học mở ra. Tiếng xì xào bàn tán như tiếng ong vỡ tổ bỗng chốc im lặng ngay lập tức. Một người đàn ông bước vào chậm rãi.

    Ông mặc chiếc áo sơ mi trắng đã ngả nhẹ theo thời gian, cổ áo cài kín, thắt một chiếc cà vạt đơn giản sáng màu. Bên ngoài là áo khoác dài màu tối, kiểu dáng gần với một học giả hơn là một pháp sư. Trên tay ông là một quyển sổ đen dày cộm không có tên, bìa sổ bằng da đã sờn cũ theo vết thời gian. Lơ lửng quanh ông là một cây trượng đen dài, bề mặt nhẵn lì sáng bóng, đối nghịch rõ rệt với quyển sổ trên tay.

    Không hào nhoáng, không lấp lánh, không có mũ chóp cao hay áo choàng màu xanh nước biển như các tân sinh đã tưởng tượng về vị viện trưởng. Chỉ có một sự giản dị bình thường nhưng chính sự giản dị đó lại khiến người khác khó mà rời mắt.

    Gương mặt ông hiện rõ dưới ánh sáng đầu ngày hắt qua ô cửa sổ. Không sắc sảo nhưng cũng không dữ dằn. Ngược lại, đó là một gương mặt tròn vừa phải cùng với làn da đã hiện hữu dấu hiệu của tuổi tác. Những nếp nhăn mảnh tụ lại nơi khóe mắt và hai bên miệng. Lạ lùng thay, những nếp nhăn ấy lại không làm ông già đi mà khiến nụ cười của ông có vẻ gì đó khá kì lạ. Nhưng đó là một nụ cười hiền từ.

    Vầng tráng cao, sống mũi thẳng, gò má đầy đặn tạo nên một cảm giác của người từng trải nhưng cũng không quá khắc khổ. Đôi môi mỏng, luôn giữ một độ cong nhẹ như thể ông đang lắng nghe một điều gì đó mà người khác không thể nghe thấy.

    Nhưng thứ khiến người ta tránh phải nhìn lâu lại là đôi mắt. Ẩn sau cặp kính mỏng, mắt ông không hề sắc. Rất bình lặng tựa như mặt hồ không chút gợn sóng. Chính vì quá bình lặng lại tạo ra một cảm giác như đang nhìn vào mặt hồ sâu không thấy đáy.

    Không để lộ bất kì cảm xúc nào, ông nhẹ nhàng dừng lại trước bục giảng. Một vài tân sinh vô thức rùng mình khi nhận ra bản thân vừa cố đoán xem ông đang nghĩ gì và thất bại. Dường như họ đã đụng trúng một bức tường chắn vô hình và bị phản đòn, khiến họ hơi tê dại một chút. Phải biết rằng, để được vào Học viện Pháp thuật Levart này, các tân sinh năm thứ nhất đã trải qua một khoảng thời gian học tập kiến thức lâu dài cùng ba cuộc thi lớn. Những ai hoàn thành cuộc thi lần thứ ba còn phải vượt qua khảo nghiệm đầu vào của Levart mới được trở thành tân sinh tại đây. Về cơ bản mà nói, thì những tân sinh này cũng có chút ít năng khiếu về ma pháp. Ở nơi nào cũng vậy, luôn có những người tài giỏi hơn người khác một chút và họ luôn nghĩ rằng, mình sẽ làm được những điều mà người khác không làm được. Chẳng hạn như việc dám dò xét ý nghĩ của người đàn ông đối diện. Nhưng người đang đứng trên bục giảng này vừa là Viện trưởng vừa là Cố vấn Hoàng gia và là pháp sư tầng chín.

    Cố vấn Chánh đưa tay nắm lấy cây trượng đen đang lơ lửng, gõ nhẹ xuống nền đất. Một tiếng “cộc” rất khẽ vang lên. Tất cả tân sinh, không ai bảo ai, đều đồng loạt ngồi thẳng lưng. Ngài cố vấn đưa tay chỉnh nhẹ gọng kính. Ánh mắt lướt qua từng người, chậm rãi, chính xác như thể đang đọc từng trang sách trước mặt.

    – Lịch sử… không phải là thứ để học thuộc như một con vẹt. – Ông nói, giọng trầm ấm, rõ ràng và vang vọng khắp cả khán phòng.

    – Lịch sử là thứ mà các con phải biết, luôn hiện hữu mọi lúc mọi nơi trong não bộ của mình. – Ông bước tới bàn giáo viên, đặt quyển sổ đen lên bàn và vẫn tiếp tục lời mở đầu.

    – Lịch sử phải được hiểu rõ như chính cách mà các con hiểu về gốc năng lượng ma pháp của bản thân… nếu không muốn lặp lại sai lầm như người đi trước.

    Ngài cố vấn ngừng lại, nhìn quanh một lượt các tân sinh đang còn ngơ ngác bên dưới một lần nữa. Sau đó, ông lật giở quyển sổ đen mà mình đem theo rồi ngừng lại ở một trang đã được đánh dấu từ trước.

    – Ngày hôm nay, ta sẽ không dạy các con với những kiến thức có trong sách hướng dẫn, việc này là của giáo sư Noat. Buổi học này sẽ xem như là một buổi chia sẻ đặc biệt với riêng các con thay cho lời xin lỗi của ta vì đã vắng mặt trong ngày khai giảng.

    Ngài cố vấn đứng lên rồi nhẹ nhàng cúi người về phía các tân sinh. Hành động này khiến tất cả tân sinh đang còn ngơ ngác về lời nói vừa nghe, chuyển sang bất ngờ về hành động vừa thấy. Vài em còn đang bối rối không biết phải cư xử ra sao thì một tiếng vỗ tay không biết từ đâu vang lên, rồi kéo theo hàng loạt tiếng vỗ tay khác, cuối cùng là cả khán phòng đều đứng lên vỗ tay cho hành động của ngài cố vấn.

    Ngài ấy cũng khá bất ngờ trước việc này, khuôn miệng nở một nụ cười nhẹ nhàng rồi ra hiệu cho khán phòng dừng lại và ngồi xuống. Tiếng vỗ tay vừa dứt thì ngài cố vấn vẫy nhẹ tay trái, một làn khói mờ xuất hiện cạnh bên, từ từ lan rộng che phủ hoàn toàn tấm bảng đen phía sau, dàn trải dần thành một hình chữ nhật to lớn. Đường viền của hình chữ nhật dần cô đọng lại, bên trong thì trở nên phẳng lặng như mặt nước hồ và hình ảnh dần dần xuất hiện.

    – Ngoại trừ Hoàng gia DAS và các giáo sư của học viện Levart… – Ngài cố vấn dừng lại một chút, – thì các con chính là nhóm thứ ba sẽ được biết thông tin này cho đến hiện tại. Và dĩ nhiên, những tin này sẽ được phổ biến rộng rãi sau đó không lâu, ít nhất cũng là khoảng nửa tháng nữa nên các con hãy tự hào về điều này so với các đàn anh, đàn chị năm hai trở lên nhé.

    Tiếng ồn ào bàn tán lại xuất hiện vì những gì được nghe từ ngài viện trưởng.

    – Rồi! Im lặng nào! Trước tiên thì cho ta hỏi, ở đây, có ai biết rõ về lục địa chúng ta không?

    Ngài cố vấn nhìn quanh khán phòng một lượt, trông chờ vào một cánh tay nào đó giơ lên trả lời câu hỏi của mình. Trên màn hình nước lơ lửng hình chữ nhật, hiện lên một tấm bản đồ về lục địa Manteiv – một lục địa có hình dáng của một chữ S mềm mại.

    – Dạ, thưa… – Một giọng nói ấp úng vang lên khe khẽ từ hàng ghế đầu.

    – Đừng câu nệ hình thức, con cứ gọi ta là thầy. – Dường như hiểu được suy nghĩ của nữ tân sinh cuối lớp, ngài cố vấn nhẹ nhàng đáp lời. – Con trả lời ta biết xem nào.

    – Dạ, thưa thầy! – Sau khi được ra hiệu trả lời, cô bé liền đứng lên phát biểu ngay. – Dạ, lục địa chúng ta tên là Manteiv, bao gồm sáu vương quốc khác nhau. Nơi chúng ta đang sinh sống là vương quốc Souast, thủ đô là thành phố Nogias. Nằm ở vùng hạ lưu sông Nogias trù phú, Souast của chúng ta là điểm dừng chân cuối cùng của mọi dòng chảy tinh hoa trước khi tiến vào vùng sương mù Meridel. Chúng ta sở hữu những bến cảng không bao giờ ngủ, nơi tài lộc từ khắp các nơi đổ về theo những dòng phù sa màu mỡ nhất.

    Cố vấn Chánh khẽ gật đầu nhưng ánh mắt của ông lại sâu thăm thẳm. Dường như ông đang che giấu một sự thật nào đó mà những tân sinh bên dưới chưa bao giờ được biết đến.

    – Nhưng thưa thầy, điều khiến Souast vĩ đại không chỉ là vàng bạc mà là sự bảo hộ của vương triều DAS. Nhờ sự giàu có và quyền năng che chở, chúng ta là vương quốc duy nhất mà người dân có thể ngủ yên giữa những lớp tường thành kiên cố, không phải lo sợ bão cát hay thú dữ. Souast là trung tâm của văn minh, nơi mọi thứ tốt đẹp nhất của lục địa đều khao khát được quy tụ về! Lâu đài Hoàng gia DAS đang ở trung tâm của Nogias và nơi này được gọi là Quận Hoàng Gia, hay Quận DAS hoặc một cái tên khác là… – Nữ sinh ngập ngừng đôi chút.

    – Không sao! Con cứ trả lời tự nhiên theo con biết. Ta sẽ không trách mắng hay la rầy con điều gì đâu. – Ngài cố vấn nhẹ nhàng trả lời cùng cái nhìn trìu mến.

    – Dạ vâng ạ! Cái tên này con cũng được nghe khi đang đi loanh quanh dưới phố. Không riêng gì những người bán hàng mà gần như đa số người dân đều sử dụng là Quận Phú Nhuận…

    – Con cứ tiếp tục. – Trong một thoáng chốc, dường như không ai để ý, gương mặt của ngài cố vấn khẽ chau mày khi nghe thấy cụm từ “Quận Phú Nhuận”. Tuy nhiên, không để gián đoạn lớp học, ông lại thay đổi thái độ rất nhanh chóng.

    – Dạ! Từ lâu đài, di chuyển về hướng tây khoảng bốn cây số chính là Học viện Pháp thuật Levart của chúng ta. Cũng từ lâu đài nhưng đi về hướng ngược lại tức là hướng đông, khoảng gần ba cây số sẽ là khu rừng nổi tiếng – Rừng Tịch Mịch.

    – Tuyệt vời con gái ạ! Tổng thể thì con có một góc nhìn về Souast rất đáng tự hào. – Ông khẽ nhận xét, rồi đột ngột xoay người, ánh mắt nhìn quanh một lượt sau khi ra hiệu cho cô bé ngồi xuống. – Có ai cho ta thấy một góc nhìn ở nơi khác không?

     Từ phía cuối lớp học, nơi ánh nắng ban mai chỉ chiếu rọi được chút ít, một nữ tân sinh giơ tay xin phép. Trên cổ tay cô là một chiếc nanh lợn lồi chạm khắc cổ tự và làn da bánh mật dường như vẫn còn vương mùi nắng của những thảo nguyên đất đỏ.

    – Thưa thầy, – cô tân sinh Highcoast bắt đầu, giọng nói không dịu dàng, rụt rè như nữ sinh ban nãy mà vang vọng, khỏe và có đôi chút hoang dã. – Nếu người Souast tự coi mình như trái tim, thì Highcoast chúng con chính là xương sống và lá phổi của lục địa này.

    Cô vung tay về phía bản đồ, chỉ vào vùng cao nguyên rộng lớn phía Tây.

    – Hạ lưu sông Nogias trù phú mà bạn vừa nhắc tới, từng giọt nước phù sa đó đều bắt nguồn từ những đỉnh núi mờ sương của vương quốc chúng con. Người Highcoast không ngủ trong những lớp tường thành san sát vì chúng con có đại ngàn bao bọc. Chúng con không tích trữ vàng bạc vì báu vật của chúng con nằm ở những đàn voi chiến hùng mạnh, có thể nghiền nát đá tảng và những hạm đội tàu rồng lướt đi nhanh hơn cả gió biển phía Đông.

    Cô gái khẽ hất cằm, ánh mắt rực lửa nhìn về phía hàng ghế đầu.

    – Ba con bảo, vàng bạc có thể bị đánh cắp nhưng sự tự do của đại ngàn và bản lĩnh của những thợ săn biển cả thì không. Chúng con không cần sự che chở của ai cả. Highcoast đứng ở nơi cao nhất để canh giữ bờ cõi, cung cấp từ gỗ quý, voi chiến đến những viên hồng ngọc đỏ nhất cho vương quốc này. Nếu Souast là biểu tượng của văn minh, thì Highcoast chính là nguồn sức mạnh nguyên thủy nhất giữ cho lục địa này không sụp đổ!

    Một sự im lặng bao trùm lớp học. Sự đối lập giữa vẻ đài các của Souast và sự phóng khoáng của Highcoast tạo nên một sự căng thẳng trong khán phòng. Cố vấn Chánh khẽ nhếch môi, một tia sáng thú vị lướt qua đôi mắt ông.

    – Sức mạnh nguyên thủy… – Ông lặp lại, âm thanh như tiếng gió rít qua khe đá. – Ta bổ sung thêm một chút về Highcoast. Đây là nơi cung cấp một thứ nguyên liệu, tạo ra thức uống mà ta yêu thích, đó là “Cà phê”, một thức uống giúp chúng ta tỉnh táo và… giải quyết sự chất chứa lâu ngày.

    Ngài cố vấn khẽ mỉm cười, tay xoa xoa vào bụng của mình.

    – Vậy còn “Bức tường thép” ngăn cách các con với phương Bắc lạnh lẽo thì sao? Các cậu con trai của đất Norcenco, các con thấy mình nằm ở đâu trong cán cân này?

    – Thưa thầy, lời của hai bạn nghe thật hào hùng, – cậu thiếu niên đứng dậy, thanh âm khô khốc như tiếng gươm tuốt ra khỏi vỏ. – Nhưng với tư cách là con của một thương đoàn thường xuyên phải đánh cược mạng sống trên các con lộ, con thấy cả vàng bạc lẫn voi chiến đều sẽ trở nên vô nghĩa nếu không vượt qua được cái “eo thắt cổ chai” mang tên Norcenco.

    Cậu chỉ tay vào dải đất hẹp nhất trên bản đồ. 

    – Norcenco không có đại ngàn vô tận, cũng chẳng có bến cảng vàng son. Đây là vùng đất của nắng cháy da và bão tố to lớn vô ngần. Chính sự khắc nghiệt đó đã rèn nên thứ Thép Lam cứng nhất lục địa mà quân đội hoàng gia DAS đang dùng. Ông con bảo, Norcenco là “Bức tường thép”. Chúng con kiểm soát những con đèo hiểm trở đến mức chỉ cần một toán nhỏ lính kỵ binh cũng đủ chặn đứng cả một vương quốc. Nếu Highcoast là đôi cánh thì Norcenco chính là bộ giáp. Không có bộ giáp này, phương Nam từ lâu đã bị cái lạnh lẽo của phương Bắc nuốt chửng.

    Cố vấn Chánh khẽ gật đầu, ánh mắt ông dời lên phía trên, nơi dải đồng bằng rộng lớn hiện ra.

    – Một bộ giáp kiên cố. Vậy còn Reverdel? Vùng đất của những con đê vĩ đại và những thành phủ uy nghiêm?

    Một tân sinh khác đứng dậy, giọng nói mang âm hưởng của tầng lớp học giả.

    – Dạ thưa thầy, Reverdel không chỉ là đồng bằng. Đó là vương quốc của những “Đại đô thị liên minh”. Khác với Souast có Nogias, Highcoast có Danan, Norcenco có Hue thì Reverdel là sự hợp lực của hai thành phủ khổng lồ – một nằm sâu trong đất liền để giữ gìn đạo học – Ionah, một nằm sát biển để canh giữ cửa ngõ đại lục – Hafon. Mẹ con gọi đó là “Song trụ của Reverdel”. Nơi đây, phù sa sông Rever kết lại thành những con đê vững chãi như núi, nuôi dưỡng đội quân chính quy thiện chiến nhất, những kẻ biết biến lúa gạo thành sức mạnh và biến kiến thức thành vũ khí.

    – Rất tốt! Nhưng ta tiếp tục bổ sung, ở vùng Reverdel, rất nổi tiếng về một loại rượu được làm từ “gạo hoa vàng”.

    Ngài cố vấn khẽ mỉm cười, rồi ông nhìn về phía cực Bắc xa xôi, nơi sương mù dày đặc bao phủ những đỉnh núi cao nhất.

    – Cuối cùng, là Nortains, – giọng ông thấp xuống, đầy vẻ tôn kính. – Nơi mà không một vương triều nào có thể đặt nền móng cai trị trực tiếp. Nortains không có một kinh đô duy nhất, mà là sự quần tụ của các “Thành bang ẩn sĩ”. Mỗi thung lũng, mỗi dãy núi đá vôi là một lãnh địa tự trị, giống như những viên ngọc rời rạc nhưng bền bỉ. Họ không cần hoàng đế vì “Sương mù” và “Tứ đại đỉnh đèo” đã là những vị thần bảo hộ tối cao của họ rồi. Ở đó, người ta không gọi mình là dân của một vương quốc nào đó, họ là những “Chúa tể sơn cước”, tự do và bất trị như chính những cơn gió tuyết trên đỉnh Mapile.

    Sự im lặng bao trùm lớp học sau lời đúc kết của ngài cố vấn. Những tân sinh trẻ tuổi vẫn còn đang chìm trong sự kiêu hãnh về vùng đất của riêng mình. Nhưng rồi, ở hàng ghế giữa, một tân sinh có vẻ ngoài điềm tĩnh – có lẽ là một kẻ nghiện sách – giơ tay lên.

    – Thưa thầy, – cậu tân sinh ngập ngừng, – chúng ta đều đã nói về năm vương quốc, nhưng trên bản đồ, ngay dưới chân vương quốc Souast, vẫn còn một vùng đất nữa – Meridel. Ba con nói đó là nơi dòng sông Nogias đổ về nhưng không bao giờ thoát ra biển được nữa. Tại sao trong lịch sử và quân sự, Meridel lại… không có tiếng nói nào? Hay đúng hơn là phải nói nơi ấy tách biệt hoàn toàn?

    Cố vấn Chánh khựng lại. Nụ cười nhàn nhạt trên môi ông tan biến, thay vào đó là một vẻ nghiêm nghị đến lạnh người. Ông ra hiệu cho cậu tân sinh ngồi xuống, rồi ông tiến lại gần bản đồ, che khuất phần hạ lưu trù phú của Souast bằng bóng lưng mình.

    – Ở đây có ai là con cháu trong các thương đoàn Souast giao thương với Meridel không?

    – Dạ, thưa thầy, – một cậu tân sinh ngồi gần cửa sổ đứng dậy, chỉnh lại cổ áo một cách tự tin. – Mỗi tháng chỉ có hai lần vào ngày Trăng Non – ngày đầu tháng và Trăng Rằm – ngày giữa tháng, bến cảng nổi tại biên giới Souast và Meridel mới mở cửa. Phía vương quốc chúng ta gọi nơi đó là “Thành phố Sương Mù” – quanh năm luôn có sương mù che kín cho đến khi mở cửa, hay “Thành phố Nổi” – tất cả giao dịch đều thực hiện trên xuồng ba lá hoặc các căn nhà nổi trên mặt nước. Nhưng những kẻ trùm kín mít từ phía bên kia lại gọi nơi đó bằng cái tên: Cái Răng. Ba con kể rằng, cái tên đó là ngôn ngữ cổ của họ, mang một ý nghĩa mà chúng ta không bao giờ hiểu hết.

    Cậu thiếu niên hạ thấp giọng, vẻ huyền bí bao trùm lấy những dãy bàn học trong khán phòng.

    – Thành phố Sương Mù là một thành phố không chân, toàn bộ là những bè nổi khổng lồ nằm ngay trên đường biên giới mặt nước. Khi sương mù sông Nogias dày đến mức nuốt chửng cả ánh đuốc, họ sẽ xuất hiện từ trong màn sương trên những chiếc xuồng ba lá lướt đi không tiếng động. Điều kỳ lạ là khi giao dịch với các thương đoàn, họ vẫn sử dụng ngôn ngữ của chúng ta nhưng mang một âm hưởng lành lạnh mà rành mạch đến đáng sợ. Nhưng ngay khi quay sang nhìn nhau, họ lại trao đổi bằng một thứ ngôn ngữ kỳ lạ như tiếng nước cuộn dưới mạn thuyền hay…

    – Họ nói chuyện mà như thể đang hát với nhau đúng không? – Ngài cố vấn đáp lời cậu thanh niên khi trông thấy cậu đang ấp úng tìm những từ ngữ miêu tả được ba cậu kể lại.

    Ánh mắt cậu đầy vẻ thắc mắc nhưng vẫn gật đầu lia lịa vì đồng ý.

    – Ba con kể rằng, có một lần tình cờ, một kẻ trùm choàng xám đã vô tình tiết lộ rằng Meridel vốn không phải là tên vương quốc của họ, mà chỉ là cái danh xưng do năm vương quốc chúng ta tự đặt ra. Khi ba con hỏi tên thật của vùng đất đó là gì, kẻ ấy chỉ im lặng rồi quay người rời đi.

    Cố vấn Chánh im lặng, đôi mắt ông lóe lên một tia nhìn thấu suốt nhưng không đáp lời. Ông biết rõ cái tên bí mật đó và ông hiểu rằng sự thờ ơ của họ chính là nỗi kiêu hãnh của một chủng tộc chưa bao giờ coi mình thuộc về thế giới này. Họ chẳng quan tâm người khác gọi họ là gì, bởi vì trong mắt họ, mọi sự định danh của con người đều vô nghĩa trước sự vĩnh cửu của sương mù hay một thứ gì đó khác.

    Ông khẽ xoay người, tà áo choàng lướt qua sàn đá tạo nên một âm thanh sột soạt nhẹ nhàng nhưng đầy quyền uy. Ông nhìn sâu vào mắt cậu tân sinh vừa phát biểu, rồi chậm rãi bước đến bên bệ cửa sổ, nơi có thể nhìn thấy dòng sông Nogias lững lờ trôi về phía Nam.

    – Cảm ơn con. Lời con vừa kể… chính là những gì các thương đoàn đã truyền tai nhau suốt hàng thế kỷ qua, – giọng ngài cố vấn trầm thấp, mang theo một sắc thái mà đám tân sinh không thể gọi tên. – Sự thờ ơ của họ không phải vì khinh miệt mà vì thế giới của họ vốn dĩ vận hành theo một quy luật hoàn toàn khác với chúng ta.

    Ông ngập ngừng một lát, dường như đang cân nhắc xem nên tiết lộ bao nhiêu phần sự thật cho những đứa trẻ này.

    – Về Meridel… hay bất cứ tên gọi nào khác mà họ dùng, các con chỉ cần biết vài điều cơ bản để… giữ mạng mình nếu có cơ hội đến đó. Thứ nhất, đó là vùng đất của sự cộng sinh. Ở đó, ranh giới giữa hơi thở và thiên nhiên là một. Những “người” – ông nhấn mạnh – trùm choàng xám mà các con thấy ở Thành phố Sương Mù, thực chất… họ chỉ là những sứ giả cấp thấp nhất được cử ra để giao tiếp với chúng ta. Họ có thể nói ngôn ngữ của chúng ta vì họ có khả năng mô phỏng… nhưng đó không phải là tiếng lòng của họ.

    Ngài cố vấn khẽ nắm chặt cây trượng đen của mình, ánh mắt đăm chiêu nhìn về một nơi nào đó ở phía đường chân trời rồi lại tiếp tục.

    – Thứ hai, thời gian ở Meridel không chảy theo cách chúng ta đếm bằng đồng hồ cát. Một ngày ở trong lòng những rặng đước sương mù đó có thể dài bằng cả một mùa lúa của Souast. Chỉ riêng ngày Trăng Rằm và Trăng Non là chúng ta có cùng thời gian với họ hoặc đôi khi, chính họ cho phép chúng ta có cùng thời gian vào hai ngày ấy không chừng. Đó là lý do tại sao họ không quan tâm chúng ta gọi họ là gì. Với họ, sự tồn tại của chúng ta chỉ như một cái chớp mắt của dòng sông.

    Ông dừng lại, đôi môi khẽ mím chặt.

    – Và điều cuối cùng, tuyệt đối đừng bao giờ tò mò về hình dáng thật sự ẩn dưới lớp choàng xám ấy. Có những bí mật mà một khi đã thấy bằng mắt, linh hồn các con sẽ mãi mãi thuộc về sương mù, không bao giờ có thể quay lại Nogias để kể lại một lần nào nữa.

    Cả lớp học như bị hút vào không gian tĩnh mịch mà lời kể của ngài cố vấn tạo ra. Ngay cả những tân sinh Nortains lầm lì nhất cũng phải nheo mắt đầy cảnh giác, còn cô gái Highcoast thì nắm chặt chiếc nanh thú trên cổ tay mình, cảm nhận một luồng hơi lạnh mơ hồ từ phía Nam đang len lỏi vào căn phòng.

    Sau khi ánh mắt đã quét qua một lượt những gương mặt tân sinh viên vẫn còn đang ngẩn ngơ vì những câu chuyện về Meridel, ngài cố vấn khẽ hắng giọng. Ông gõ nhẹ đầu quyền trượng xuống nền, âm thanh khô khốc thu hút mọi sự chú ý.

    – Bây giờ, – giọng ông trở nên nghiêm trọng lạ thường, – ta sẽ nói cho các con nghe về thông tin mới nhất mà ta đã hứa ở đầu buổi học. Những điều này, ít nhất phải nửa tháng nữa mới được công bố rộng rãi trên toàn lục địa.

    Ông dừng lại một nhịp, nhìn vào bản đồ Manteiv rồi nói tiếp.

    – Chúng ta đều biết, sáu vương quốc hiện nay được hình thành cách đây tròn 257 năm. Lịch sử các con học đều bắt đầu từ giai đoạn thời kỳ đồ đá, khi nhân loại còn trong sự mông muội. Nhưng gần đây, những cuộc nghiên cứu xuyên suốt lục địa Manteiv đã khai quật được vài hiện vật mà ta không tiện đưa ra ở đây, nhưng chúng đã chứng minh một sự thật chấn động: Trước cả thời kỳ mà chúng ta từng biết, đã tồn tại một kỷ nguyên phát triển rực rỡ theo một hướng hoàn toàn khác. Chúng ta gọi đó là “Thời đại biến mất”.

    Cả lớp học nín thở. Ngài cố vấn tiếp tục, đôi mắt ông sáng lên một vẻ kỳ bí.

    – Vào thời đại đó, con người dường như không có khái niệm về ma pháp hoặc chỉ có một thiểu số cực kỳ ít ỏi biết đến nó. Thay vào đó, họ điều khiển những sinh vật khổng lồ không phải con người, bắt chúng lao động ngày đêm không mệt mỏi. Có những sinh vật gần như bằng kim khí đưa họ đi khắp đất liền, băng qua đại dương và thậm chí chiếm lĩnh cả bầu trời từ năm này qua năm khác. Tốc độ của chúng… thực lòng mà nói, có thể ngay cả những chiến thuyền nhanh nhất của Highcoast, xe ngựa của Souast hay khinh khí cầu của chúng ta cũng không thể sánh bằng.

    Căn phòng học vốn tĩnh lặng bỗng chốc vỡ òa. Tiếng xì xào bàn tán nổi lên dồn dập như những cơn sóng thủy triều.

    – Sinh vật kim khí bay trên bầu trời? Làm sao có thể chứ? – Một sinh viên từ Ionah giơ tay, giọng run rẩy vì sự hoài nghi của một học giả. – Thưa thầy, nếu họ mạnh mẽ đến thế, tại sao lại… biến mất không tì vết? Và những sinh vật đó, chúng là ma thú bị thuần hóa hay là thứ gì khác?

    Một nữ sinh từ Nogias cũng vội vàng đứng lên.

    – Thưa thầy, liệu “Thời đại biến mất” đó có liên quan gì đến sự bí ẩn của Meridel hiện nay không? Có phải họ đã trốn vào sương mù? Và chính là dân cư Meridel hiện tại?

    Cố vấn Chánh giơ tay ra hiệu giữ trật tự.

    – Ta cũng đã từng có suy nghĩ như con. Tuy nhiên, các hiện vật khai quật được cho thấy dân cư của “Thời đại biến mất” phụ thuộc hoàn toàn vào những cỗ máy vô hồn. Trong khi đó, dựa vào quan hệ cá nhân, ta có được chút ít thông tin từ nguồn bí mật thì Meridel dường như là nơi mà quyền năng tự nhiên đạt đến mức thuần khiết nhất. Có thể họ đã chạm mặt nhau, nhưng để nói họ là một thì vẫn còn là một khoảng trống quá lớn mà sương mù chưa chịu hé lộ.

    Căn phòng lại một lần nữa xôn xao, nhưng lần này không phải là tiếng bàn tán, mà là sự tò mò đến nghẹt thở. Một nam sinh vùng Nortains, nãy giờ vẫn im lặng như một tảng đá trong sương mù, bỗng cất giọng trầm đục.

    – Thưa thầy, nếu họ sở hữu những sinh vật kim khí bay nhanh hơn cả khinh khí cầu và những cỗ máy lao động không biết mệt mỏi… tức là họ đã đứng trên đỉnh cao của quyền lực. Một chủng tộc có thể thống trị cả bầu trời và đại dương như thế, liệu có thứ sức mạnh nào trên lục địa này đủ sức quét sạch họ chỉ trong một đêm để biến họ thành “Thời đại biến mất”? Hay chính những sinh vật kim khí đó đã… phản bội lại chủ nhân của chúng?

    Cố vấn Chánh nhìn thẳng vào mắt người sinh viên miền núi, một nụ cười nhàn nhạt và đầy vẻ ưu tư hiện trên môi. Ông chậm rãi bước về phía cửa sổ, tay vẫn nắm chặt cây quyền trượng.

    – Câu hỏi rất hay. Về việc tại sao họ biến mất, chúng ta vẫn đang…

    ĐOÀNG!

    Một tiếng nổ vang trời xé toạc bầu không khí yên bình của buổi sáng. Nó không giống tiếng sét, mà giống như lòng đất vừa bị một bàn tay khổng lồ vặn nát. Ngay lập tức, một luồng dư chấn dữ dội ập đến. Ngoài sân, sàn đá học viện Levart chao đảo, trong lớp học thì bàn ghế rung lắc, các chồng sách vở trên bàn rớt xuống liên hồi, bụi văng tứ tung.

    Cửa phòng bật mở, một sĩ quan vệ binh hoàng gia hớt hải lao vào, bộ giáp còn vương bụi đá.

    – Ngài Cố vấn! Hoàng gia DAS đang liên hệ khẩn cấp qua kênh truyền tin tối mật. Có động tĩnh cực lớn từ hướng rừng Tịch Mịch!

    Cố vấn Chánh không hề nao núng, ông quay sang đám tân sinh viên đang hoảng loạn.

    – Tất cả giữ bình tĩnh! Lớp học kết thúc tại đây. Các đội trưởng sinh viên hãy dẫn các bạn di chuyển theo hành lang phía Đông, dưới sự chỉ dẫn của các giáo sư trong trường, nhớ tránh xa các tháp cao, quay về ký túc xá và ở yên đó cho đến khi có lệnh mới. Học viện sẽ kích hoạt màn chắn bảo vệ ngay lập tức.

    Với tư cách là một Pháp sư Tầng Chín, ông không cần dùng đến các vòng tròn ma pháp rườm rà mà đã sáng tạo ra một loại giấy có thể lưu trữ ma pháp dùng một lần. Ông rút từ trong ống tay áo ra một cuộn giấy truyền tống, loại pháp khí quý hiếm cho phép dịch chuyển tức thời qua những khoảng cách lớn mà không bị ảnh hưởng bởi địa chấn.

    Ông liền xé toạc cuộn giấy. Một luồng sáng xanh thẫm bao bọc lấy thân hình ông, không gian xung quanh vặn xoắn lại rồi biến mất trong nháy mắt. Ngài cố vấn đã dịch chuyển thẳng về lâu đài Hoàng gia DAS để hội quân, để lại đám tân sinh vừa di chuyển theo sự hướng dẫn vừa bàng hoàng nhìn về phía cửa sổ, nơi khu rừng Tịch Mịch vốn im lìm ngàn năm giờ đang bốc lên những cột bụi khổng lồ.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG 1: KHU VƯỜN XƯA

    CHƯƠNG 1: KHU VƯỜN XƯA

    Níu vào cánh tay cô cháu gái, bà bước từng bước thận trọng. Ngay từ rất sớm bà đã thức giấc và không thể nào ngủ tiếp được. Đầu óc bà cứ nghĩ mãi về lần đi này. Bà đã lần nữa, lần nữa hết lần này đến lần khác. Vèo cái mà đã qua tận 80 năm. Khi quyết định sẽ trở lại, bà đã nói ý định với các con. Chúng đã sắp xếp cho bà về thăm quê và cắt cử cô cháu gái đi cùng. Chuyến đi này mục đích là thăm lại ngôi nhà xưa. 

    Ngay từ chiều qua, lúc xe vừa đến khách sạn bà đã thấy hồi hộp. Một đêm ngủ không ngon. Sáng ra, xe đã đến đón hai bà cháu từ khá sớm. Mất gần một tiếng, cuối cùng thì bà và cô cháu gái đã sắp đến nơi cần đến. Xe chờ hai bà cháu ở đầu làng. Bà và cô cháu gái đi bộ vào. Ngôi nhà mà theo bà nhớ là nằm giữa đám cây cối rậm rạp. Sau mấy lần hỏi thăm, hai bà cháu đã đứng trước khu vườn. Men theo khoảng trống nhỏ giữa các lùm cây cả hai bà cháu tiến dần vào trong. Ngôi nhà ngày một gần lại trong tầm mắt.

    Cũng đã lâu lắm bà mới trở lại nơi này. Ký ức của hơn 80 năm trước dường như chưa bao giờ phai nhạt dù gần đây trí nhớ của bà đã sa sút. Trong những câu chuyện về thời thơ ấu, quãng thời gian 3 năm sống với ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại với chồng, với các con và giờ là các cháu của mình. Ba năm đó kéo dài từ khi bà mới 7 tuổi đến khi bà lên 10. Ba năm với không biết bao ngày phải chịu đói, chịu rét, bị đánh đập, hành hạ, bị bán đi bởi sự tai quái, những hận thù tích tụ từ người vợ ba của ông ngoại. Bà vẫn nhớ như in những trận đánh thừa sống thiếu chết với lời rít lên từ miệng của bà Ba: 

    – Con bà, con mẹ, con dì mày đã hành hạ bà. Giờ thì bà hành lại!

    Những ngày đó, cứ cách vài ngày trên người bà lại in hằn thêm những lằn roi mới. Nhớ những ngày vào đông, bà co ro tê tái trong cái rét cắt da cắt thịt khi trên người chỉ có một bộ quần áo cộc. Rồi những bữa bà bị bà Ba đuổi phải lủi thủi nấu ăn một mình khi ông không có nhà. Nhiều khoảng thời gian trong năm bà theo mọi người trong làng đi hái chè, mót lạc, mót lúa để tự lo cái ăn. Ông ngoại cứ vắng nhà suốt. Bà Ba lại ghét bỏ nên một đứa trẻ mới 7 tuổi như bà bị ném cho tự sinh, tự diệt. Nhưng tất cả nỗi cơ cực đó cũng không đáng sợ bằng việc phải đối mặt với những hồn ma lẩn khuất trong khu vườn ấy. Chúng cứ rủ rỉ rủ bà đi với chúng mỗi khi ông ngoại vắng nhà hay khi bà ốm phải nằm còng queo một mình trên chiếc phản gỗ. Ông ngoại bà làm nghề thầy cúng, thầy thuốc và thầy phù thuỷ. Cuộc đời ông xê dịch kiếm ăn tại nhiều nơi, nhiều tỉnh thành. Nó cũng là duyên cớ để ông có nhiều vợ, lắm con. Ngoài bà cả mất sớm vì bạo bệnh, ông còn có bà hai cùng năm người con. Bà Ba thì còn khá trẻ.

    Bà ngoại của bà là vợ hai và bà là cháu ngoại của ông. Chỉ vì lời thầy phán số khắc cha khắc mẹ mà bà bị bố mẹ đẩy cho ông ngoại nuôi. Họ hy vọng ông là thầy cao tay sẽ giải được ách nạn mà bà đang mang. Bảy tuổi, bà lếch thếch tay nải quần áo đi theo ông ngoại về quê, sống cùng bà Ba, người vợ trẻ của ông. Bảy tuổi, bà không biết mình đã bước vào địa ngục khi phải sống xa cha mẹ, quê quán và phải ở với bà trẻ – một người chất đầy hận thù vì những màn ghen tuông, chèn ép giữa các bà vợ. 

    Thoáng đó mà đã 80 năm kể từ ngày bà rời khỏi khu vườn. Bà đã lấy chồng, sinh con rồi có cháu nội, cháu ngoại. Trong những câu chuyện bất tận kể lại cho lũ cháu ký ức 3 năm ở cùng ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại nhiều lần. Có lẽ bởi 3 năm đó có quá nhiều bi kịch, những nỗi sợ đi theo bà suốt cả đời người. Đã nhiều lần, bố mẹ rồi họ hàng, các anh chị em nhắc bà về lại nơi cũ. Họ muốn bà hoà giải với bà Ba. Cũng muốn bà nhận các cậu, các dì do bà Ba sinh ra nhưng bà đều từ chối. Nỗi đau bị đánh đập, bị bán rồi những nỗi sợ mơ hồ khiến bà luôn có lý do để từ chối trở lại nơi này. Cho đến cả khi ông ngoại rồi bà Ba mất bà cũng biện nhiều lý do để không phải trở về. Lâu dần, họ hàng cũng không còn thúc giục khi biết bà không buông bỏ được quá khứ, không quên được 3 năm địa ngục khi sống ở đó. Vậy mà giờ đây, ở tuổi 90 khi trí nhớ bắt đầu lẫn lộn bà lại muốn một lần được trở lại nơi này. Bà còn chủ động dẫn theo cô cháu nội, đứa trẻ gần gũi với bà nhất để cùng trở lại khu vườn xưa. Bà chỉ cho cô cháu gái ngôi nhà đã cũ nát của ông ngoại. Một ngôi nhà 5 gian xập xệ nằm lọt thỏm giữa khu vườn rộng với mái ngói âm dương đã sạt xuống ở một góc chứng tỏ lâu rồi không có người qua lại. Phía ngoài tường, nấm mốc đã kéo lên quá nửa với những mảng rêu vừa xanh vừa xám xen lẫn những đám sần sùi sủi lên từ lớp vôi tường. Xung quanh ngôi nhà, đám cây dại mọc lung tung, phía xa là một hồ nước nhỏ. Giọng bà xa xăm: Cũng tám chục năm rồi, gần một thế kỷ chứ có ít đâu!

    Thấy bà đứng ngẩn ra trước ngôi nhà cũ, cô cháu gái ngây thơ hỏi: 

    – Bà ơi, thế mấy con ma bà kể liệu có còn sống ở đây không ạ?

    Một thoáng rùng mình chạy dọc khắp thân hình già nua. Trên gương mặt đầy nếp nhăn của bà thoáng một vẻ sợ hãi. Bà thì thầm: Bà cháu mình rời khỏi đây thôi! Bà thấy mệt rồi. 

    Bước chân hơi run do tuổi tác, do sợ hãi vẫn cố tỏ ra mạnh mẽ. Bà cố đi thật nhanh trong khi tay vẫn níu chặt lấy cánh tay đứa cháu gái. Cô cháu gái có vẻ như bị sự tò mò lấn át nên dù bị bà kéo đi vẫn nhớn nhác nhìn khắp khu vườn. Một khu vườn bị bỏ hoang với cây cối um tùm, không người chăm sóc. Bóng của hai bà cháu nhỏ dần ra phía ngoài. Cả hai không biết rằng ngay từ khi họ bước chân vào khu vườn đã có những ánh mắt thấp thoáng dõi theo họ. Và khi bà đứng lặng nhìn vào ngôi nhà cũ thì những ánh mắt dường như cũng dần nhận ra bà lão đã gần 90 kia chính là cô bé mà hơn 80 năm trước đã từng sống cùng ông ngoại tại nơi đây. Một con bé bị bứt khỏi gia đình, bố mẹ, anh em, quê quán để theo chân ông ngoại là một thầy thuốc, thầy cúng, thầy phù thuỷ về lại với quê xưa. Trong khi ông ngoại vắng nhà suốt vì đi cúng, đi bốc thuốc, chữa bệnh thì tại khu vườn này chỉ còn lại hai bà cháu. Bà Ba còn rất trẻ và cô cháu ngoại của bà vợ hai. Hai con người không cùng máu mủ nhưng có chung một mối liên hệ gắn bó với ông thầy. Bà Ba còn trẻ, lại hay phiền lòng khi phải sống vắng chồng. Bao khó chịu, bực dọc rồi những uất ức khi bị bà Hai cùng đám con hành hạ khi trước bà đem trút hết vào đứa cháu vô tội. Cứ nhìn nó là bà nhớ lại quãng thời gian bà mới theo ông. Ngày đó bà còn trẻ, lại có nhan sắc. Bà cũng vì ham ông tài, ông giỏi lại kiếm tiền tốt nên mới đi theo. Nhưng cái thói chung chồng khiến bà nếm đủ những đòn ghen khi trực diện, lúc giấu mặt từ bà Hai và đám con của bà. Cũng chính vì những mâu thuẫn liên miên giữa hai bà vợ mà ông quyết chuyển về đây. Bà Ba còn trẻ, lại chưa có con. Ông với bà về quê cũ vừa giúp bà Ba tránh xa đòn thù từ bà Hai lại khiến ông đỡ phải đau đầu khi cứ phải phân xử, phải đứng giữa hai bà vợ. Con bé là thành viên duy nhất của gia đình bà Hai. Vì nó mệnh cao, số sát cha sát mẹ nên con gái và con rể muốn ông mang theo để trừ tai ách. Công việc khiến ông cứ đi suốt. Lúc thì khám bệnh, lúc cúng bái, khi làm lễ cho các gia đình. Khu vườn rộng nên ông trồng nhiều loại cây thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh. Những lúc ông ở nhà, nhiều gia đình cũng hay mang người ốm đến để nhờ ông chữa trị. Một số người khỏi bệnh. Một số khác thì mất ngay tại nhà thầy. Ngoài chữa bệnh, ông còn học được nghề thầy cúng, thầy phù thuỷ. Ông biết, nhiều bệnh nhân mất tại nhà mình đã không muốn rời khỏi khu vườn. Một số đã gia nhập vào đội âm binh mà ông vẫn nuôi giấu. Một số thành những hồn ma vất vưởng.

    Là thầy cao tay, làm việc với cả phần dương lẫn cõi âm nên ông biết khu vườn nhìn bề ngoài chỉ có hai bà cháu nhưng thật ra bên trong có khá nhiều linh hồn cùng trú ngụ. Ngoài đội quân âm binh do ông thu nạp, còn có những bệnh nhân được người nhà đưa đến cho ông chữa trị và đã mất tại đây. Linh hồn họ đã không về lại nhà mà vương vấn mãi với khu vườn. Nhiều người trong số họ đã chứng kiến tất cả. Một người đàn bà trẻ với mối thù hận dai dẳng lại luôn sống vắng chồng. Một con bé bị vứt bỏ vì có số sát cha sát mẹ. Họ đã chứng kiến con bé bị đánh đập, bị ghẻ lạnh, hắt hủi bởi bà trẻ. Vài kẻ trong số đó đã muốn mang con bé theo cùng. Là thầy, ông cũng có biết những việc đó. Nhưng con bé cao số. Nó đã không đi theo những lời rủ rê. Nó đã cầu cứu sự giúp đỡ và rồi nó theo bố đi biệt về tận một làng quê ngoài Bắc. Thoáng chốc đã 80 năm, đã gần một thế kỷ. Những linh hồn ở đây đã ngỡ như quên hẳn hình bóng đó. Nhưng hôm nay, con bé ngày đó đã trở lại. 80 năm đã biến con bé gày gò ngày nào thành một bà lão 90, cái tuổi dường như cũng sắp đi về cùng một cõi với họ. 80 năm biền biệt đến hôm nay mới trở lại. Một cuộc trở lại cũng không có lý do khi cả ông ngoại và bà Ba đều đã mất từ lâu. Bà lão ấy đã đứng đó một lúc rồi rời đi cùng cô cháu gái. Bước chân đi vội như cảm nhận được điều gì đó. Hai bà cháu đi rồi nhưng vẫn có những ánh mắt ẩn nấp đâu đó trong khu vườn dõi theo họ. 80 năm quá dài nhưng lại như quá ngắn với sự trở về này.

  • CHƯƠNG I, PHẦN 1: KHU VƯỜN XƯA

    Tiểu thuyết: 

         GIẢI THOÁT

    PHẦN I: ÂM BINH

    Chương I: Khu vườn xưa

    Níu vào cánh tay cô cháu gái, bà bước từng bước thận trọng. Ngay từ rất sớm bà đã thức giấc và không thể nào ngủ tiếp được. Đầu óc bà cứ nghĩ mãi về lần đi này. Bà đã lần nữa, lần nữa hết lần này đến lần khác. Vèo cái mà đã qua tận 80 năm. Khi quyết định sẽ trở lại, bà đã nói ý định với các con. Chúng đã sắp xếp cho bà về thăm quê và cắt cử cô cháu gái đi cùng. Chuyến đi này mục đích là thăm lại ngôi nhà xưa. 

    Ngay từ chiều qua, lúc xe vừa đến khách sạn bà đã thấy hồi hộp. Một đêm ngủ không ngon. Sáng ra, xe đã đến đón hai bà cháu từ khá sớm. Mất gần một tiếng, cuối cùng thì bà và cô cháu gái đã sắp đến nơi cần đến. Xe chờ hai bà cháu ở đầu làng. Bà và cô cháu gái đi bộ vào. Ngôi nhà mà theo bà nhớ là nằm giữa đám cây cối rậm rạp. Sau mấy lần hỏi thăm, hai bà cháu đã đứng trước khu vườn. Men theo khoảng trống nhỏ giữa các lùm cây cả hai bà cháu tiến dần vào trong. Ngôi nhà ngày một gần lại trong tầm mắt.

    Cũng đã lâu lắm bà mới trở lại nơi này. Ký ức của hơn 80 năm trước dường như chưa bao giờ phai nhạt dù gần đây trí nhớ của bà đã sa sút. Trong những câu chuyện về thời thơ ấu, quãng thời gian 3 năm sống với ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại với chồng, với các con và giờ là các cháu của mình. Ba năm đó kéo dài từ khi bà mới 7 tuổi đến khi bà lên 10. Ba năm với không biết bao ngày phải chịu đói, chịu rét, bị đánh đập, hành hạ, bị bán đi bởi sự tai quái, những hận thù tích tụ từ người vợ ba của ông ngoại. Bà vẫn nhớ như in những trận đánh thừa sống thiếu chết với lời rít lên từ miệng của bà Ba: 

    – Con bà, con mẹ, con dì mày đã hành hạ bà. Giờ thì bà hành lại!

    Những ngày đó, cứ cách vài ngày trên người bà lại in hằn thêm những lằn roi mới. Nhớ những ngày vào đông, bà co ro tê tái trong cái rét cắt da cắt thịt khi trên người chỉ có một bộ quần áo cộc. Rồi những bữa bà bị bà Ba đuổi phải lủi thủi nấu ăn một mình khi ông không có nhà. Nhiều khoảng thời gian trong năm bà theo mọi người trong làng đi hái chè, mót lạc, mót lúa để tự lo cái ăn. Ông ngoại cứ vắng nhà suốt. Bà Ba lại ghét bỏ nên một đứa trẻ mới 7 tuổi như bà bị ném cho tự sinh, tự diệt. Nhưng tất cả nỗi cơ cực đó cũng không đáng sợ bằng việc phải đối mặt với những hồn ma lẩn khuất trong khu vườn ấy. Chúng cứ rủ rỉ rủ bà đi với chúng mỗi khi ông ngoại vắng nhà hay khi bà ốm phải nằm còng queo một mình trên chiếc phản gỗ. Ông ngoại bà làm nghề thầy cúng, thầy thuốc và thầy phù thuỷ. Cuộc đời ông xê dịch kiếm ăn tại nhiều nơi, nhiều tỉnh thành. Nó cũng là duyên cớ để ông có nhiều vợ, lắm con. Ngoài bà cả mất sớm vì bạo bệnh, ông còn có bà hai cùng năm người con. Bà Ba thì còn khá trẻ.

    Bà ngoại của bà là vợ hai và bà là cháu ngoại của ông. Chỉ vì lời thầy phán số khắc cha khắc mẹ mà bà bị bố mẹ đẩy cho ông ngoại nuôi. Họ hy vọng ông là thầy cao tay sẽ giải được ách nạn mà bà đang mang. Bảy tuổi, bà lếch thếch tay nải quần áo đi theo ông ngoại về quê, sống cùng bà Ba, người vợ trẻ của ông. Bảy tuổi, bà không biết mình đã bước vào địa ngục khi phải sống xa cha mẹ, quê quán và phải ở với bà trẻ – một người chất đầy hận thù vì những màn ghen tuông, chèn ép giữa các bà vợ. 

    Thoáng đó mà đã 80 năm kể từ ngày bà rời khỏi khu vườn. Bà đã lấy chồng, sinh con rồi có cháu nội, cháu ngoại. Trong những câu chuyện bất tận kể lại cho lũ cháu ký ức 3 năm ở cùng ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại nhiều lần. Có lẽ bởi 3 năm đó có quá nhiều bi kịch, những nỗi sợ đi theo bà suốt cả đời người. Đã nhiều lần, bố mẹ rồi họ hàng, các anh chị em nhắc bà về lại nơi cũ. Họ muốn bà hoà giải với bà Ba. Cũng muốn bà nhận các cậu, các dì do bà Ba sinh ra nhưng bà đều từ chối. Nỗi đau bị đánh đập, bị bán rồi những nỗi sợ mơ hồ khiến bà luôn có lý do để từ chối trở lại nơi này. Cho đến cả khi ông ngoại rồi bà Ba mất bà cũng biện nhiều lý do để không phải trở về. Lâu dần, họ hàng cũng không còn thúc giục khi biết bà không buông bỏ được quá khứ, không quên được 3 năm địa ngục khi sống ở đó. Vậy mà giờ đây, ở tuổi 90 khi trí nhớ bắt đầu lẫn lộn bà lại muốn một lần được trở lại nơi này. Bà còn chủ động dẫn theo cô cháu nội, đứa trẻ gần gũi với bà nhất để cùng trở lại khu vườn xưa. Bà chỉ cho cô cháu gái ngôi nhà đã cũ nát của ông ngoại. Một ngôi nhà 5 gian xập xệ nằm lọt thỏm giữa khu vườn rộng với mái ngói âm dương đã sạt xuống ở một góc chứng tỏ lâu rồi không có người qua lại. Phía ngoài tường, nấm mốc đã kéo lên quá nửa với những mảng rêu vừa xanh vừa xám xen lẫn những đám sần sùi sủi lên từ lớp vôi tường. Xung quanh ngôi nhà, đám cây dại mọc lung tung, phía xa là một hồ nước nhỏ. Giọng bà xa xăm: Cũng tám chục năm rồi, gần một thế kỷ chứ có ít đâu!

    Thấy bà đứng ngẩn ra trước ngôi nhà cũ, cô cháu gái ngây thơ hỏi: 

    – Bà ơi, thế mấy con ma bà kể liệu có còn sống ở đây không ạ?

    Một thoáng rùng mình chạy dọc khắp thân hình già nua. Trên gương mặt đầy nếp nhăn của bà thoáng một vẻ sợ hãi. Bà thì thầm: Bà cháu mình rời khỏi đây thôi! Bà thấy mệt rồi. 

    Bước chân hơi run do tuổi tác, do sợ hãi vẫn cố tỏ ra mạnh mẽ. Bà cố đi thật nhanh trong khi tay vẫn níu chặt lấy cánh tay đứa cháu gái. Cô cháu gái có vẻ như bị sự tò mò lấn át nên dù bị bà kéo đi vẫn nhớn nhác nhìn khắp khu vườn. Một khu vườn bị bỏ hoang với cây cối um tùm, không người chăm sóc. Bóng của hai bà cháu nhỏ dần ra phía ngoài. Cả hai không biết rằng ngay từ khi họ bước chân vào khu vườn đã có những ánh mắt thấp thoáng dõi theo họ. Và khi bà đứng lặng nhìn vào ngôi nhà cũ thì những ánh mắt dường như cũng dần nhận ra bà lão đã gần 90 kia chính là cô bé mà hơn 80 năm trước đã từng sống cùng ông ngoại tại nơi đây. Một con bé bị bứt khỏi gia đình, bố mẹ, anh em, quê quán để theo chân ông ngoại là một thầy thuốc, thầy cúng, thầy phù thuỷ về lại với quê xưa. Trong khi ông ngoại vắng nhà suốt vì đi cúng, đi bốc thuốc, chữa bệnh thì tại khu vườn này chỉ còn lại hai bà cháu. Bà Ba còn rất trẻ và cô cháu ngoại của bà vợ hai. Hai con người không cùng máu mủ nhưng có chung một mối liên hệ gắn bó với ông thầy. Bà Ba còn trẻ, lại hay phiền lòng khi phải sống vắng chồng. Bao khó chịu, bực dọc rồi những uất ức khi bị bà Hai cùng đám con hành hạ khi trước bà đem trút hết vào đứa cháu vô tội. Cứ nhìn nó là bà nhớ lại quãng thời gian bà mới theo ông. Ngày đó bà còn trẻ, lại có nhan sắc. Bà cũng vì ham ông tài, ông giỏi lại kiếm tiền tốt nên mới đi theo. Nhưng cái thói chung chồng khiến bà nếm đủ những đòn ghen khi trực diện, lúc giấu mặt từ bà Hai và đám con của bà. Cũng chính vì những mâu thuẫn liên miên giữa hai bà vợ mà ông quyết chuyển về đây. Bà Ba còn trẻ, lại chưa có con. Ông với bà về quê cũ vừa giúp bà Ba tránh xa đòn thù từ bà Hai lại khiến ông đỡ phải đau đầu khi cứ phải phân xử, phải đứng giữa hai bà vợ. Con bé là thành viên duy nhất của gia đình bà Hai. Vì nó mệnh cao, số sát cha sát mẹ nên con gái và con rể muốn ông mang theo để trừ tai ách. Công việc khiến ông cứ đi suốt. Lúc thì khám bệnh, lúc cúng bái, khi làm lễ cho các gia đình. Khu vườn rộng nên ông trồng nhiều loại cây thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh. Những lúc ông ở nhà, nhiều gia đình cũng hay mang người ốm đến để nhờ ông chữa trị. Một số người khỏi bệnh. Một số khác thì mất ngay tại nhà thầy. Ngoài chữa bệnh, ông còn học được nghề thầy cúng, thầy phù thuỷ. Ông biết, nhiều bệnh nhân mất tại nhà mình đã không muốn rời khỏi khu vườn. Một số đã gia nhập vào đội âm binh mà ông vẫn nuôi giấu. Một số thành những hồn ma vất vưởng.

    Là thầy cao tay, làm việc với cả phần dương lẫn cõi âm nên ông biết khu vườn nhìn bề ngoài chỉ có hai bà cháu nhưng thật ra bên trong có khá nhiều linh hồn cùng trú ngụ. Ngoài đội quân âm binh do ông thu nạp, còn có những bệnh nhân được người nhà đưa đến cho ông chữa trị và đã mất tại đây. Linh hồn họ đã không về lại nhà mà vương vấn mãi với khu vườn. Nhiều người trong số họ đã chứng kiến tất cả. Một người đàn bà trẻ với mối thù hận dai dẳng lại luôn sống vắng chồng. Một con bé bị vứt bỏ vì có số sát cha sát mẹ. Họ đã chứng kiến con bé bị đánh đập, bị ghẻ lạnh, hắt hủi bởi bà trẻ. Vài kẻ trong số đó đã muốn mang con bé theo cùng. Là thầy, ông cũng có biết những việc đó. Nhưng con bé cao số. Nó đã không đi theo những lời rủ rê. Nó đã cầu cứu sự giúp đỡ và rồi nó theo bố đi biệt về tận một làng quê ngoài Bắc. Thoáng chốc đã 80 năm, đã gần một thế kỷ. Những linh hồn ở đây đã ngỡ như quên hẳn hình bóng đó. Nhưng hôm nay, con bé ngày đó đã trở lại. 80 năm đã biến con bé gày gò ngày nào thành một bà lão 90, cái tuổi dường như cũng sắp đi về cùng một cõi với họ. 80 năm biền biệt đến hôm nay mới trở lại. Một cuộc trở lại cũng không có lý do khi cả ông ngoại và bà Ba đều đã mất từ lâu. Bà lão ấy đã đứng đó một lúc rồi rời đi cùng cô cháu gái. Bước chân đi vội như cảm nhận được điều gì đó. Hai bà cháu đi rồi nhưng vẫn có những ánh mắt ẩn nấp đâu đó trong khu vườn dõi theo họ. 80 năm quá dài nhưng lại như quá ngắn với sự trở về này.

  • Đoàn kịch Thuỷ Tiên

    Trung Khúc đang trên đường đến tiệm trà Nguyên Sơ, là một người Hoa xuất thân từ khu Chợ Lớn mọi người sẽ nghĩ rằng đây chỉ là một khu phố buôn bán xầm uất và chỉ đông đúc nhộn nhịp vào những dịp tết âm nguyên tiêu hay những ngày lễ đặc trưng người Hoa ư? Không có đâu, ở đây vẫn có một nhà thờ của người Công giáo và vào những dịp gần giáng sinh như thế này, mọi người vẫn nô nức trang trí nhà thờ lớn nhỏ ở đây. Dù không phải là một người Công giáo nhưng Trung Khúc vẫn thấy rạo rực mong chờ khi thấy mọi người tấp nập đi lại. Hoà vào dòng người hối hả ấy, cậu cũng đang chuận bị cho kế hoạch lưu diễn của đoàn kịch Thuỷ Tiên của mình. Nếu mọi người hỏi cậu có yêu thích kinh kịch không hay chỉ vì gia đình có truyền thống thì chắc sẽ nghiên về vế sau. Trung Khúc là một trong những đứa trẻ lớn lên ở trong đoàn kịch. Dù được lớn lên với những điền tích cổ điển như Bá Vương biệt Cơ , Quý phi say rượu nhưng cậu vẫn chưa từng thật sự yêu thích chiếc mặt nạ mà ông và ba vẫn luôn đeo trên mặt khi ở trong đoàn kịch. Dù mọi người trong đoàn kịch luôn nói rằng tất cả là gia đình nhưng có một quy tắc ngầm trong đoàn kịch đó là không được phát sinh quan hệ yêu đương giữa những thành viên đòan kịch với nhau với lý do để giữ mọi người làm việc năng xuất và hiệu quả hơn.Có vẻ như cậu không thể chấp nhận việc người trong gia đình nhưng mọi người luôn đeo mặt nạ với nhau từ trên sân khấu cho đến sau cánh gà.. nhưng chỉ duy nhất một người không bao giờ đeo chiếc mặt nạ dối lừa ấy đó là Diệu Linh người được xem như là linh hồn của đoàn kịch. Cô có khả năng kéo sự chú ý của tất cả mọi người vào kỹ năng chơi đàn của mình, những khúc nhạc mà cô chơi có thể khơi gợi cảm xúc và làm cho một diễn viên không chuyên cho đến lão luyện có thể theo mạch cảm xúc và hoàn thành vai diễn của mình. Sau những khúc nhạc ấy, cô vẫn là cô một người nghệ sĩ chăm chỉ luyện tập và cực kỳ kĩ lưỡng trong việc đào tạo những thế hệ tiếp theo của mình. Trung Khúc đã bị sốc tinh thần rất nhiều hồi bé khi được đào tạo dưới sự dẫn dắt của Diệu Linh. Thứ giúp Trung Khúc vượt qua những ngày tháng khốc liệt ấy đó là sự xuất hiện của Duật Vân- con gái của Diệu Linh và Thuỵ Vũ-ông chủ tiệm trà Nguyên Sơ. Dù không có ý định đầu quân cho đoàn kịch Thuỷ Tiên nhưng Duật Vân vẫn phải trải qua khoá huấn luyện như tra tấn của Diệu Linh. Khi trải qua tất cả khổ cực cùng nhau, Trung Khúc dần quen thuộc với Duật Vân, cả hai vẫn dành thời gian cho đoàn kịch và lén thưởng thức vở diễn của mọi người phía sau cánh gà.Lâu dần cảm giác quen thuộc ấy dần nảy nở thành một thứ tình cảm đặc biệt mà Trung Khúc không thể nào định nghĩa được nó là gì. Dù đang ở độ tuổi chuẩn bị nhận trọng trách là một thành viên chính thức của đoàn kịch nhưng thứ làm cho Trung Khúc hạnh phúc khi nghĩ đến không phải là đoàn kịch Thuỷ Tiên mà là sự xuất hiện của Duật Vân. Duật Vân không chọn kế nghiệp Diệu Linh mà lại tiếp tục công việc của ba mình, là trà chủ của Nguyên Sơ và chỉ đến phụ giúp đoàn kịch trong những vở diễn lớn vào dịp tết nguyên tiêu.

    Tiệm trà Nguyên Sơ có hai tầng, bên dưới lầu có một vài vị khách đến uống trà , mùi trà và trầm hương quyện vào nhau xua đi cái lạnh của mùa đông bên ngoài. Khung cảnh ồn ã bên ngoài như đứng lại sau cánh cửa lớn. Dù bên trên ồn ào náo nhiệt bàn tán chuẩn bị của gánh hát cũng không ảnh hưởng đến không gian ở đây. Duật Vân đang pha trà và hầu truyện với những vị khách. Khi thấy Trung Khúc đến cô đon đả mời anh thưởng loại trà mới mà ba cô mới làm thử đó là trà Thuỷ Tiên.

    Sau khi thấy được sự hài lòng của Trung Khúc với chén trà Thuỷ Tiên mới này cô bắt đầu hỏi Trung Khúc:

    “ Anh có biết hoa Thuỷ Tiên này cũng có một câu chuyện đi kèm với nó không?” Trung Khúc đang say sưa thưởng trà và mỹ nhân trước mặt bất ngờ với câu hỏi này. Đang lúng túng chưa biết trả lời người đẹp của mình như thế nào thì một ông chú đã hào hứng đáp lại “ Tôi có tìm tòi về ngôn ngữ các loài hoa và biết được câu truyện gắn với thần thoại Hy Lạp của loại hoa này , để tôi kể cho mọi người nghe nhé.” Ông chú với đôi kính dày và tác phong chậm rãi như một nhà nghiên cứu đã cứu nguy cho Trung Khúc. Trung Khúc cũng không ngờ rằng câu chuyện này sẽ làm thay đổi cuộc đời và suy nghĩ của anh mãi về sau này. 

    Narcissus là con trai của Cepphisus, là một chàng trai được cho là có vẻ đẹp khiến cả nam thần và nữ thần đều yêu thích nhưng lại là người có lời tiên tri về cái chết sẽ rất bi thảm nếu như gặp nước và những thứ liên quan đến nước. Sau khi Cepphisus biết được lời tiên tri này lại càng thêm bảo vệ đứa con này của mình. Dưới sự bảo vệ của Cepphisus, Narcissus có một cuộc sống an phận và chưa từng kết giao với một người bạn hay đi ra ngoài phạm vi quan sát của Cepphisus. Echo là một vị thần nhỏ không có được giọng nói của chính mình mà chỉ có thể lặp lại lời của người hay vật khác. Một lần vô tình gặp được Narcissus đã bị trúng tiếng sét ái tình và lén đi theo chàng. Do không thể tự nói lên tiếng nói của lòng mình nên nàng Echo đã không thể tự tin đến và bày tỏ tình cảm của mình và bị Narcissus phớt lờ không quan tâm nàng đã tự tan biến. Không biết đến việc đã làm tổn thương Echo Narcissus tiếp tục chuyến đi săn của mình và vô tình gặp một hồ nước ở trong rừng sâu. Đây là lần đầu tiên cậu thấy được hình ảnh phản chiếu của mình dưới mặt nước và cậu đã phải lòng chính hình ảnh của mình. Nỗi đau của Narcissus bắt đầu khi không thể chạm vào hình ảnh phản chiếu của mình, không thể thổ lộ tình cảm của mình với người mình yêu, Narcisuss tuyệt vọng không còn thiết tha cuộc sống nữa và đã tìm đến cái chết. Nơi mà xác Narcisuss nằm lại bắt đầu mọc lên những bông hoa đủ màu sắc và sặc sỡ mọi sinh linh và thần linh đều tiếc thương cho chàng trai Narcissus và gọi loài hoa đó là Narcisuss nghĩa là hoa Thuỷ Tiên.

    Khi mọi người còn đang đắm chìm trong câu chuyện của nhà nghiên cứu, Duật Vân đã nói với mọi người rằng đoàn kịch mà Diệu Linh đang làm việc trước đây tên là Lăng Gia , sau khi rời khỏi đoàn để lập gia đình thì Lăng Vân đã tìm đến và mong muốn mẹ cô quay lại. Dù suy nghĩ đắn đo rất nhiều nhưng mẹ cô vẫn quyết định quay lại và đổi tên đoàn kịch thành đoàn kịch Thuỷ Tiên. Với mẹ cô, hạnh phúc là được nhìn thấy hình ảnh bản thân trong những ánh mắt cổ vũ của khán giả . Hoa Thuỷ Tiên còn có ý nghĩa là một sự khởi đầu mới, Diệu Linh hy vọng lần khởi đầu mới này sẽ kéo đoàn kịch ra khỏi khó khăn trước đó. 

    Sau khi thành công gợi sự tò mò cho vị học giả và những vị khách còn lại về đoàn kịch Thuỷ Tiên, Duật Vân đã ngỏ lời mời mọi người đến xem biểu diễn của cô và đoàn kịch vào dịp vía bà năm tới tại rạp hát. Sau khi tiếp đãi những vị khách đặc biệt của ngày hôm nay xong, Duật Vân trao lại công việc dọn dẹp và coi tiệm trà lại cho bạn trà nô và cùng Trung Khúc lên tầng họp mặt.

  • Chương 15

    Vừa nói xong, tất cả chưa kịp nhúc nhích thì “ầm” một tiếng. Lựu đạn nổ. Tất cả bị sức ép từ vụ nổ làm cho ngã văng xuống nền. Tất cả tối đen không thấy được gì, tiếng kêu la khắp nơi. Diệu Bình bị một tên lính đè lên người, thì ngay lúc đó cánh cửa bị mở bung ra. Có ánh sáng bên ngoài chiếu vào, chói không thấy được gì cả, chỉ lờ mờ có mấy bóng người. Rồi tiếng người bên ngoài nói vào: – Vô hiệu hóa mấy thằng lính đi anh em! Mở buồng giam cứu luôn những người bị giam!

    Mấy bóng người vụt chạy vào trong. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, Diệu Bình lờ mờ thấy họ trói hết đám lính lại.

    – Là ai vậy? – Diệu Bình nheo mắt vào nhưng vẫn không thể nhìn ra ai vì vẫn còn thấy choáng vì áp lực vụ nổ. Thì lại nghe bên cạnh có tiếng nói, giọng đàn ông miền Trung!

    – À anh bạn, anh bị bắt vào đây rồi hả, vậy đi luôn với chúng tôi!

    Ánh đèn không còn chiếu vào mặt nữa mà chiếu vào phía sau lưng Diệu Bình, lúc này cô mới thấy hết được xung quanh. Mấy tên lính nằm im dưới đất, kẻ thì bị giết bởi quả lựu đạn, kẻ thì bị mấy người kia xông vào trói gô lại lúc chưa kịp định thần. Chỉ nằm bất động không cựa quậy gì, lão Bằng thì nằm thu lu một góc nhưng tay đưa lên che đầu, mồm lảm nhảm cái gì đấy. Tay Đốc lý với ba người mặc áo đen kia cũng đang quỳ khom lưng xuống đất.Tấn ú ớ nói:

    -Cứu với! cho bọn tôi ra ngoài!

    Một người đàn ông đang đỡ Tấn ngồi dậy. Tấn đứng gần đám lính nhất nên có vẻ hơi choáng.

    – Nhận ra tôi chứ anh bạn, là tôi lúc ở chợ đây mà!

    Tấn ú ớ trả lời: – Là anh ăn xin đấy hả?

    – Phải rồi, là tôi đây, đi thôi anh bạn, ra khỏi đây rồi nói chuyện tiếp. Chúng tôi nợ ơn anh nhiều lắm đấy!

    Nói rồi đỡ Tấn dậy. Anh chàng vẫn có vẻ hơi choáng, nhưng đã có thể đi lại được.

    – Nhưng các anh là ai, sao lại vào đây cứu chúng tôi? – Tấn lờ đờ hỏi.

    Người kia trả lời: – Không phải chỉ có mình anh đâu, bạn bè chúng tôi trong đây nhiều lắm, chúng tôi là quân khởi nghĩa.

    Nghe mấy tiếng quân khởi nghĩa mà tất cả như trút được một nỗi lo lớn lắm. Diệu Bình hổn hết nói:

    -Cứu em gái tôi nữa! Cả anh Dương nữa! Ở buồng giam bên cạnh!

    -Còn những người này thì sao? Người đó chỉ về phía tay Đốc lý và ba người áo đen. Thì bỗng “Bùm!” Một tiếng nổ nữa làm mọi người đều bất ngờ , không kịp phản ứng. Nhưng lần này không phải lựu đạn. Cả phòng toàn khói. Một quả pháo khói vừa nổ. Mọi người chạy ùa ra hành lang, rồi chạy ra cửa, ra hẳn khỏi cái nhà giam. Khói vẫn theo các ô cửa sổ thoát ra ngoài. Ở ngoài này hóa ra cũng không phải yên ả gì. Lửa bắt đầu cháy xung quanh, kèm theo những tiếng đạn từ chỗ khác vọng lại.

    -Kiểm tra lại quân số! Bom khói ở đâu ra vậy? Người vừa nói chuyện với Tấn tay vẫn đang phe phẩy đẩy khói ra khỏi mặt mình quát lớn. Diệu Bình chạy ra ngay sau người này. Nhưng không thấy Tấn đâu. Đang định chạy lại phòng giam thì Tấn, Út Hương, anh Dương chạy ra. Tấn còn cầm cả thanh kiếm cùng viên ngọc ra nữa. Diệu Bình ôm lấy Út Hương hỏi:

    -Em có sao không? Bọn nó làm gì em không?

    Út Hương lắc đầu, thút thít.vậy là ổn. Anh Dương có vẻ cũng không sao. Tấn lấy một cái áo rách gần đó cuốn lại thanh kiếm, rồi đưa cho Diệu Bình,mồm vừa nói vừa nhả ra khói:

    -Của cô phải không!

    Diệu Bình thấy hơi xấu hổ. Tự nhiên cô quên luôn hai người này. Chỉ lo chạy ra ngoài. May có Tấn. Mặt cô đỏ ửng lên:

    -Cảm ơn anh

    Một người chạy sau Tấn ra hô to:

    -Báo cáo anh Kỳ!Tôi đã tiêu diệt thằng Chỉ và hai thằng lính. Còn gã Đốc lý và mấy người mặc áo đen thì không thấy đâu!

    Anh Kỳ đó đảo mắt nhìn nhanh xung quanh rồi nói:

    -Tốt, chúng ta rút thôi! Bom khói chắc bọn áo đen đó ném để chạy rồi. Ta không cần đuổi theo nữa!

    Mọi chuyện diễn ra quá nhanh, quả thật không còn có thời giờ cho Diệu Bình suy nghĩ điều gì. Từ lúc ở buồng giam, ra đến ngoài này.

    – Giờ làm thế nào nữa? – Diệu Bình buột miệng hỏi.

    – Tôi sẽ đưa mọi người ra khỏi đây. Sau đó tùy sắp xếp… – Anh chàng giọng miền Trung trả lời nhanh.

    – Anh sắp tôi đi đâu cũng được nhưng mà cho tôi ra khỏi đây đã, suýt chết đây này! – Tấn lắc đầu giọng thều thào vẻ khổ sở lắm. Mọi người bật cười. Anh chàng kia nói: – Được rồi. Mọi người theo tôi!

    Xung quanh lửa đang cháy ngày càng to, chiếu sáng khắp cả cái khoảnh sân trước buồng giam. Trại giam này bố trí từng dãy nhà dọc nằm song song với nhau, xung quanh có tường cao với dây thép gai. Có bốn cái chòi canh ở bốn góc, trên đó có đèn pha rất sáng chiếu qua chiếu lại, nhưng giờ thì có vẻ đã bị những người này kiểm soát hết rồi. Có mấy xác lính ở góc tường. Đám bọn họ chạy ra ngoài rồi ngoặt ra bên phải, chạy đến bờ tường bao, có một lỗ thủng to trên tường, có mấy người cũng mặc áo dân tộc cầm súng đứng đấy canh. Thấy đám bọn họ chạy tới, một người nói: – Anh Kỳ, cứu mọi người ra hết chưa?

    Người vừa nãy trả lời gấp: – Xong hết rồi. Nhóm của Bát với nhóm Cơ đến chưa?

    – Anh Cơ qua rồi, cứu được hơn chục người. Anh Bát chưa thấy. Các anh đi luôn đi, đằng sau trời tối cẩn thận ngã đấy!

    – Vậy chúng tôi đi trước. Các anh em đi sau nhé, nhớ cẩn thận đấy!

    Nói rồi anh Kỳ đó dẫn toán người chạy qua cái lỗ ở bức tường, ra phía sau của cái trại giam. Đằng sau tối thui, anh nói: – Mọi người cẩn thận, đi sát vào, vách núi sâu lắm đấy!

    Từng người một trèo ra ngoài rồi đi men theo bờ tường. Phía bên này, hóa ra là một cái vực sâu, trời tối nữa nên không nhìn thấy đáy. Chỉ thấy gió rít khá mạnh.

    – Giờ ta đi đâu… – Diệu Bình chưa kịp nói hết câu thì bị giật ngược lại sau. Tấn kịp đỡ Diệu Bình. Là lão Bằng. Lão ta giật thanh kiếm sau lưng Diệu Bình rồi đẩy ngã Út Hương, dí chặt một con dao găm vào cổ con bé. Mọi người mải chạy trốn mà quên mất lão già cũng lần theo họ.

    – Chúng mày tránh ra! Để tao đi thì con bé này được sống!

    Nói rồi lôi Út Hương trở lại phía trại giam. Con bé kêu lên: – Chị Diệu Bình ơi cứu em!

    Tấn gào lên: – Thả Út Hương ra ngay!

    – Thả cái con mẹ mày ấy à! Mày lại gần tao giết nó đấy!

    – Thả Út Hương ra, ngươi có nghe lời ta không? – Diệu Bình gào lên.

    Lão Bằng cười sằng sặc trả lời: – Nghe lời của cô hả? Xin lỗi nhé công chúa. Ta là người của đức vua thôi, sao ta phải nghe lời của cô chứ!

    – Câm mồm lại, ngươi đã nói là sẽ giúp ta thực hiện sứ mệnh của nhà vua cơ mà!

    – Hahaha, sứ mệnh ư? Sứ mệnh chết dẫm của cô ta cóc cần biết nữa. Bảo kiếm này là của đức vua. Cô mang đi lung tung thì ta phải có trách nhiệm thu hồi lại cho đức vua!

    – Nhưng đó chính là lệnh của đức vua!

    – Cô im đi, ta cóc cần biết! Đã là bảo vật của vua thì phải ở trong cung vua, sao lại có thể mang đi lung tung được. Ta đã chờ đợi giây phút này lâu lắm rồi. Ta mang bảo kiếm về cho đức vua, ngài sẽ trọng vọng, tưởng thưởng cho ta, chính ta đây. Ha ha ha.

    – Lão điên rồi! Trả lại cho ta ngay, không ta giết lão đấy!

    – Cô giết ta? Có giỏi thì giết ta đi, xem con bé này ra sao?

    Nói rồi lão Bằng xiết mạnh thêm lưỡi dao vào cổ Út Hương, có chút máu đã rỉ ra. Út Hương kêu lên đau đớn. Lão Bằng lại quát lên: – Chúng mày cút ra, tránh đường cho tao! Cút hết ra!

    Rồi lão lôi Út Hương đi theo, men theo bờ tường về gần cái lỗ vừa nãy. Không ai dám đến gần lão, đều phải tránh cho lão đi. Đến cái lỗ lão cười ranh mãnh một cái rồi đẩy Út Hương ngã lăn xuống đất, rồi chạy biến đi trong ánh sáng lập lòe tranh tối tranh sáng, trở lại khu trại giam. Diệu Bình chạy lại tới chỗ Út Hương đỡ cô bé dậy hỏi: – Em có sao không?

    – Hu hu, em không sao, hơi rát cổ thôi ạ!

    Phải lấy lại bảo kiếm, bằng mọi giá phải lấy lại nó!

    Diệu Bình nói với Út Hương: – Em ở đây chị quay lại lấy bảo kiếm!

    Nói rồi liền đứng dậy toan lao qua cái lỗ, thì có cánh tay kéo cô lại, là Tấn. Anh rắn rỏi nói: – Tôi đi với cô!

    Diệu Bình cảm thấy biết ơn lắm, muốn nói thành lời nhưng giờ không phải lúc. Cô chỉ gật đầu. Anh tên Kỳ nói to: – Làm gì thì làm nhanh lên, lính tiếp viện sắp đến rồi đấy. Xong việc cứ đi thẳng hướng tây, chúng tôi ở đó!

    Nói rồi vứt cho Tấn một con dao găm. Tấn gật đầu rồi hai người lao qua cái lỗ trở lại trại giam.