Author: editor editor

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG V: BUÔNG BỎ THÙ HẬN

    CHƯƠNG V: BUÔNG BỎ THÙ HẬN

    Hai chị em con ma nhỏ vẫn ngồi vắt vẻo trên đầu đao cong cong của mái đình xây thêm. Đình này nghe nói nhà chùa đã cho xây thêm trên khoảng đất trống bên hông chùa. Vừa có thêm điểm để thờ cúng, lễ bái vừa giúp chùa đỡ trống trải. Vì xây sau nên đình trông khá mới dù tốp thợ đã sử dụng mầu ngói, mầu sơn thật trầm cho ăn nhập phần nào với ngôi chùa đã xây từ lâu. Từ chỗ ngồi này, chúng dễ dàng đọc được các bức tranh được treo bên bức tường đầu hồi của nhà chùa. Những bài học răn dạy, những hình phạt dành cho kẻ phạm lỗi làm chúng có chút chờn chợn. Vốn chữ tuy ít ỏi nhưng cũng đủ cho chúng đọc hiểu nội dung các bức tranh. Đang đánh vần từng từ thì một bà ma già gọi chúng:

    – Ngồi vắt vẻo thế làm gì. Xuống đây với bà nào!

    Hai chị em chúng nhẩy xuống. Bà ma già kéo chúng ngồi xuống bên thềm rồi bảo:

    – Bà thấy hai chị em chúng mày hay dừng lại nơi mấy bức tranh. Chúng mày có hiểu nội dung không?

    – Bọn cháu đánh vần từng từ thì cũng hiểu nhưng hơi lâu bà ạ – Con ma chị thật thà.

    Bà ma già cười xoà:

    – Ừ, cứ từ từ mà tìm hiểu. Cái chúng ta có bây giờ chả có gì ngoài thời gian cả.

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Bà ơi, bà ở đây lâu chưa? Sao bà không ở nhà mà lại ở đây?

    Bà ma già lặng đi: 

    – Ta cũng muốn ở nhà nhưng con cháu nó thích mang ta lên chùa. Những ngày đầu ta buồn lắm. Ta nhớ nhà, nhớ con cháu. Nhưng bây giờ thì ta quen rồi. Chỉ thi thoảng ngày giỗ, ngày lễ chúng lên mời thì ta mới về thôi. 

    – Thế là họ không thích cho bà ở nhà ạ? Con ma em tò mò.

    Bà ma già cười hiền: 

    – Không phải là chúng không thích mà chúng không nghĩ sâu xa thôi. Chúng thấy mọi người đưa cha mẹ ông bà đã mất lên chùa thì chúng làm theo. Chúng không biết rằng mỗi người mỗi sở thích khác nhau. Ta thích ở cùng người thân hơn là lên chùa nhưng chúng sợ không làm thế thì thiên hạ lại chê cười nên chúng cứ làm theo số đông.

    – Thế nghĩa là họ đưa bà lên đây là vì họ chứ không phải vì bà đúng không ạ? Con ma chị dò hỏi.

    – Đúng vậy! Bà ma già xác nhận.

    – Thế sao bà không nói với họ là bà không thích lên chùa ạ? Con ma em ngập ngừng.

    Bà ma già thở dài: 

    – Ta có nói với chúng vài lần khi còn đang bệnh nặng. Ta nói khi khoẻ mẹ hay thích ra công viên, thích nhẩy múa, đàn hát với bạn bè. Mẹ thích không khí vui tươi, náo nhiệt. Mẹ không thích sự vắng vẻ, cô tịch của nhà chùa. Sau này mẹ mất thì đừng đưa mẹ lên chùa, cứ để mẹ ở nhà thôi.

    – Thế nhưng họ không nghe và vẫn đưa bà lên chùa ạ? Con ma em lại hỏi.

    Bà ma già cười buồn: 

    – Ta nghĩ chắc chúng chả nhớ những gì ta đã nói. Chúng cứ nghĩ đưa ta lên chùa như mọi người là báo hiếu, là tốt cho ta. 

    – Thế bà có ghét bọn họ vì đã làm trái ý của bà không? Con ma chị lại hỏi.

    Bà ma già cười buồn: 

    – Lúc đầu thì ta có giận, có trách chúng vô tâm, chúng làm trái lời ta. Nhưng sau ở đây lâu, nghe kinh nhiều ta cũng tha thứ cho chúng. Có thể chúng đã quá mệt mỏi khi phải chăm sóc một người mẹ ốm đau lâu năm như ta. Có thể chúng cũng muốn giải thoát cho chính chúng.

    Con ma chị giật mình. Giải thoát ư? Nó tưởng chỉ có đám âm binh và những hồn ma bị nhốt trong khu vườn mới cần giải thoát. Sao bà ấy lại nói các con mình muốn giải thoát. Ngẫm nghĩ một hồi, nó dò hỏi:

    – Bà ơi, sao bà lại nói các con đưa bà lên đây là vì họ muốn giải thoát ạ?

    Bà ma già bâng quơ: 

    – Các cháu còn bé quá chưa hiểu biết nhiều đâu. Dù là ông bà, cha mẹ hay vợ chồng khi mà ốm đau lâu quá thì người chăm cũng đều mệt mỏi. Mình chết khi đó không chỉ là giải thoát cho mình mà là giải thoát cả cho người chăm mình nữa. Chả có ai muốn chăm người ốm lâu trừ khi đó là cha mẹ chăm con. Các cụ ngày xưa nói cấm có sai mà. Nước mắt chảy xuôi. Chỉ có cha mẹ là yêu thương con vô bờ bến, vô điều kiện mà thôi. 

    Con ma chị giãy nảy:

    – Không phải đâu bà ạ. Chúng cháu cũng là trẻ con nhưng ngay cả khi còn sống lẫn khi đã mất bố mẹ cũng có yêu chúng cháu đâu.

    Bà ma già trầm ngâm:

    – Vậy là các cháu thuộc số ít trẻ con không may mắn rồi. Ta đã sống trên đời gần bảy chục năm. Ta đã chứng kiến nhiều bố mẹ bỏ công, bỏ việc bán nhà, bán cửa để chăm sóc, chạy chữa cho con. Nhưng ta ít thấy đứa con nào chịu bán nhà để cứu cha cứu mẹ khi bệnh nặng cả. Chúng cứ nghĩ đó là số giời, là thuận tự nhiên. Nhưng khi con chúng bị bệnh thì chúng lại luôn muốn cãi lại mệnh số, cãi lại mệnh trời để giữ mãi các con bên mình.

    Hai chị em con ma nhỏ lặng thinh. Những gì bà ma già nói quá lạ lẫm đối với chúng. Bà ý nói trẻ con được yêu thương, được ưu tiên hơn hết thảy. Nhưng hai chị em chúng đã thấy điều ngược lại. Chúng đã bị thờ ơ, bị ghẻ lạnh ngay trong chính căn nhà của mình. Con ma chị nhìn bà ma già rồi ngập ngừng:

    – Vậy bà có hận các con của bà không?

    Bà ma già lắc đầu:

    – Không, ta từng khó chịu nhưng ta không hận chúng. Chúng đối với ta cũng không xấu hơn con nhà người khác đối với cha mẹ. Chúng cũng chăm sóc ta khi ta bệnh nặng. Chỉ có điều trong cán cân tình cảm thì ta mãi không thể quan trọng hơn con của chúng mà thôi.

    – Sao bà không nói điều làm bà khó chịu với các con của bà? Con ma em ngập ngừng.

    Bà ma già cười buồn:

    – Nói thì giải quyết được gì chứ? Ai cũng sống như vậy mà. Ngay cả ta cũng yêu thương con của ta hơn bố mẹ ta đấy thôi. Tình yêu với con cái là bản năng không ai phải dạy. Ngay đến các con vật vô tri cũng yêu thương và bảo vệ con mình. Nhưng tình yêu với cha mẹ thì lại cần đến lý trí, cần đến trách nhiệm mới có thể chu toàn được. Ta thấy có người nói tình yêu cha mẹ đối với con cái là thiên tính tức bẩm sinh ra đã vậy, không phải cưỡng cầu, không phải cố gắng. Còn tình yêu của con cái đối với cha mẹ thì là lý tính tức cần đến trí tuệ, nhận thức và cả sự cố gắng, trách nhiệm mới có thể chu toàn. 

    Thấy hai chị em con ma bé ngẩn ngơ nhìn mình, bà cười xoà: 

    – Hai chị em cháu còn bé quá chưa hiểu được cái đạo lý ấy đâu. Đến như ta, phải sau vài năm ốm bệnh thì mới ngộ ra nhiều chuyện. Ngộ ra để hiểu thôi chứ cũng không hờn trách, oán hận gì. Nó là nợ đồng lần cả thôi mà. 

    Một đám các bà áo váy loè loẹt ùa vào chùa. Họ mang theo nào hoa, nào quả cả những gói bánh kẹo nhiều mầu sắc. Bà ma già nhận ra người quen liền vội vã chạy lại. Bà ý cứ lượn lờ quanh mấy bà bạn vẻ vui mừng rạng rỡ. Con ma chị trầm ngâm. Nó cứ nghĩ chỉ có chị em nó bất hạnh. Nhưng xem ra nhiều người cũng có những nỗi buồn riêng. Ngay cả bà ma già thường ngày trông thanh thản, nhẹ nhàng là thế mà cũng có những điều không vừa ý. Nhiều điều bà ấy nói chị em chúng không hiểu. Sao lại không ghét, không hận những người đã làm mình giận, mình buồn chứ? Chúng phải hỏi kỹ lại bà ma già chuyện này mới được. Nhưng giờ bà ý đang vui vẻ, đang xoắn xuýt bên mấy bà có tuổi lại ăn mặc loè loẹt. Bà ý cứ lượn quanh người này, ngó mặt người khác với vẻ vui mừng, rạng rỡ nhưng nào có ai nhìn thấy bà ấy đâu. Bà ấy chỉ là cái bóng mờ không thể chạm cũng không thể thấy dù đã cố chen, cố đứng sát vào các bà bạn. Giữa họ giờ đã là hai cảnh giới, là âm dương cách biệt. Không phải ai, không phải người nào cũng có thể cảm nhận, dù là mơ hồ cái ranh giới ấy.

    Con ma bé giật tay con ma chị và đánh ánh mắt về phía cổng chùa. Bà già ấy lại đang chậm rãi bước qua cánh cửa phụ. Thường mọi người hay đi cái cửa này dù vào những dịp mùng một, ngày rằm hay khi đông khách nhà chùa vẫn mở cả hai cánh cổng chính. Nhưng hôm nay bà ấy có vẻ lạ lắm. Không còn nét bình thản như thường thấy. Bà ấy cứ đi loanh quanh rồi lại nhìn quanh nhìn quẩn. Hết ngó lên ngọn cây cao lại nhìn chăm chăm vào các phù điêu, các bức tượng quanh chùa. Có vẻ như bà ấy đang muốn tìm kiếm ai đó. Chắc là tìm chị em chúng. Hôm trước bà ấy đã đánh tiếng bảo chúng đừng làm hại con bé cháu. Chắc bà ấy cũng đã đoán ra rồi. Những người như bà ấy luôn rất nhạy khi cảm nhận các luồng âm khí. Hai chị em chúng cũng muốn nghe xem bà ấy muốn gì.

    Cả hai chị em chúng từ từ tiến lại. Chúng đến trước mặt rồi lại gần bà ấy. Chúng cảm nhận bà ấy thoáng rùng mình. Chắc luồng âm khí từ chị em chúng đã khiến bà ấy thấy lạnh. Bà ấy chọn một chiếc ghế đá khuất sau cái cây to rồi từ từ ngồi xuống. Trong chùa có khá nhiều những chiếc ghế như vậy. Chúng là của các doanh nghiệp, các cửa hàng lớn đem cung tiến vào chùa. Hai chị em chúng cùng ngồi xuống hai bên cạnh bà. Chúng cũng muốn nghe xem bà ấy muốn gì?

    – Vậy là hai chị em ngươi đang ở trong ngôi chùa này – Bà ấy nhỏ giọng. Ta cũng đã lờ mờ đoán ra khi gần đây luôn cảm nhận được cái cảm giác của ngày xưa ấy. Cái cảm giác sống lẫn với người âm trong từng khoảnh khắc khi ta còn bé, khi ở trong khu vườn của ông ngoại. Ta không bao giờ quên được cảm giác ấy. Tám mươi năm qua, ta ngỡ đã quên đi tất cả. Nhưng thật ra, không có gì bị lãng quên cả. Ngay khi cái cảm giác ấy trở về, ta đã cảm nhận được. 

    Bà ấy dừng một chút rồi tiếp tục:

    – Tại sao chị em ngươi không nghe lời sư thầy, không tỉnh ngộ mà theo Phật, nghe kinh để giải thoát. Tại sao chị em ngươi lại bám theo hai bà cháu ta về đến tận đây? Ở đây quá xa với quê nhà của các ngươi. Đây cũng là chốn phồn hoa đô hội rất khó để tĩnh tâm, tu tập hay giác ngộ, giải thoát. Ta không biết giữa ta và các ngươi có mối liên hệ hay có ân oán gì? Nhưng ta biết ta chưa từng có lỗi với các ngươi. Con bé cháu của ta cũng vậy. Nếu chỉ vì bà cháu ta đã có một cuộc sống khác với chị em ngươi thì đó cũng không phải lỗi của chúng ta. Ai cũng có một số phận. Ai cũng cần chọn lựa, phấn đấu để đạt tới những gì mình mong muốn. Cả đời ta đã không ngừng cố gắng. Cả đời ta đã chăm chỉ làm lụng, chắt bóp từng chút một. Ta từng giận bố giận mẹ khi đem ta cho ông ngoại và bà Ba nuôi khiến ta chịu bao khốn khổ trong 3 năm thơ bé ấy. Nhưng ta đã tha thứ cho họ khi hiểu rằng họ đã quá sợ, quá tin vào lời phán của các ông thầy. Các ngươi cũng hãy buông bỏ thù hận với cha mẹ, với người thân đi. Ta nghĩ cha mẹ, ông bà và người thân của hai chị em ngươi cũng phải trả giá rồi. Cái giá họ phải trả chính là không có được tình cảm yêu mến, gắn bó, sự tôn trọng từ hai chị em ngươi. Đối với bậc làm cha mẹ, không có gì đau xót hơn khi bị chính con cái mình căm ghét, oán hận. Cha mẹ các ngươi chắc cũng đã mất từ lâu rồi. Những ân ân oán oán, những thù thù hận hận rồi bùa phép trấn yếm có lẽ đã khiến cho các ngươi không gặp được cha mẹ, gặp được người thân của mình ở thế giới bên kia. Giờ ta chắc chị em ngươi cũng không nhớ nổi đường về nhà. Đã gần một thế kỷ trôi qua rồi. Bao làng mạc, tỉnh thành đã đổi khác vì bom đạn cày phá, vì sát nhập hay thay đổi. Ngay cả đến tên đường, tên xóm, tên làng ngày xưa chắc gì đã còn giữ được. Chị em các ngươi lại chưa từng đi xa. Làm sao còn biết lối, còn nhớ được địa chỉ mà quay về. Mà nếu quay về được thì quê nhà các ngươi liệu có còn người thân nào còn ở đó hay không? Gần một thế kỷ trôi qua rồi. Bãi bể, nương dâu cũng biến cải hết rồi. Hãy buông bỏ kiếp đời ngắn ngủi ấy đi. Hãy bắt đầu lại. Hãy tu tập để giải thoát, chuyển kiếp, siêu sinh. Chắc chị em các ngươi cũng không muốn vạ vật mãi ở nơi này. Cứ mãi phải nghe, phải chứng kiến những tham luyến, sân si của người khác. Chị em các ngươi hãy nương nhờ Phật pháp, nương theo chỉ dẫn của các linh hồn tốt mà giác ngộ, tu tập. Chị em ngươi phải tự cố gắng thôi. Phải tự cứu lấy mình. Các người đừng so bì, đừng oán hận khi thấy người khác vui vẻ, hạnh phúc hơn mình. Sự oán hận đó sẽ chỉ làm khổ các ngươi. Nỗi oán hận cũng sẽ nhấn chìm để các ngươi mãi vùng vẫy trong biển khổ mà không sao thoát ra được. Hãy lắng nghe, hãy mở lòng mình ra. Các ngươi sẽ thấy có rất nhiều lựa chọn. Ta chỉ nói đến đây thôi. Ngày còn rộng, tháng còn dài chị em các ngươi cứ từ từ mà suy ngẫm. 

    Bà ấy thở ra một hơi dài sau khi trút xong những lời gan ruột ấy. Dường như việc nói dài, nói một hơi đã làm bà ấy mệt. Chị em chúng ngồi lặng. Chúng không biết phải nghĩ gì? Những lời bà ấy nói có cái chúng hiểu có cái không. Nhưng chúng biết bà ấy đã nói thật lòng, đã trút gan ruột của mình ra với chị em chúng. Cả ba cùng ngồi lặng nhìn ra khoảng sân chùa. Cái tĩnh mịch, yên ả, thưa vắng của buổi chiều khiến cho lòng dịu xuống. Lần đầu tiên, chị em chúng thấy không còn ganh ghét, không còn thù hận đối với bà ấy. Dù không hiểu hết những gì bà ấy nói nhưng chúng mơ hồ nhận ra một mối liên hệ. Dường như giữa chúng và bà ấy có một mối duyên, dù không biết là duyên thuận hay duyên nghịch. Những ngày ở chùa, khi buồn chúng vẫn hay nghe những bài kinh bài kệ được nhà chùa bật suốt từ sáng tới tối. Chưa kể nhiều buổi lễ, khoá tu ở chùa chúng cũng nghe được kha khá. Chúng hiểu mọi người, mọi vật có gặp mặt, có liên hệ đều là nhân duyên. Nếu nhân duyên tốt sẽ khiến mọi người cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Nhân duyên xấu thì chỉ mang lại khổ đau, oán hận. Nhưng dù nhân duyên tốt hay xấu thì luôn có sự chuyển hoá. Có nhân duyên tốt nhưng không được vun trồng, tưới tắm lâu dần biến thành nhân duyên xấu. Ngược lại, có những nhân duyên xấu nhờ lắng lại, bình tĩnh, hoá giải mà dần trở lên tốt. Không biết mối nhân duyên của hai chị em chúng với bà ấy là tốt hay xấu. Nhưng lần đầu tiên nghe bà ấy nói chúng không còn thấy khó chịu. Chúng thấy mình có thể thấu cảm, có thể gần gũi với người đàn bà đã đi gần hết cuộc đời này.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG IV: MẤT PHẠM GIỜ XẤU

    CHƯƠNG IV: MẤT PHẠM GIỜ XẤU

    Bà nằm mãi mà vẫn không ngủ nổi. Kể từ sau cái đêm lập đàn lễ ấy, câu chuyện về các hồn ma, về một thế giới khác tồn tại song song với thế giới người sống ngày càng nhận được sự đồng tình của các con, các cháu và những bạn bè, hàng xóm của bà. Nhiều người đã kể lại những trải nghiệm mà họ từng có. Những câu chuyện đó càng làm cho niềm tin về một thế giới tâm linh, thế giới của những người đã mất thêm vững chắc. Cô con dâu út của bà đã kể cho mọi người nghe một câu chuyện mà chỉ những người chứng kiến mới dám tin. Đó là vào một buổi tối mùa hè khi con bé vẫn đang là sinh viên và thuê trọ cùng mấy đứa bạn. Buổi tối đó cả dãy nhà trọ bị cúp điện. Vì nóng nên cả mấy đứa đều chưa ngủ, vừa quạt tay vừa tán chuyện gẫu. Đang nằm ngồi ngả ngốn bỗng một đứa hét to:

    – Ai đấy? Sao lại vào đây? 

    Cả đám nhốn nháo sau tiếng hét. Con bé vừa hét mếu máo, giọng đã lạc đi vì sợ:

    – Tao vừa thấy một cái bóng bước thẳng lên giường của bọn mình. Nó còn chen vào giữa tao với con Hạnh. 

    Một đứa khác đồng tình:

    – Tao cũng nhìn thấy cái bóng đó. 

    Cả bọn hú hét rồi tháo chạy toán loạn ra khỏi phòng. Tiếng hét làm mấy phòng trọ bên cạnh cũng ùa ra. Khi nghe mấy cô gái kể lại câu chuyện, các phòng khác cũng nhao nhao khi có người nói đã nhìn thấy một cái bóng lướt qua khu vệ sinh vào lúc sáng sớm. Người thì nói đã nhìn thấy một cô gái với mái tóc dài ngồi trên bể nước khi đi kèm gia sư về muộn. Ngay cái ao đầu đường dẫn vào khu trọ cũng nghe nói có nhiều ma quỷ trú ngụ. Có người quả quyết đã gặp ma khi đi làm về muộn ngang qua cái ao đó. Họ kể đang đi thì bất chợt nghe tiếng rào… rào… như có ai đó hất cả một chậu nước ra hồ. Nhưng khi ngoảnh lại thì xung quanh lại chả có ai. Hay như có một tối, khách đến chơi nhà một ông bên cạnh hồ. Khi ra về, thay vì đi đường cái người khách lại lững thững bước thẳng xuống mặt hồ. May mà chủ nhà theo ra nhìn thấy mới hô hoán và chạy xuống kéo lên. Những câu chuyện hư hư thực thực khiến tối đó, cả mấy cô đều không dám về phòng. Chỉ đến khi có điện trở lại cả đám mới dám dẫn nhau về. 

    Cô con dâu cả thì kể cho mọi người nghe một chuyện còn kinh sợ hơn. Ngày đó cô chưa lấy chồng và còn làm ở nhà máy may. Có một lần cả nhóm đi thăm một người bạn làm cùng đang nằm viện. Cô kể người bạn ấy bị sốc khi trước đó nhiều đêm đang ngủ thì có những người đến rủ đi cùng. Khi cô ấy từ chối vì còn phải đi làm gửi tiền về cho chồng nuôi con thì bị doạ: 

    – Nếu mày không đi thì bọn tao sẽ về bắt chồng và bắt con mày. 

    Cô ấy vốn mạnh mẽ nên chỉ coi những giấc mơ ấy là chuyện mộng mị không đáng tin. Nhưng một ngày đang giờ làm thì cô ấy nhận được điện báo cả chồng và con đã mất đêm qua. Lý do hai bố con mất đến giờ vẫn là một ẩn số. Họ hàng, làng xóm đều nói buổi tối cả hai bố con vẫn sinh hoạt bình thường. Nhưng sáng hôm sau đã qua giờ đi học của thằng bé mà vẫn không thấy hai bố con mở cửa nên mọi người sinh nghi. Khi phá cửa xông vào thì cả hai bố con đều đã chết. Người cũng cứng nên mọi người đoán cả hai đã mất từ đêm. Xung quanh nhà, các cửa không có dấu hiệu bị trộm, bị cướp nên nhiều người tin là cả hai bố con bị cảm rồi mất. Nhưng việc cả hai bố con cùng chết thì vẫn luôn là một dấu hỏi lớn. Họ hàng cũng mời công an đến khám nghiệm nhưng không tìm ra dấu vết khả nghi. Chỉ có cô bạn là mơ hồ về lý do mà cả chồng và con đều mất đột ngột. Cô ấy cứ khóc và bảo nếu tao đi theo chúng thì có lẽ giờ này cả chồng và con tao vẫn còn đang sống. Đám bạn đến thăm đã gạt đi phần để an ủi người bạn bất hạnh, phần thì bán tín bán nghi với câu chuyện. Cũng trong buổi đến thăm ấy, cô con dâu bà và đám bạn còn được bà bệnh nhân cùng phòng kể cho nghe những câu chuyện ma đáng sợ trong bệnh viện. Đó là có những người mất ở bệnh viện mà linh hồn họ cứ quanh quẩn mãi nơi ấy. Có nhiều phòng bệnh, không chỉ bệnh nhân mà người nhà cũng nhìn thấy những bóng người thấp thoáng khi sáng sớm, lúc ban trưa hay khi trời sẩm tối. Nhiều người giữa đêm thức dậy rồi không dám ngủ tiếp khi kể có những bóng người đến ngồi, thậm chí nằm cạnh khi họ đang ngủ. Đặc biệt ở những khoa phòng ung thư, nơi cái chết diễn ra hàng ngày, hàng tuần thì những sự lạ không còn là chuyện hiếm gặp. Nhiều người không chỉ gặp trong mơ mà còn như nhìn thấy phảng phất bóng người đi ra đi vào phòng bệnh ngay cả khi thức. Không chỉ nhìn và nghe, một vài người còn bị người đã chết nhập vào khi có cùng tần số. Bà bệnh nhân hôm ấy còn kể nhiều chuyện ma kinh sợ và dặn mọi người một chi tiết mà con dâu bà vẫn nhớ. Đó là khi đến chỗ lạ, đi qua chỗ vắng hay khi cảm thấy rờn rợn, không an tâm thì hãy lấy đầu ngón tay cái bấm vào đốt đầu tiên của ngón tay đeo nhẫn. Bà ấy bảo đó là cách khoá để những linh hồn lạ không nhập được vào người. 

    Những câu chuyện ấy cho đến giờ vẫn có người tin người không. Nhưng bà thì luôn thắc mắc. Dường như vẫn có một mối liên hệ nào đó giữa hai thế giới. Thế giới của người sống và thế giới của những người đã mất. Câu chuyện về người bạn đồng nghiệp của con dâu bà có nét trùng hợp với câu chuyện của bà. Đó là bà và cô ấy đều bị những linh hồn đã mất rủ rê đi theo họ. Cả bà và cô ấy đều vượt qua cửa ải đấy. Nhưng có những người đã không vượt qua được. Thậm chí có những người đã bị thế chỗ. Nếu ngày ấy anh Thường không cứu bà thì đã không bị hai chị em con ma nhỏ bắt đi. Nếu cô đồng nghiệp của con dâu bà thuận đi theo chúng thì chồng và con cô ấy có thể đã không chết. Bà thấy ớn lạnh. Thế giới người sống đã có nhiều chuyện phức tạp. Những ân oán mà cha làm con gánh, chồng làm vợ chịu. Nhiều gia đình chỉ vì một thành viên gây thù chuốc oán với người khác mà cả nhà gặp nạn khi cùng bị sát hại. Thế giới người sống phức tạp là vậy. Nhưng xem ra thế giới người chết còn phức tạp hơn gấp bội phần. Không biết bà và cô đồng nghiệp của con dâu bà có liên quan gì đến thế giới ấy khi bị họ rủ rê? Rồi khi bà và cô ấy không đi thì họ lại giận dữ và bắt sang người khác. Trường hợp của bà là anh Thường hàng xóm. Người thanh niên mà bà đã kêu cứu, đã nhờ giúp. Trường hợp của đồng nghiệp con dâu bà là chồng và con trai cô ấy. Không lẽ chỉ vì một lời rủ không đi mà họ sinh oán giận? Không lẽ vì không bắt được người này nên họ bắt sang người khác. Phải có một thứ gì đó kinh khủng hơn thế mới khiến sự việc thành ra như vậy. Nhưng thứ đó là gì? Bà đã từng nghe thế giới người sống tuy phức tạp nhưng dễ hoà giải khi con người biết quay đầu, mở lòng và hối lỗi. Thế giới người âm thì phức tạp hơn nhiều. Bà là người sắp đi đến thế giới ấy. Nếu nó thật sự đáng sợ như vậy thì bà sẽ thế nào? Bà sẽ phải chuẩn bị sẵn tâm thế hay những hành trang gì để không bị nó cuốn lấy và bắt phải làm theo dù lòng mình không muốn, không thuận?  

    Bà đã từng nghe kể nhiều người khi còn sống yêu thương chồng con và tính toán khôn ngoan lắm. Thế nhưng khi chết phải giờ xấu, theo dân gian gọi là bị phạm vào giờ trùng, ngày trùng, tháng trùng hay năm trùng nên bị quỷ sứ tra khảo, đánh đập. Nhiều người không chịu được đau nên đã dắt quỷ, dắt ma về nhà bắt chồng con, bắt người thân. Người nào còn giữ được chút khôn ngoan thì thay vì dẫn quỷ, dẫn ma về bắt người nhà sẽ dẫn chúng ra cầu, ra cống, ra đường, ra chợ để không đụng mặt người nhà. Nhưng cái sự khôn hay dại khi sống nhiều khi lại chả liên quan gì khi người ta chết. Có người khi sống rất khôn ngoan nhưng lại dẫn ma về bắt người nhà. Có lẽ họ bị đánh đau quá nên không chịu nổi hoặc có thêm lý do nào khác. Nhiều nhà khi người thân vừa nằm xuống phải cử ngay một người đến gặp thầy để xem giờ, xem ngày người vừa mất có phạm vào trùng tang hay không? Bà thấy các thầy đều tính bốn yếu tố khi mất là năm tháng ngày giờ đem so với tuổi người mất để tính ra được người đi lành hay dữ. Lành là khi cả bốn yếu tố năm, tháng, ngày, giờ khi mất đều rơi vào các cung thiên di hay nhập mộ. Lúc đấy người ta quan niệm người mất là đúng số, là hết dương thọ. Thiên di là di rời đến nơi khác khi đã hết hạn, hết số, hết duyên. Nhập mộ là thể hiện sự yên ổn về mặt âm phần hay phần mộ của người đã mất. Nó cũng thể hiện sự yên ổn, vững bền của người vừa mất. Trong cách xem ngày mất, cả thiên di lẫn nhập mộ đều thể hiện điềm lành, sự chuyển tiếp là đúng quy luật, đúng phần số của con người. Cái mọi người sợ nhất là người mất phạm phải một hay nhiều trùng tang. Càng có nhiều yếu tố trùng tang ở các cung giờ, ngày, tháng, năm ở người vừa mất thì càng xấu. Tuy nhiên, dân gian lại có phép hoán đổi khi cứ một trùng tang thì sẽ có một nhập mộ hoá giải. Nếu con số xấu tốt cân bằng, hoá giải được cho nhau thì vẫn được xem là tốt. Cá biệt có người được đến ba, thậm chí bốn yếu tố đều nhập mộ. Nhưng có quá nhiều nhập mộ cũng không tốt. Giống như khi đi rút quẻ mà bốc được quẻ thượng cát hay thượng thượng thì các thầy lại bảo nên cẩn thận vì tốt quá hoá lốp. Xem ra, trong vũ trụ này không thể quá tả hay quá hữu. Quá nhiều cái tốt dồn vào một chỗ, dồn vào một nơi cũng không hay lắm. Còn quá nhiều cái xấu dồn tụ lại thì tất nhiên là rất xấu rồi. Với những nhà có nhiều yếu tố trùng tang của người vừa mất, người nhà sẽ phải mời thầy làm lễ. Người trong nhà từ vợ chồng, con trai con gái, con dâu, cháu nội đều phải đeo bùa để tránh bị tà ma bắt đi. Trong khi con dâu, cháu nội phải cẩn thận, phải đeo bùa thì con rể và cháu ngoại lại không bị phạm. Các thầy giải thích con rể và cháu ngoại là sang họ khác nên không bị ma mới trong nhà bắt đi. 

    Khi còn chưa lấy chồng bà vẫn nhớ vụ ông bác ruột ở quê mất phạm phải giờ trùng. Ngoài việc đeo bùa thì người lớn lẫn trẻ nhỏ trong nhà đều được dặn trong vòng 49, 50 ngày sau khi ông bác mất không được đi ra ngoài sau giờ gà lên chuồng. Nếu có việc phải đi thì phải rủ thêm người, nhét tỏi trong túi và đi nhanh về nhanh không rẽ ngang rẽ tắt. Khi ra ngoài hay lúc đêm ngủ nếu có người gọi tên thì không được thưa. Nếu không tuân thủ các điều trên thì rất dễ bị ma quỷ do người thân vừa mất đưa về bắt đi. Nhiều người kể có những nhà, những dòng họ bị trùng tang không biết cách hoá giải nên sau khi một người mất lại có thêm vài ba người mất sau đó không lâu. Dân gian vẫn gọi đó là trùng tang. Nhiều câu chuyện quỷ dị đã được kể về những người mất phạm phải trùng tang. Có người còn quả quyết mơ thấy hay nhìn thấy người mới mất dẫn theo quỷ sứ về nhà. Có người sợ quá hét lên. Người nhà lập tức huy động chổi cùn, chổi rách dựng ngang cửa hay gác đầu giường. Có người còn bảo phải đem nhổ cọc sắt đóng góc chuồng lợn đem cắm ngoài cửa để trừ quỷ. Không biết thực hư thế nào nhưng đời bà đã chứng kiến nhiều người mất phạm phải giờ xấu đều viện đến các bùa phép trấn yểm từ khi khâm niệm đến khi chôn cất. Có người đem lọ cát thầy đưa rải xung quanh người mất khi khâm liệm, bắt đầu từ vai trái đi dọc theo người cho đến vai phải. Người thì sau khi hạ huyệt người nhà sẽ chôn bốn cái lọ bùa ở bốn góc mộ. Nhiều nhà phải chôn thêm lọ bùa ở trước cửa nhà cũng như dán thêm các lá bùa trên cửa nhà, cửa phòng. Người bị trùng nặng thì trong vòng 49, 50 ngày con cháu ruột thịt tuyệt đối không được bén mảng ra ngoài phần mộ. Sau 50 ngày, khi đã rước chân hương lên với ông bà tổ tiên thì người nhà mới được ra mộ sửa sang hay xây cất. Trong vòng 49 ngày nếu có việc thì người ra mộ người trùng tang phải là con rể, cháu ngoại hay họ hàng xa để tránh bị quỷ sứ, ma tà bắt đi. Về cúng giải thì có thầy cúng đơn giản nhưng có thầy cúng rất phức tạp khi yêu cầu gia chủ phải có thêm chó đen hay chó trắng còn sống khi cúng. Những con chó này sẽ được thả sau khi cúng xong như một phép để hoá giải. Nhiều người mất phạm phải trùng nặng ngoài cúng lễ người nhà còn phải đem gửi, đem nhốt vong lên những ngôi chùa có tiếng về giữ hồn để không về làm hại người nhà. Không biết có bao nhiêu phần trăm là sự thực trong những câu chuyện ấy nhưng bà nhớ là đã nghe kể không biết bao lần. Những gia đình có người mới mất bị trùng tang dù tin hay không thì cũng luôn chọn cách cúng lễ, đeo bùa khi những câu chuyện ghê rợn về trùng tang hay nỗi sợ sẽ có thêm người mất khiến họ thà làm thừa còn hơn bỏ sót. 

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG III: HOANG MANG VÀ TỈNH NGỘ

    CHƯƠNG III: HOANG MANG VÀ TỈNH NGỘ

    Khi cả hai bà cháu bước vào căn nhà sáng trưng với những ngọn đèn to nhỏ, quanh bàn ăn mọi người đã chờ sẵn thì có hai cái bóng nhỏ vẫn đứng từ xa nhìn vào. Chúng cũng không dễ dàng vào được ngôi nhà khi gia chủ, ông bà của gia đình đấy nhìn thấy và xua đuổi. Nhưng cũng vài lần chúng lẻn vào được ngôi nhà ấy khi họ không để ý. Chúng đã nhìn thấy mọi thứ. Một căn nhà rộng rãi, bày biện sang trọng với những chùm đèn ấm áp và sự vui vẻ của những người đang sống trong căn nhà đó. Nhà có bà già – chính là cô bé gái năm xưa từng sống cùng ông ngoại và bà Ba trong khu vườn – hai vợ chồng người con trai, cô cháu gái và một cậu con trai nhỏ. Ngoài những người trong gia đình còn có một cô giúp việc khoảng ngoài 40 tuổi, không chồng, không con. Cô ta cũng được đối xử tử tế nên cả ngày cứ hát véo von dù làm việc không ngơi tay. Hai vợ chồng người con trai thì đi suốt, chiều muộn mới có nhà. Cô cháu gái và cậu con trai nhỏ cũng đi học từ sáng tới tận chiều. Ở nhà, chính thức chỉ có bà già và cô giúp việc. Bà già, sáng thì tha thẩn ra chợ. Bà ấy hay dừng ở hàng này, hàng khác ngắm nghía là chủ yếu chứ cũng không mua nhiều. Đôi khi, bà đi cùng cô giúp việc. Những khi ấy thì thịt cá, rau củ, hoa quả sẽ mua nhiều hơn một chút. Chúng nghe lỏm thì là nhà hôm ấy có giỗ hay tụ tập con cháu ăn tươi. Nhiều hôm bà ấy ra chợ nhưng lại chả mua gì. Có vẻ bà ấy thích ngắm không khí của chợ hơn là mua bán. Buổi chiều bà ấy lại hay thơ thẩn ra ngồi chơi bên ngôi chùa cạnh nhà. Cô giúp việc hết lau dọn, lại giặt giũ, cơm nước nhưng cũng khá thoải mái khi được quyền sắp đặt việc nào làm trước, việc nào làm sau. Thỉnh thoảng cô còn có thời gian đi tập thể dục hay buôn chuyện với mấy người trong ngõ. Mà cái ngõ ấy cũng lạ. Mặt người nào người nấy từ già đến trẻ cứ hớn ha hớn hở. Người lớn thì bận đi làm. Trẻ con bận đi học. Người già và giúp việc có nhiều thời gian tán chuyện và chơi. Sao họ lại sống sung sướng như thế? Cảnh sống ấy thật khác với những gì hai chị em chúng từng trải qua khi còn nhỏ. Ngày đó, gia đình của chúng cũng gọi là có chút của ăn của để so với làng xóm nhưng bố mẹ tất bật từ sớm tới khuya chả mấy khi ngó ngàng tới chúng. Ông nội thì suốt ngày đi đánh tổ tôm. Ngoài mấy quân bài ra, có khi ông cũng chẳng nhớ hết mấy đứa cháu trong nhà. Bà nội thì chỉ chăm chăm soi mói người làm, người ở. Bà hay nói không có bà giám sát thì lũ người làm sẽ lười nhác, ăn vụng. Chúng còn bé nên không biết mấy người làm có lười nhác hay không? Nhưng chỉ biết là bà nội rất hay quát nạt, hành hạ họ. Lúc rảnh rỗi, bà cũng chỉ chăm bẵm mấy thằng cháu trai chứ không ngó ngàng gì tới mấy đứa cháu gái. Chúng lớn lên dưới sự thờ ơ của cha mẹ, ông bà. Chứng kiến những người làm bị quát nạt, mắng mỏ, thậm chí bị chửi bới, đánh đập. Rồi còn bị đối xử phân biệt giữa con trai, con gái, cháu trai và cháu gái. Rồi đến khi chúng ốm và mất. Về nhà thì bị xua đuổi vì không được cúng lễ tử tế. Ở lại nhà ông thầy thì cũng giống như người vô hình, chả ai quan tâm. Chúng đã nuôi thù hận bao nhiêu năm. Vậy mà, cả cái ngõ này, cả cái gia đình này đều vui sướng, hớn hở. Sao chúng thấy khó chịu thế không biết. Ngày được giải thoát, đáng lẽ phải đi theo các Đức Phật như lời sư thầy căn dặn nhưng đến phút cuối chúng lại bỏ trốn. Chúng cũng không biết tại sao lại làm thế. Có lẽ sự tò mò đã thôi thúc chúng. Chúng đã muốn biết cô bé ấy – nay là bà già ấy – đã sống ra sao khi đi khỏi khu vườn. Chúng cũng tò mò về cô cháu gái của bà ta. Trông nó thật rạng rỡ, hạnh phúc. Nó rất khác với chị em chúng và cả cô bé ấy ngày trước. Sự tò mò đã khiến chúng đã bám theo hai bà cháu. Chúng đã về đến tận đây. Một nơi có rất ít cây cối, sông hồ. Chỉ có những ngôi nhà, nhà và nhà san sát nhau. Có những toà nhà rất cao, cảm giác như cao chạm đến tận mây, tận trời cao. Lại có nhiều căn nhà cao từ 5 đến 7 tầng sáng choang cả ngày lẫn đêm. Chúng đã bị ngợp khi theo về đến đây. Mấy ngày đầu tiên, chúng vất vưởng nơi mấy cái cột điện và suýt bị phát hiện khi cái cột ấy bỗng bật sáng vào lúc chúng không ngờ nhất. Chúng cũng kịp lẻn vào nhà mấy bận và chứng kiến cái gia đình ấy đầm ấm, hạnh phúc, tràn ngập tiếng cười. Nhưng chúng cũng không thể ở lại trong đó khi gia chủ và ông bà, thậm chí là chồng của bà ấy xua đuổi. May là chúng luôn theo chân bà già và biết đến ngôi chùa này. Chùa cũng khá gần với ngôi nhà. Bà ấy thường ra chùa vào buổi chiều và ngồi ở đó cả buổi. Khi thì giúp nhà chùa mấy việc lặt vặt. Lúc lại chỉ ngồi chơi, tán chuyện hay im lặng nhìn vào một nơi nào đó trong tâm trí. Có lẽ bà ấy nhớ tới chồng, người đã mất cách đây hơn một năm. Ông ấy tuy không cao lắm nhưng dáng người to đậm và rất đẹp trai. Chính ông ấy đã mấy lần xua đuổi chúng. Ông có vẻ vẫn quyến luyến với ngôi nhà, với vợ và các con cháu. Chính ông đã bảo với chúng: 

    – Đi đi, đi mà giải thoát rồi đầu thai lại làm người. Các ngươi chưa được hưởng những lạc thú và niềm vui của kiếp người quả là đáng phí. Hãy cứ đi, cứ tu và trở lại. Đừng có tơ tưởng làm hại vợ con ta, đặc biệt là con bé cháu. 

    Vì ngỡ ngàng, vì bối rối chúng đã vơ vẩn ở đây khá lâu. Chúng thấy lạ với cuộc sống của mọi người trong cái ngõ này. Chúng cũng thích ngôi chùa mà bà ấy hay ra. Ngôi chùa ấy thật đẹp, rộng rãi và thoáng mát. Chùa cũng có nhiều cây to giúp chúng có thể trú ngụ. Là chùa, là đất của các thần phật cai quản nhưng thực tế cũng chả của riêng ai. Ngoài chị em chúng còn có khá nhiều linh hồn cùng trú ngụ trên những cành cây, khóm hoa, hòn non bộ hay những bức hoa văn trên tường, trên cánh cổng chùa. Có những kẻ mới đến như chị em chúng. Nhưng lại có người ở đây đã khá lâu như mấy cụ già. Có người ngày ngày nương theo tiếng kinh kệ, trì tụng mà mặt mũi, thân thể, lời nói nom thật thư thái, thoải mái. Có vẻ như họ chả chú ý gì đến mọi người, mọi việc ngoài việc thả mình trong tiếng kinh, tiếng kệ được nhà chùa bật suốt từ sáng tới tối. Lại có kẻ chỉ nhìn hau háu vào những lễ vật mọi người mang tới dâng cúng. Ở đây, đói thì không đói vì lúc nào cũng có sẵn hoa quả, bánh trái. Tuy nhiên, rượu thịt lại khá ít trừ hôm nào có đám lễ to to. Có người thực sự đã coi chùa là nhà khi tối ngày vào ra ở đó. Nhưng nhiều kẻ lại nhấp nhổm, toan tính khi vào ra nhòm ngó những thực khách đến chùa. Nhiều kẻ táo tợn còn lén đi theo vài người mà chúng nghĩ là giầu có hay có nhiều ám muội. Ám muội ở đây là lòng tham. Họ đến chùa nhưng tâm thì không tịnh, lòng thì không yên và đôi mắt thì chứa đầy dục vọng. Họ đến chùa và cầu xin đủ thứ. Đôi khi còn khấn oang oang át hết cả tiếng của người khác. Đám âm hồn còn hay la cà tại những hàng quán ngay bên cạnh chùa. Khi thì nương vào mấy cành hoa, lúc buồng cau, trái quả. Khi có đám nào đến xin viết sớ, nhờ mấy ông thầy lễ hộ là chúng xúm vào nghe ngóng, hóng hớt. Có người xin thầy viết cho cái sớ cầu tài, cầu lộc. Người cầu con thi đỗ, mẹ hết bệnh. Người lại cầu lên chức, lên quyền. Cá biệt, có người cứ thì thầm xin thánh xin thần vật chết hay làm cái đứa phá nát gia cang nhà họ phải bệnh tật, phải trả giá. Chúng nghe lén mấy âm hồn bặm trợn kháo nhau phải bám vào mấy đứa đến xin hại người mà quấy quả. Hội đấy thứ nhất là tâm bất chính khi đi xin thần, xin thánh để hại người. Thứ hai là u mê khi chả có thần phật nào giúp họ làm những việc ác. Thứ ba là ngu nên dễ lừa, dễ tin quàng xiên. Cứ hành cho chúng ốm, chúng đau để chúng phải đi lại lễ lạt, cúng bái. Nhiều kẻ còn kháo nhau cứ bám theo mấy ông thầy hay viết sớ, lễ hộ để kiếm chác. Nhiều ông thầy sau buổi viết sớ, cúng hộ gia chủ thường la cà ra quán làm vài món tươi tươi với vại bia, điếu thuốc. Hứng lên còn ăn nhậu, bài bạc, gái gú, ca hát. Cứ bám theo đám ấy là hưởng đủ mọi lạc thú chứ cứ ru rú mãi trong chùa thì chỉ có chết thèm, chết nhạt. Chị em chúng chưa lần nào đi theo nhưng cứ chứng kiến các ông bà thầy cãi chửi nhau vì tranh khách thì biết họ cũng vì lợi lộc chứ chả tin có thánh thần gì. Nhiều ông bà chả cần biết đang đứng trong hay ngoài chùa cứ cãi chửi nhau oang oang khi bị tranh khách hay bị giành mất mối ngon. Không chỉ đám đàn ông, các bà buôn bán quanh cái chùa này cũng chua ngoa không kém. Chỉ vì vài đám khách mua ở hàng này mà không mua ở hàng kia cũng có thể khiến mấy bà, mấy cô nhẹ thì lườm nguýt, nặng thì tốc váy, tốc áo chửi nhau. Nếu so với dân cư trong ngõ vui vẻ, hạnh phúc thì đám người kiếm ăn quanh ngôi chùa này phức tạp và ô hợp hơn nhiều. 

    Ở đây một thời gian, chúng đã chứng kiến nhiều chuyện. Nhà chùa thường xuyên bật các bài kinh kệ qua cái đài be bé nghe cũng thấy thư thái dù có hơi não nề. Vui nhất là ngày rằm hay mồng một. Cả chùa hôm ấy đông vui lắm. Ngay từ sáng sớm đến khi tối mịt các hàng quán quanh chùa đều nhộn nhịp mua mua, bán bán. Nghe nói ngôi chùa này rất thiêng, lại là chùa cầu duyên, cầu công danh nên nam thanh nữ tú đến chùa rất đông. Có nhóm thì đi đông 5 đến 7 người. Nhiều nhất là đi đôi. Lại có những cô cậu chỉ đi một mình và lầm rầm cầu khấn đến lâu. Nhiều lần, vì tò mò, chị em chúng đã sấn đến, cố nép sát vào để nghe xem họ cầu khấn, xin xỏ thần Phật những gì. Đa phần là xin cho con có người yêu, có chồng, có vợ đẹp trai, xinh gái, làm ra tiền và quan trọng là yêu con, yêu chỉ mình con. Eo ơi, đồ dâng cúng thì chỉ có tý tiền vàng mã, ít hoa quả, bánh trái mà xin thì rõ lắm. Có người vừa xin có người yêu xịn lại còn xin học giỏi, xin được điểm cao. Vài lần nghe lén chúng thấy nhiều người đúng là tham. Cái gì cũng muốn, cái gì cũng xin. Để đáp ứng hết từng ấy lời cầu xin thì chắc phải có đến nghìn ông Phật, nghìn bà Thánh mới làm hết được. Ơ mà, có người còn cầu xin rõ cả tên người, địa chỉ và xin chư Phật, chư Thánh run rủi cho người ấy yêu mình. Ơ thế nhỡ cái người có đúng tên và địa chỉ như thế cũng đến chùa và cầu xin Phật, xin Thánh cho yêu một người mà người đó không trùng với người đã cầu xin được họ yêu thì thế nào nhỉ? Xem ra cũng khó phết! Phật, Thánh chắc cũng rối não khi cô A thì xin cho anh B yêu mình. Nhưng anh B lại xin được yêu cô C. Ôi, cái thế giới yêu đương này phức tạp quá. Chúng nghe vài lần rồi chán vì biết chả Phật, Thánh nào có thể giúp nổi cái đống não yêu này. 

    Quanh quẩn mãi ở đó một thời gian rồi bỗng một ngày chị em chúng bừng tỉnh. Chúng về đây vì tò mò, vì muốn biết cô bé năm xưa nhất quyết không đi theo chúng đã sống ra sao suốt mấy chục năm. Còn cả vì con bé cháu trông đầy rạng rỡ của bà ta nữa. Nhưng về đến đây rồi, nhà bà ta thì không phải lúc nào chúng cũng vào được. May còn có ngôi chùa để chúng nương náu. Nhưng những ngày tới chúng sẽ phải làm gì? Không lẽ cả đời chúng sống tạm ở ngôi chùa, hưởng tý hương hoa, trái quả bánh kẹo và nghe mãi thiên hạ cầu xin đủ kiểu, đủ thứ khi đến chùa. Đặc biệt là cái đám be bé, tre trẻ chỉ rặt cầu xin chuyện yêu đương. Chúng phải làm gì đó. Nhưng cụ thể là làm gì? Hồi còn ở khu vườn, tuy không được ông thầy dung nạp nhưng chúng cứ bám theo đám âm binh. Có buổi chúng bám theo họ ra đồng tát nước, be bờ. Có bữa chị em chúng đi theo họ đến nhà người lạ tìm hiểu xem gia chủ nhà ấy đau ốm lâu ngày là do bệnh dương hay bệnh âm để về báo ông thầy lo chữa trị, trấn yểm. Sau ngày ông thầy mất cả đám như rắn mất đầu, đi không nổi, ở cũng không xong. Chúng rặt rẹo ở đó mấy chục năm thi thoảng lại nổi lên các trận cãi vã, đánh nhau khi cùng quẫn, bất lực. Rồi những lúc rảnh rỗi hay khi buồn bã chúng lại kể cho nhau nghe khi còn sống như thế nào? Rồi vì sao mà chết? Kể chán, chúng lại ước một ngày nào đó khi bùa phép hết hiệu lực chúng sẽ thoát ra ngoài. Khi đó, chúng sẽ làm gì nhỉ? À, việc đầu tiên là chúng sẽ về nhà. Chúng sẽ hành hạ, làm ốm, làm bệnh những kẻ đã ghét bỏ, hãm hại chúng khi sống và thờ ơ, bỏ mặc chúng khi chết. Cả lũ say sưa với những kế hoạch trả thù. Trả thù người thân, người quen, thậm chí cả những người xa lạ nếu chúng thấy ghét, thấy ngứa mắt. Rồi chúng mơ. Mơ được đi đây đi đó, mơ thăm thú nơi này nơi khác. Trong số chúng chỉ có gã lái trâu là được đi nhiều nơi khi còn sống. Gã kể có nhiều nơi đẹp lắm khi có núi, có sông, có đồng ruộng phì nhiêu bát ngát. Lại có nơi là phố thị đông người buôn bán sầm uất. Ở đó có những cái chợ lớn nơi người ta vào ra tấp nập, buôn bán, ăn uống, tụ tập… Cả bọn cứ ước một lần được đến đó. Được hoà vào cái không khí náo nhiệt, bán bán, mua mua, ăn ăn, uống uống đầy sôi động ấy. Gã ấy còn bảo muốn được sướng, muốn trả thù đời thì thi thoảng phải vặt cổ, làm ốm, làm chết vài đứa thì mới có rượu, có thịt, có lễ lạt mà đánh chén, thưởng thức. Gã còn bảo đã từng khuyên ông thầy nhiều lần phải làm chết vài đứa nhưng ông ấy không nghe. Ông ta cứ nửa tà nửa chính, vừa nuôi giấu âm binh vừa không muốn làm điều ác, hại người, di luỵ đến con cháu. Vì ông ta cứ chính tà lẫn lộn như thế nên bọn chúng mới khổ, mới bị mắc kẹt mãi tại khu vườn. Giờ thì không biết những kẻ ấy thế nào? Đàn lễ hôm ấy đã giải thoát cho một số người trong đó có chị em chúng, vợ chồng thuyền chài, chàng trai trẻ bị đánh chết vì ăn cắp gà khi mẹ ốm. Còn ai nữa nhỉ? Chúng cũng không nhớ. Vẫn còn rất nhiều kẻ bị kẹt lại nơi khu vườn cùng với ông thầy. Ông ấy đã quyết tâm ở lại để ghìm chân bọn chúng. Ông buộc chúng phải ở lại nơi đó, không thể thoát ra ngoài để làm hại người khác. Ông thầy còn nói làm thế là để chuộc lỗi. Là lỗi gì nhỉ? Ông ấy cũng đã cứu giúp nhiều người. Ông ấy đã đưa gã lái trâu từ nơi đầm lầy hôi thối về với khu vườn. Ông ấy đã cho vợ chồng thuyền chài và gã trai trẻ một nơi nương náu. Ngay cả chị em chúng cũng vậy. Về nhà thì bị đuổi. Lang thang thì đói rét. Chúng cũng đã về trú ngụ ở tại vườn nhà ông thầy đấy thôi. Ông ấy là người ngoài, không máu mủ, ruột rà nhưng cũng không xua đuổi chúng. Với ông ấy chúng vừa có ơn vừa có oán. Ơn vì đã không đuổi chúng. Oán vì đã giam cầm chúng bao lâu cùng lũ âm binh của ông. Giờ thì chúng ở đây. Không người giam cầm, không người chỉ dẫn. Chúng cũng muốn về lại quê cũ, thăm lại ngôi nhà cùng những người thân. Nhưng chúng không biết lối. Mọi thứ đã khác quá. Khác từ phong cảnh, nhà cửa, đường xá. Chúng đã đi theo xe chở hai bà cháu về đến tận đây. Chúng đã đi quá xa và không biết lối để quay về.

    Cũng có ngày chị em chúng cứ vẩn vơ ra ra vào vào rồi lại tự hỏi nhau làm gì, làm gì nhỉ? Không lẽ chị em chúng sẽ làm theo lời gã lái trâu hay mấy kẻ bặm trợn đang nương náu ở đây. Đó là làm ốm, làm chết vài người để có rượu, có thịt, có đàn, có lễ. Nhưng chúng đâu có thèm rượu dù vẫn thèm xôi, thèm thịt. Vả lại, nếu làm thế thì chị em chúng có bị trả giá, bị đầy sâu xuống bảy tầng địa ngục hay bị các thầy cao tay trừ khử hay không? Ngày còn ở khu vườn nhà ông thầy nhiều khi cả bọn cũng tranh cãi dữ dội. Khi gã lái trâu say sưa với các kế hoạch hại người thì có kẻ đã bảo gã:

    – Đừng có tưởng thích làm gì thì làm, thích hại ai thì hại. Vẫn có các pháp sư, các thầy cao tay chuyên trừ ma, trị quỷ đấy. Nhiều thầy cao tay đã phong ấn những con quỷ hại người suốt nhiều năm khiến chúng không thể trốn ra khỏi nơi bị giam hãm. Có thầy thì hô gọi quỷ sứ lôi đi. 

    Nghe nói khi bị như vậy thì sẽ rất đau đớn, khổ sở. Ngay tại ngôi chùa chúng đang nương náu cũng có một bức tường với các bức tranh nói về những nỗi khổ, những sự đoạ đầy đối với người mắc lỗi sau khi chết. Người hay nói dối, vu vạ thì bị cắt lưỡi. Người hay ăn cắp thì bị chặt tay. Có người còn bị cho vào vạc dầu sôi đun lên. Những hình phạt ấy chỉ nhìn vào thôi cũng đã thấy sợ. Còn có những bức tranh lại kể về những người hành thiện, tích đức hay tu tập thành phật, thành tiên. Những người đó sau khi chết đều được hưởng phúc, được vãng sinh vào cõi cực lạc. Có quá nhiều sự việc, những ngả đường tốt xấu khiến chị em chúng hoang mang không biết sẽ phải đi theo hướng nào. 

    Lần đầu tiên gặp lại cô bé nay đã thành một bà lão 90 chúng thấy cảm xúc thật lẫn lộn. Một chút ghen tỵ, một chút tò mò. Đặc biệt khi biết cô bé ấy đã lấy chồng, sinh con và còn có cả một đàn cháu nội, cháu ngoại. Con bé cháu lại vô cùng rạng rỡ. Cả người nó như toả ra nguồn năng lượng vui vẻ, hạnh phúc – thứ mà chị em chúng chưa bao giờ có. Từ tò mò, không cam lòng đến căm hận, muốn phá hoại cứ từng nấc tăng dần. Vì muốn biết cuộc đời của cô bé năm xưa không đi theo chúng ra sao, cũng như không cam lòng khi thấy con bé cháu bà ấy hạnh phúc, rạng rỡ mà chị em chúng đã bám theo về đến tận đây. Những ngày quanh quẩn trong các góc tối, nóc nhà, cột điện chúng đã chứng kiến cuộc sống của gia đình bà ấy và cả con ngõ. Không chỉ gia đình bà ấy vui vẻ, hạnh phúc mà các gia đình khác trong ngõ cũng như được tắm trong bầu không khí của sự hoà thuận, viên mãn. Đám bạn con bé cháu, cả trai lẫn gái đứa nào đứa nấy đều rạng rỡ, xinh xắn. Ngay cả cái đám hay đến chùa cầu xin thì những thứ họ cầu mong cũng không phải cơm ăn, áo mặc. Họ mong cầu tiền bạc, chức tước, giầu sang hay thứ tình cảm trai gái yêu đương mà chúng nghe mãi vẫn không hiểu. Những nỗi đau bị bỏ mặc, bỏ đói, sự thiếu quan tâm của ông bà, cha mẹ mà chị em chúng phải chịu khi còn sống cũng như khi đã chết dường như chỉ là chuyện của riêng chúng và thuộc về một giai đoạn đã xa. Những người chúng gặp gần đây từ già đến trẻ, đặc biệt là bọn trẻ con dường như không ai phải chịu cái kiếp nạn như chị em chúng và cả bà già kia phải chịu khi còn nhỏ. Mấy chục năm bị giam hãm trong khu vườn, chị em chúng và cả đám âm binh, âm hồn vất vưởng dường như đã bị bỏ lại, bị lãng quên. Cuộc sống bây giờ đã quá khác. Ngày mới gặp lại bà ấy, chúng chỉ hận bà ta đã có một cuộc đời hạnh phúc khác với chị em chúng bị giam hãm, cầm tù bởi bùa phép. Chúng cũng tưởng chỉ có mình con bé cháu bà ấy là vui vẻ, rạng rỡ. Hoá ra, đã có rất, rất nhiều người giống như bà cháu nhà ấy. Họ không phải vật vã trong cái đói, cái nghèo, cái khổ. Họ không bị thiêu đốt trong sự so sánh, dằn vặt, hận thù ngay cả với người nhà như ông bà, cha mẹ, anh chị em giống như chúng. Từ chỗ ghen tỵ và muốn làm hại hai bà cháu, dần dà chúng nhận ra những kẻ như hai bà cháu họ có quá nhiều. Không lẽ chị em chúng phải căm hận, phải làm hại tất cả bọn họ. Nhưng kể cả là có muốn thế thì với sức lực của hai chị em, bọn chúng cũng không thể nào làm nổi. Cái sự ngộ ra ấy khiến cho chúng lúng túng, bực bội. Cái mục tiêu ban đầu đã ngày càng xa vời khi chúng biết chúng không có những lý do chính đáng để làm hại hai bà cháu họ. Vậy thì lỗi do ai? Vì sao cuộc đời chúng lại bi thảm như thế? Phải có ai đó để trút giận. Phải có ai đó chịu trách nhiệm về sự khốn khổ của chị em chúng suốt những năm qua chứ?  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG II: ĐỪNG LÀM HẠI NÓ!

    CHƯƠNG II: ĐỪNG LÀM HẠI NÓ

    Bà đã ngồi ở sân chùa khá lâu cho đến khi cô cháu gái ra tìm và đưa bà về. Tiếng con bé líu ríu:  

    – Bố con đi làm về liền hỏi bà đâu rồi? Con đoán bà lại ra chùa hóng mát nên ra tìm. Thế mà đúng thật. Bà ơi, sao bà lại thích ngồi ở chùa thế ạ?

    – Ngồi ở đó bà thấy lòng mình bình an con ạ? Bà nhẹ nhàng.

    – Nhưng bà ngồi lâu sẽ mỏi lưng đấy – Cô cháu gái lo lắng. Bà có thể nằm ở nhà và mở kinh Phật lên nghe cũng hay mà.

    – Ừ, nhưng bà thích cảnh chùa con ạ. Ở đó có cảm giác thanh thản, nhẹ nhàng mà ở nhà không có. 

    – À bà ơi, bà có còn gặp lại các con ma sau hôm ở đàn lễ nữa không bà? Tiếng cô cháu gái líu ríu.

    Bà lặng im. Thời gian đầu đúng là bà có cảm giác thanh thản, nhẹ nhàng như đã làm xong một ước nguyện lớn. Nhưng gần đây, bà bỗng có cảm giác chợn rợn, lành lạnh khi bất chợt đi vào một ngõ vắng. Cảm giác đó đôi khi còn xuất hiện ngay khi bà ở nhà. Ban đầu, bà không chú ý lắm. Hoặc có đôi khi nghĩ đến thì chỉ nghĩ là ông hay các cụ về thăm nhà, thăm con cháu. Bà là người nhạy cảm nên rất nhạy khi đến môi trường lạ hay khi cảm nhận nguồn năng lượng âm. Nhưng tần suất ngày một nhiều nhất là khi cô cháu gái đột nhiên hỏi thế khiến bà không yên tâm. 

    Bà nhìn cô cháu gái rồi dò hỏi:

    – Từ hôm đó tới giờ, con có thấy điều gì lạ không?

    Cô cháu gái ngẩn người ra một lúc rồi thì thầm, giọng nó rất khẽ: 

    – Con cũng không rõ bà ạ. Chỉ là khi ngủ thỉnh thoảng con có những giấc mơ rất lạ. Con cứ thấy mình bị săn đuổi mà không rõ là bị ai hay cái gì săn đuổi. Con chỉ biết là con sợ và chạy rất nhanh. Đôi lúc con thấy mình bay lên để thoát thân. Có lúc mải chạy con thấy mình như sắp rơi xuống vực. Con đã nhiều lần tỉnh dậy giữa đêm khi thấy mình sắp rơi xuống. Sau đó mồ hôi con vã ra. Thường con sẽ phải thức mất một lúc lâu sau mới lại ngủ tiếp được. Con đã kể với bố và bố bảo chắc con áp lực vì đang ôn thi. Có hôm con ngồi học rất khuya và cứ có cảm giác như ai đó đang nhìn mình nhưng khi nhìn lại thì chẳng thấy ai. Mọi người trong nhà đều ngủ rất say. Con còn nghe cả tiếng ngáy to của bố ở phòng bên cạnh, tiếng thằng Chôm nói mơ khi ngủ say.

    – Con có thấy cảm giác lạnh sau gáy hay tự nhiên nổi hết gai ốc lên không? Bà lo lắng.

    Con bé chau mày:

    – Con cũng không biết ạ. Đôi khi con cũng thấy lạnh, thấy mẩn các nốt ở tay lên. Con nghĩ là do con bị lạnh thôi ạ. 

    Bà yên lặng không nói gì. Vậy là cảm giác của bà không sai. Gần đây bà cứ thấy có gì đó không ổn. Lúc rợn rợn sống lưng, lúc lành lạnh sau gáy, khi lại có cảm giác như có ai đó đang nhìn. Dường như có những luồng âm khí đang lảng vảng đâu đó quanh bà, quanh gia đình bà. Nhưng nguồn âm khí đó đến từ đâu nhỉ? Từ ông bà, cha mẹ, họ hàng hay còn có những thế lực khác? Nếu là nguồn âm khí đến từ gia đình, dòng họ thì bà đã không thấy bất an như thế này. Những người thân đã mất dù có về thăm cũng hiếm khi khiến con cháu cảm thấy lo lắng. Nếu có gì không vừa ý thì cũng hay báo mộng hay nhắm vào một, hai đối tượng cụ thể. Nhưng lần này khác lắm. Cảm giác đó vừa lạ lại vừa quen. Lạ là bà không cảm thấy tâm an. Quen là hình như bà đã từng gặp cảm giác này ở đâu đó. Nhưng ở đâu mới được chứ? Bà chợt khựng lại. Đúng rồi, cảm giác này quen lắm. Đó là cảm giác mà bà luôn có khi sống trong khu vườn ngày xưa cùng với ông ngoại và bà Ba. Cái cảm giác dù có ở một mình vẫn không phải chỉ có một mình. Cái cảm giác như luôn có những người khác, những thế lực khác đang cùng mình song hành. Hay cái cảm giác luôn bị nhìn ngó từ trước mặt, từ sau lưng, từ những người không quen biết. Cái cảm giác lẫn lộn không biết đâu là thực đâu là mơ khi ranh giới giữa người sống và người đã mất bị đặt quá gần, quá xen kẽ. Nhưng tại sao sau gần 80 năm bà mới lại có cảm giác ấy. Đặc biệt là nó càng mạnh lên sau lễ giải thoát của đàn lễ đêm ấy. Có lẽ nào, đã có thêm những kẻ thoát khỏi sự phong ấn của ông ngoại, của khu vườn và đang tìm đến bà. Hay luồng âm khí đó đến từ những âm hồn đã được giải thoát. Không có lẽ nào! Họ đã mong mỏi. Họ đã khao khát cơ hội ấy từ lâu lắm mà. Không có lý gì họ quay lại trừ khi. Bà chợt lạnh sống lưng. Trong số những linh hồn được giải thoát hôm ấy có hai chị em con ma nhỏ. Lẽ nào vì là trẻ con nên chị em chúng không biết quý trọng cơ hội giải thoát. Lẽ nào vì là trẻ con nên chúng còn vương vấn cõi này. Nếu đúng là thế thì thật không hay. Trẻ con vốn đã không dễ chiều. Lại là ma trẻ con thì càng không biết chúng muốn gì và tác oai tác quái đến đâu. Mà hình như ông ngoại đã từng nói lòng thù hận đã biến chúng thành quỷ. Nếu đúng như vậy thì thật đáng sợ. Nhưng tại sao chúng lại tìm đến bà và gia đình bà? Bà đâu có gây thù chuốc oán gì với chúng? Có lẽ nào là do nguồn năng lượng rạng rỡ, hạnh phúc từ cô cháu gái đã tác động đến chúng. Nghĩ đến đó bà chợt rùng mình. Bà nhớ lại cảnh con ma chị từng rít lên: 

    – Ta không cam lòng. Tại sao cùng là trẻ con mà nó được mọi người yêu thương, được mọi người bảo bọc. Còn chúng ta, chúng ta cũng là trẻ con nhưng không được ai yêu thương, không được ai đoái hoài đến. 

    Có lẽ nào sự đố kỵ, ganh ghét đã khiến chúng tìm đến con bé. Bà nhìn chăm chăm vào con bé cháu. 

    Nó nhoẻn cười:

    – Trên mặt con có dính gì hả bà?

    – Bà bảo này nhưng con phải nói thật nhé – Bà nhẹ giọng. Con có nhớ đêm ở đàn lễ không? Con có sợ không?

    – Lúc đầu con sợ lắm nhưng sau con lại thấy thương. Thương nhất là hai chị em ma bé. Sao họ khổ thế hả bà? Con thấy thương họ lắm – Con bé hồn nhiên.

    – Các ngươi nghe rõ chưa? Bà lẩm bẩm. Con bé lương thiện là thế. Bị các ngươi làm cho hoảng sợ nhưng vẫn thương các ngươi. Đừng có làm hại nó!

    – Bà ơi, bà đang nói chuyện với ai đấy ạ? Con bé ngạc nhiên.

    – À, bà chợt nhớ đến hai chị em con ma nhỏ. Bà dặn chúng không được làm hại người khác – Bà chống chế.

    – Họ đang ở đâu hả bà? Họ có nghe thấy những gì bà nói không ạ? Cô cháu gái tò mò.

    Bà vội đánh trống lảng:

    – Bà cũng không biết. Bà cứ nói bâng quơ vậy thôi. Biết đâu họ nghe được. Thôi mình về nhà nhanh không mọi người lại mong.

    Hai bà cháu líu ríu đi về nhà. Những lời bâng quơ của bà mong ai đó nghe được đã được hai âm hồn đi theo nghe không sót một chữ nào. 

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG I: NGÔI NHÀ THỜ CŨ

    CHƯƠNG I: NGÔI NHÀ THỜ CŨ

    Đã ba tháng kể từ cái đêm ấy. Đêm giải thoát cho các linh hồn bị giam cầm trong khu vườn cũ. Bà đã có những tháng ngày thư thả. Dạo gần đây, bà rất thích thơ thẩn ra chùa. Không gian tĩnh lặng, mùi khói hương phảng phất luôn khiến bà cảm thấy thư thái. Nhà chùa nuôi một đàn bồ câu 10 con. Có con toàn thân chỉ một mầu lông trắng ngà. Có con thì lông trắng pha chút ánh cam, ánh nâu nơi cánh, lưng, cổ trông khá đẹp mắt. Hai, ba con còn có thêm những ánh xanh lấp loáng nơi gáy mỗi khi chúng bước đi hay cúi xuống mổ hạt. Đám thanh niên đến chùa vẫn hay mua túi đồ ăn cho chim rồi vãi ra để đàn bồ câu tụ lại. Dường như cũng quá quen với cảnh ấy nên chỉ cần đám hạt được tung lên là chúng ào ào bay đến. Vài con dạn người còn bay đậu cả lên vai, lên tay người cho ăn. Có người thích thú chụp ảnh đàn bồ câu nơi sân chùa hay cảnh chúng đậu lên tay, lên vai người cho hạt. Ngoài đám bồ câu, nhà chùa còn thả đàn cá koi trong cái hồ bán nguyệt trước cửa. Con mầu trắng, con mầu vàng, con mầu cam, con một mầu, con nhiều mầu loang lổ tạo nên những vệt mầu sắc bắt mắt khi chúng bơi lội, di chuyển. Đám bồ câu, cá koi cùng những cây hoa đã làm nên vẻ đẹp của nhà chùa bên cạnh những cây si, cây đa, cây hoa đại nhiều năm tuổi. Chùa còn có rất nhiều những cây bưởi được trồng trong những chậu xi măng được đắp các hình hoa nổi rất đẹp. Chúng là đồ cúng tiến của các gia chủ giầu có mỗi năm tết đến xuân về. Có cây sống được đến vài năm. Nhiều quả bưởi cũng giữ được vẻ tươi xanh hay vàng óng khá lâu. Những chiều nhạt nắng, ngồi trong sân chùa vắng bà thấy lòng mình thật thư thái, dễ chịu. Có hôm bà ngồi nhắm mắt, thả lỏng đầu óc để kiểm đếm lại cuộc đời mình. Có những điều ưng ý. Có cả những tiếc nuối, những kỷ niệm cả vui lẫn buồn. Có những thứ nếu được làm lại bà chắc mình sẽ có những lựa chọn khác. Nhưng như thế mới là cuộc đời. Có những điều khiến ta hạnh phúc, trân trọng. Lại có những nhân duyên chỉ mang đến sự mỏi mệt, tiếc nuối. Dù thương hay ghét thì với bà dường như mọi thứ đã không còn quá quan trọng nữa. Người bà gắn bó lâu nhất là ông – chồng của bà – cũng đã bỏ bà đi hơn một năm nay do bệnh nặng. Không biết ở nơi xa ấy, ông ấy có còn nhớ đến bà. Người phụ nữ từng khiến ông nhiều lần rơi nước mắt khi nghe bà kể về quá khứ, về những nỗi khổ từ thời thơ bé. Trong những câu chuyện, có một điểm cả ông và bà đều nhất trí. Đó là có một thế giới khác, thế giới của những người đã chết luôn hiện diện, song hành cùng với người sống. Khi nghe bà kể về những hồn ma trong khu vườn, ông cũng kể lại câu chuyện được chính bố mình kể lại khi còn nhỏ. 

    Bữa đó, trời rất nắng. Bố của ông đi làm đồng về muộn. Qua cái ao vắng, ông đi xuống để rửa chân tay trước khi về nhà. Vừa đặt chân xuống tới mấy bậc gạch chìm trong nước. Chưa kịp cảm nhận cái mát lạnh từ dòng nước ông đã thấy một bên cổ chân mình bị túm chặt và lôi xuống. Vốn sức lực điền, ông vùng mạnh và chạy lên bờ. Chỗ cổ chân bị túm cứ nhơn nhớt. Dù là người cứng bóng vía, nhiều đêm đi thả lưới, bắt ếch một mình nhưng bữa ấy ông cũng hoảng. Ông đi vội về nhà. Bỏ qua cả tiếng chào, tiếng ời ời mời cơm của vợ và đàn con mà đi một mạch đến bên bể nước. Ông múc hết gáo này đến gáo khác để rửa sạch bên chân bị túm. Cảm giác sự nhớp nháp vẫn còn ở đó khiến ông phải kỳ đi kỳ lại không biết bao lần. Cả bữa cơm hôm ấy ông cứ như người mất hồn. Đến ăn mà cũng không hiểu mình đang ăn gì? Tối ấy, ông đã kể cho vợ và các con nghe chuyện mình suýt bị ma lam – những con ma bị chết đuối – lôi xuống nước trưa nay. Những đứa con, trong đó có chồng bà tròn mắt nghe cha kể chuyện. 

    Mẹ chồng bà thì thầm:

    – Cái ao ấy cứ vài năm lại có người chết đuối. Nghe đâu bị rủ xuống rồi bị dìm chết. Có người thoát nạn khẳng định có những cái bóng, những ngọn đèn, những bông hoa, thậm chí là cả tiếng gọi cứ dẫn dụ họ đi xuống. Nhiều người còn nói rằng những người chết đuối phải tìm được người khác thay thế mình xuống đó thì mới được lên lại làm người. 

    Mẹ chồng bà còn dặn chồng và các con đừng bao giờ xuống cái ao đó rửa chân khi có một mình. Khi trưa vắng, chiều tà hay lúc sáng sớm vắng người qua lại thì cũng tránh đi lối ấy hoặc có việc đi qua thì phải đi thật nhanh, đừng nhìn xuống ao. Nếu cẩn thận hơn thì nên để sẵn vài nhánh tỏi trong túi quần, túi áo hoặc cầm trên tay. Cái ao đó chắc chắn có nhiều hồn ma trú ngụ. Chúng chỉ chờ cơ hội, chờ thời điểm, chờ người phù hợp để lôi xuống thay thế cho mình. 

    Chồng bà còn kể chuyện về ông bảo vệ nơi cơ quan cũ. Có một chiều khi mọi người đã ra về gần hết. Ông bảo vệ bắc thang lên để thay cái bóng điện hỏng trong hội trường. Lúc đó trời đã nhập nhoạng khi ánh sáng ban ngày chưa tan hết nhưng bóng tối cũng bắt đầu len lỏi. Vừa thay xong đèn, vẫn đang đứng trên thang, ông bảo vệ nhìn ra cửa thì thấy một người đàn bà xoã tóc đứng ngay nơi cửa nhìn vào. Hai mắt người đàn bà ấy xanh lè. Quá hoảng sợ, ông bảo vệ hét lên một tiếng rồi ngã xuống. Vài người nghe tiếng hét vội chạy lại. Mặt mũi ông bảo vệ tái mét, thất thần, mắt vẫn nhìn chăm chăm ra cửa, tay chỉ, miệng ú ớ. Sau một hồi bàng hoàng, ông kể lại với mọi người vừa nhìn thấy một người đàn bà xoã tóc đứng ngay ngoài cửa. Lạ là, đôi mắt bà ta xanh lè. Từ bữa ông bảo vệ bị doạ sợ, cứ chạng vạng tối là nhiều người không dám đi qua khu hội trường. Có việc cần thì phải rủ thêm hai, ba người mới dám lên. Những câu chuyện ấy có người tin, người không. Nhưng cả ông và bà đều luôn tin có một thế giới khác, thế giới của những người đã mất đang tồn tại ngay bên cạnh họ, rất gần.  

    Những năm còn bao cấp, có một lần giữa đêm hè trời oi bức. Cả ông và bà đều khó ngủ vì phải thay nhau quạt cho đàn con khi bất chợt bị cắt điện giữa đêm. Trong lúc hai ông bà đang rì rầm trò chuyện thì ở khoảng sân gạch bên cạnh nhà những tiếng chổi tre vang lên. Đêm đã khuya nên tiếng chổi tre quét trên sân gạch nghe càng rõ. Nó cứ như thể người ta cầm chiếc chổi rễ để quét đi các vũng nước còn đọng lại trên sân gạch sau cơn mưa. Mà trời thì rõ nóng, làm gì có cơn mưa nào. Ngay lập tức cả hai ông bà dù không ai bảo ai nhưng đều nghĩ đến khả năng đó. Lại có người nào đó về quét lại khoảng sân rộng của nhà mình. Cái sân đó khá rộng vì nó vốn là sân của một nhà thờ cũ. Ngói trên mái và kết cấu, các nét chạm trổ trên các đầu đao, cột kèo đều thể hiện rõ cấu trúc của một ngôi nhà thờ cổ. Những dòng chữ Hán hay chữ Nôm mờ mờ trên các rui kèo, trên các thanh mái cũng không ai biết là những chữ gì, ý nghĩa ra sao? Chỉ biết là ngôi nhà thờ đó đã qua nhiều chủ và hiện có 3 gia đình cùng sinh sống. Nhà ông Tài ở hai gian. Nhà cô Hồi một gian và nhà ông Bút một gian. Các gia đình chỉ ngăn vách và chia nhau phần trong nhà còn khoảng sân gạch trước mặt của cả ba nhà thì vẫn để nguyên. Đám trẻ con trong xóm vẫn hay lê la ra đó đứa cõng em, đứa ngồi dãi thẻ chơi ô ăn quan hay chơi nhảy dây, nhảy ngựa. Nhiều hôm nóng quá, các ông còn kê dát giường ra giữa sân rồi mắc màn để ngủ cho mát. Thế mà giờ đây, tiếng chổi tre quét sàn sạt chứng tỏ không có ai mắc màn ngủ đêm tại đó. Nhưng không có ai lại đi quét sân lúc mới hai, ba giờ sáng. Lẽ nào lại đang có những con cháu của dòng họ về dọn dẹp, quét tước mảnh sân nhà thờ để chuẩn bị cho dịp giỗ kỵ nào đó? Ông nhẹ nhàng ngồi dậy rồi nói với bà:

    – Để tôi ra hỏi xem ông bà nào mà chăm thế? Đêm hôm không ngủ mà lại đi quét sân, quét ngõ.

    Bà vội túm ông lại, nói khẽ:

    – Ông không được ra. Ông mà cất lời khéo lại bị bắt mất vía đó.

    Ông nhẹ nhàng nằm lại. Cả hai ông bà đều nằm im nghe ngóng. Vẫn nghe rất rõ tiếng chổi tre quét sàn sạt trên cái sân gạch. Không biết ngoài ông bà ra, có nhà nào còn thức và nghe thấy tiếng quét sân hay không?

    Sáng hôm sau, khi đi chợ thì bà gặp ông Tài, chủ của một trong ba gia đình đang ở trong ngôi nhà thờ cũ. 

    Bà đon đả:

    – Ông đi đâu sớm thế?

    Ông Tài buồn bã:

    – Đêm qua thằng Tùng sốt cao. Mẹ nó và con Yến lại xuống cơ sở không có ở nhà. Tôi phải cõng con lên bệnh viện cấp cứu cả đêm.

    – Thế cháu sao rồi ông? Bà lo lắng.

    Ông Tài thở hắt ra:

    – Cháu đỡ sốt nhiều rồi. Tôi tranh thủ gửi người cùng phòng trông đỡ vì cháu đang ngủ để về nhà lấy thêm ít đồ cho hai bố con rồi lại vào viện ngay. 

    Nói rồi ông vội tất tả đi. Vậy là gia đình ông Tài đêm qua không có ai ở nhà. Chỉ còn hai gia đình nữa. Nhưng ai là người quét sân đêm qua nhỉ?

    Bữa sáng hôm ấy, vừa ăn bà vừa tranh thủ kể lại với chồng cuộc nói chuyện với ông Tài. Dù tiếng chổi tre nghe rất thực, lại có cả hai người cùng nghe thấy nhưng ông và bà vẫn bán tín bán nghi. Ngôi nhà thờ đó đã thay đổi quá nhiều. Những người chủ cũ và chủ mới đã sửa chữa, cơi nới nhiều chỗ cho phù hợp với sinh hoạt của từng gia đình. Không lẽ nào vẫn còn có người ở đó. Những người có liên quan đến ngôi nhà thờ tổ. Dường như cũng chung thắc mắc như bà nên ông dặn nhỏ:

    – Tý rỗi bà thử thăm dò hai nhà còn lại xem có ai quét sân đêm qua không?

    Bà gật nhẹ. Nhưng cuộc nói chuyện hôm đó kết quả không nằm ngoài suy đoán. Cả hai gia đình đều khẳng định ngủ say như chết. Đến nỗi chuyện bất chợt bị cắt điện hai, ba tiếng giữa đêm họ cũng không biết. Có lẽ do họ ngủ quá say. Nhưng tiếng chổi tre đó không chỉ có ông mà bà cũng nghe rất rõ. Vậy là chắc chắn. Đang có hai thế giới, hai lớp người cùng song hành trong ngôi nhà thờ. Đó là thế giới của những người sống, cụ thể là ba hộ gia đình với hơn chục nhân khẩu. Và một thế giới của những người đã mất là tổ tiên, ông bà, con cháu của một dòng họ nào đó. Và họ vẫn còn ở đó. Vẫn hiện diện trong những thời khắc như khi sáng sớm, lúc đêm khuya hay khi giữa trưa. Sự khẳng định đó càng khiến ông và bà thêm tin vào chuyện ma quỷ, chuyện có những thế giới khác tồn tại song hành với cuộc sống thực. Sau này, do người đông lên, bọn trẻ cũng lớn dần nên cả ba gia đình ấy đã thống nhất chia cái sân gạch làm 3 phần, tương ứng với phần diện tích trong nhà của ba gia đình. Trong đó phần sân của nhà ông Tài là rộng nhất do nhà ông có hai gian. Hai nhà còn lại mỗi nhà một phần tương ứng với một gian ở trên. Các nhà đã làm bếp, nhà tắm, sân phơi thời gian đầu trên khoảng sân gạch ấy. Khi xây lại nhà, các nhà đã phá liệt địa để thống nhất thành một khối. Cái nhà thờ cũ ngày trước đã không còn chút bóng dáng nào. Thay thế vào đó là ba căn nhà mới, một rộng, hai hẹp. Đôi khi, bà vẫn tự hỏi, không biết ông bà, cha mẹ, con cái của dòng họ ấy có còn ai ở đó khi nếp nhà thờ cũ đã không còn. Nhưng cũng kể từ đó, cả hai ông bà đều không thấy sự việc lạ nào diễn ra nữa. Có lẽ những linh hồn ở đó đã rời bỏ ngôi nhà thờ cũ hoặc đã đầu thai, chuyển kiếp tự lâu rồi.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG XII: ĐỒNG TÂM HIỆP SỨC

    CHƯƠNG XII: ĐỒNG TÂM HIỆP SỨC

    Sư thầy bước từng bước đến bên ông thầy. Ông chắp hai tay rồi cất giọng ôn tồn:

    – Cả ông và ta đã đi đến bước này rồi thì cũng không thể dừng lại. Ta sẽ nhờ trợ lực của các thầy, của những đấng Bồ Tát để cố gắng cứu giúp những âm hồn đang muốn hướng thiện. Ông cũng hãy cùng chúng ta giúp họ.

    Thân xác ông thầy:

    – Ta cảm nhận được sự từ bi của sư thầy. Nhưng ta e những linh hồn lạc lối sẽ phá hoại tâm tưởng tốt đẹp đó. Chúng sẽ không dễ dàng đón nhận và cũng không muốn người khác được đón nhận những mong muốn tốt đẹp đó của sư thầy.

    Sư thầy chậm rãi:

    – Ta xin ông hãy vững lòng. Chỉ cần ông thật tâm mong muốn những âm binh, âm hồn đã đi theo mình thật lòng hối cải, muốn sám hối, giải thoát và hỗ trợ giải bùa, phá yểm cho họ thì chúng ta sẽ cầu xin pháp lực của bề trên giúp những kẻ đó thoát khỏi khu vườn này.

    Thân xác ông thầy:

    – Ta thật tâm muốn giải thoát cho vợ chồng làng chài và những kẻ muốn sám hối quay đầu. Nhưng ta hiểu rõ bọn ác ma hơn sư thầy. Chúng sẽ không buông tay và sẽ phá hoại đến cùng. Ta không muốn hại người tốt nhưng kẻ xấu quá nhiều, quá nham hiểm nên lúc biết bị chúng hãm hại ta đã dùng toàn lực cuối cùng để hoạ bùa, trấn yểm, giam hãm tất cả tại nơi đây. Những âm binh tốt vì thế đã bị khổ nạn chung với bọn ác ma. Ta luôn day dứt vì điều đó. Nhưng giờ e rằng sức chúng ta không đủ để giải thoát cho bọn họ cũng như kìm chặt lũ ác ma, không để chúng thoát ra hại người.

    Sư thầy chậm rãi:

    – Ông hãy phát tâm cầu nguyện đến chư Phật xin họ giúp ông đạt thành tâm nguyện. Khi ông thật tâm muốn làm điều thiện thì Phật trời sẽ chứng giám và trợ sức, trợ lực cùng ông.

    Thân xác ông thầy cười một nụ cười méo xệch rồi mặc kệ lũ âm hồn vẫn đang đánh nhau kịch liệt để lết đến bên giàn lễ. Ông mở trừng đôi mắt nhưng giọng lại rất trầm tĩnh, âm vang:

    – Ta là kẻ thị tài. Ta luôn nghĩ mình giỏi giang, thông minh hơn người. Vì cậy tài nên ta đã muốn trên hiểu Phật trời, dưới muốn điều khiển âm binh. Sống cả đời nhưng Phật trời ta chưa đủ duyên để hiểu. Còn đám âm binh, nhờ tài phép và sự thông tỏ của ta mà chúng luôn đi theo và làm mọi điều ta muốn. Chỉ là ta không ngờ tài phép, trí học đôi khi cũng bất lực, cũng thua trước sự giả trá, những điên loạn, oán hận. Phút lâm chung ta đã hối hận và muốn chuộc lỗi bằng cách dùng tàn lực để khoá chặt chúng lại. Nhưng ta biết trong đám âm hồn ấy còn một số kẻ tốt. Là ta đã không bảo vệ được họ. Là ta đã giam hãm họ cùng lũ tàn ác kia ở tại khu vườn này. Nay ta nguyện lấy thân mình để cản bọn ác ma. Ta nguyện cùng bọn chúng bị giam hãm, bị lưu đầy mãi mãi. Ta chỉ xin ơn trên giúp ta trợ sức, trợ duyên để những âm hồn hướng thiện được tiêu nghiệp, sám hối và thoát khỏi khu vườn này.

    Lời ông thầy vừa dứt thì những tràng cười ghê rợn vang lên. Một giọng tàn ác cất lên:

    – Ông mà cũng biết ân hận, biết sám hối ư? Là chính ông đã chiêu dụ bọn ta đến dưới trướng của ông. Là chính ông vừa muốn thị tài lại vừa muốn tay mình không vướng máu nên đã ngăn không cho chúng ta được làm việc ác. Ông thu nạp chúng ta nhưng lại không cho chúng ta được chè chén, được thoải mái no say. Là tướng mà không lo được đầy đủ cho quân. Là thầy mà không đem lại sự sung sướng, thoải mãn cho trò. Ông tự thấy mình đã làm tròn bổn phận chưa?

    Ông thầy:

    – Đúng là ta đã chiêu dụ các ngươi. Ta đã đưa các ngươi từ những nơi bùn lầy, ao hồ lạnh lẽo, đói khát về với khu vườn này. Nhưng ta chưa từng hứa sẽ cho các ngươi no say, cho các ngươi làm càn. Ta chỉ đảm bảo các ngươi không bị ngược đãi hay hành hạ. Ta cũng chưa từng sai các ngươi đi làm việc ác. Là do các ngươi tham lam, các ngươi luôn không biết đủ, các ngươi luôn đòi hỏi. Là thầy ta tự thấy không hổ thẹn. Còn các ngươi, tại sao các ngươi lại nghĩ mình có quyền đòi hỏi hay bắt người khác phải chăm lo, cung phụng cho mình? Các người có từng nghĩ chính cha mẹ, người thân của các ngươi còn bỏ mặc khiến các ngươi thành những hồn ma lang thang. Những con ma đói, ma rét, ma không mồ. Các ngươi là kẻ có nhà cũng không thể trở về. Thời buổi khó khăn, đến cha mẹ còn không lo xuể cho các con mình thì tại sao lại đòi hỏi một ông thầy như ta lại phải cung phụng đầy đủ, phải làm theo ý của các ngươi chứ?

    Một tiếng khóc nghẹn rồi một giọng đàn ông ồm ồm cất lên:

    – Con luôn biết ơn thầy. Con mất khi mới ngoài hai mươi tuổi. Nhà con nghèo, con đông nên cha mẹ đi làm thuê cuốc mướn quanh năm mà vẫn không đủ gạo nuôi nấng các con. Ngày mẹ con bệnh trong nhà chỉ còn lại mỗi một lon gạo. Vì muốn mẹ có chút thịt bồi bổ mà con đã đi ăn cắp một con gà và bị người ta đánh chết. Mẹ con vì bệnh, vì nhục mà chết tức tưởi ngay sau đó. Cha con đành dắt díu các em rời bỏ quê cha đất tổ mà đi. Con thành ma đói, ma rét lang thang trong hối hận. Nhờ thầy cưu mang mà con được sống giữa các âm binh. Được thầy chăm lo cho các bữa ăn. Con luôn đội ơn thầy. Xin thầy tha lỗi vì đã không cản được bọn họ làm hại đến thầy.

    Con ma thanh niên khóc rống lên ai oán. Một tiếng cười lạnh vang lên. Một người đàn ông với bộ mặt hung dữ hầm hầm bước ra:

    – Khóc lóc cái gì? Là đàn ông con trai mà khóc lóc, kể lể như đàn bà. Ta là một lái trâu. Khi còn sống ta đã đánh không biết bao người. Chính tay ta cũng giết vài ba kẻ. Nhưng nhiều kẻ cũng để lại những trận đòn thù, những vết sẹo ngang dọc trên người ta. Ta luôn hiểu một điều mạnh thì sống, yếu thì chết. Khi ta bị đánh chết trong một trận tranh giành địa bàn bọn chúng đã vứt xác ta dưới đầm lầy. Ta đã ở đó một thời gian dài trong đói khát, oán hận nên khi ông thầy đến ta đã thuận theo để thoát khỏi nơi đó. Những ngày đầu ta thực sự biết ơn ông thầy. Nhưng ta đã nhiều lần nài nỉ ông ta hại người. Phải làm cho người ta ốm, người ta chết để gia đình, người thân phải cầu cạnh, phải cúng lễ nhưng ông ta không nghe. Chúng ta không muốn dưới trướng một ông thầy yếu đuối như vậy nên đã làm phản. Chỉ là ta không ngờ, ông ta lúc sức tàn, chỉ còn thoi thóp lại cố yểm bùa, phong bế để khoá chặt chúng ta ở lại nơi này. Rời khỏi nơi đầm lầy tù túng ta lại bị chôn chặt trong khu vườn này. Ta hận, ta ghét ông ta. Giờ ta muốn được giải thoát. Muốn được ra ngoài kia vặn cổ vài đứa để kiếm rượu, kiếm thịt, kiếm chút khoái lạc.

    Hắn quay sang sư thầy vẫn đang ngồi xếp bằng, trì chú rồi cười gằn:

    – Sư thầy khuyên chúng ta hãy sám hối, buông bỏ để giải thoát ư? Ông còn nói muốn thoát khỏi bể khổ thì phải đi theo Phật, niệm kinh để giải thoát. Giải thoát có giúp chúng ta được sung sướng, được phủ phê hay không? Chúng ta chỉ cần thoát khỏi nơi đây. Chỉ cần không còn kìm kẹp để mặc sức tung hoành, thích làm gì thì làm, thích hại ai thì hại.

    Hắn cười to và nhiều tiếng cười khác cùng phụ hoạ theo. Lúc này đám âm binh, âm hồn đã chia thành hai phe. Một bên là những kẻ mặt mày hung tợn. Một bên là những khuôn mặt vẫn còn vương nét chất phác, hiền lành. Cả hai bên vẫn đang hầm hè chỉ chực lao vào ẩu đả. Ông thầy chắp một tay trước ngực, bẩm lẩm điều gì đó rồi vút một cái linh hồn vụt ông thoát ra khỏi thân xác đang bị nhập. Cùng với việc thoát xác của ông thầy, những âm hồn tàn ác cùng những âm hồn hướng thiện cũng đồng loạt vụt thoát khỏi các thân xác đang nhập để thành những cái bóng mờ. Dù đã thoát xác nhưng các bóng mờ vẫn chia thành hai phe đứng đối diện nhau. Cái bóng của ông thầy lao vào giữa rồi bắt đầu quay tròn, xoay tít trong khoảng trống giữa hai đám âm binh. Cả hai bên đám âm hồn và các thầy đều trừng mắt nhìn. Một bên là thứ ánh sáng mầu vàng, một bên là lớp khói đen. Cứ từng lớp, từng lớp ánh sáng dệt chồng lên nhau. Ở bên kia bóng hình của ông thầy đám khói đen cũng ken chặt từng lớp, từng lớp cao dần. Mải nhìn theo sự kỳ lạ cả đám âm hồn hai bên cùng các con cháu, các thầy cũng đứng im không nhúc nhích. Chỉ có sư thầy biết rằng ông thầy đang vận dụng phép thuật để chia đôi đám âm hồn. Bên hướng thiện cần giải thoát hiện đang đứng ở bên phía ánh sáng mầu vàng. Bên những kẻ hung tợn, gian ác thì lớp khói đen đang tạo thành hàng rào dần vây lấy họ. Khi chỉ còn một chút ít nữa là thành công thì một kẻ trong đám hung dữ chợt nhận ra điều bất thường.

    Hắn hét lớn:

    – Ông ta đang dùng phép thuật để chia rẽ chúng ta. Hãy phá trận thế của ông ta lại.

    Nói rồi hắn cố lao qua bức màn khói đen đặc nhưng bị bật trở lại. Một bên ánh sáng vẫn tiếp tục dệt lên cao, cao mãi. Một bên khói đen vẫn tích tụ, tích tụ ngày một dầy. Cả đám âm binh hốt hoảng cố phá vỡ vòng vây nhưng vô ích. Đám khói đen đặc trông tưởng đơn giản, dễ lao qua nhưng khi chúng đụng vào đều như đập phải bức tường sắt mà bật lại. Chúng lập tức hoảng loạn, kẻ nào kẻ nấy đều cố tìm cách để vượt qua. Sau một hồi sứt đầu, mẻ trán không ăn thua chúng dừng lại thở hổn hển. Cái bóng xoay tròn của ông thầy đã dừng lại, đứng vững giữa hai luồng sáng tối. Một nửa bóng hình ông chìm trong ánh sáng. Một nửa bóng hình còn lại chìm trong bóng tối. Cả luồng ánh sáng lẫn khói đen vẫn tiếp tục bồi đắp về hai bên. Đứng phía bên ánh sáng, khuôn mặt những âm hồn cũng dần dần thả lỏng, thư giãn, nhẹ nhàng. Sự đối lập ngày một rõ rệt giữa một bên là ánh sáng và một bên là bóng tối. Đám âm hồn hung tợn nhìn nhau rồi bất chợt từng đứa từng đứa một nhẩy lên vai nhau hòng nhảy thoát qua đám khói đen đặc đang ngày một cao dần. Đã có kẻ bám được vào mép trên cùng của bức tường khói. Hắn lấy hết sức lay, giật. Một vết nứt toạc ra. Một đám khói đen rơi xuống. Đám bên dưới hò reo, phấn khích. Phía bên này, những âm hồn cũng dàn hàng ngang đưa tay lên cao như cố giữ vầng ánh sáng. Họ muốn dùng lớp ánh sáng chẹn lại đám bóng tối đang bị đạp vỡ từng mảng lớn. Các pháp sư, các thầy cúng, những cô đồng, thầy bóng cũng cùng hiệp lực sau đám âm hồn đứng sau vầng ánh sáng. Tất cả đều cố vươn cao tay như muốn mượn lực, mượn sức giúp vầng ánh sáng đứng vững. Họ đang cùng hiệp lực, cố ngăn không cho bóng tối chọc thủng lớp ánh sáng đó. Vừa làm, họ vừa cất cao giọng đọc kinh. Sức lực, kinh kệ dần giúp cho lớp ánh sáng được củng cố, bớt lay động. Phía bên kia đám âm hồn hung tợn như bị đẩy đến đường cùng lăn xả vào đập phá. Lại có thêm những mảng bóng tối bị những kẻ liều chết đập vỡ. Sư thầy giơ tay lên cao, miệng rì rầm cầu nguyện. Một luồng ánh sáng xanh xẹt xuống như giúp giữ vững hơn lớp ánh sáng đang bị rung lay. Đám âm hồn dữ tợn càng điên cuồng hơn. Chúng không chỉ dùng sức mà còn ném bất cứ thứ gì có thể để hòng phá đi lớp khói đen. Hình bóng của ông thầy không còn đứng giữa hai luồng sáng tối mà vút bay lên cao. Hai bóng chân của ông thầy đứng chênh vênh giữa lớp ánh sáng và bóng tối. Ông có vẻ mệt khi dùng sức quá nhiều. Phía bên dưới đám âm binh hung tợn vẫn đang cố phá đi lớp ngăn cách giữa tầng khói đen và lớp ánh sáng.

    Giọng ông thầy mệt mỏi:

    – Ta đã dùng gần hết phép thuật của mình. Ta biết sẽ không thể cầm cự được lâu. Xin sư thầy và các thầy hãy giúp ta đưa mọi người cùng những linh hồn hướng thiện thoát thật nhanh ra khỏi nơi này. Ta sẽ cố dùng chút sức tàn còn lại để cản bọn chúng.

    Tiếng sư thầy trầm ổn:

    – Ông là người tốt. Ông hãy đi cùng chúng ta. Hãy cùng thoát khỏi khu vườn bị ám này.

    Giọng ông thầy hổn hển:

    – Không kịp nữa rồi. Bọn chúng quá mạnh, quá hung dữ. Ta sẽ ở lại cản chúng cho mọi người rời đi. Ông hãy bảo vệ tốt cho mọi người. Hãy giúp những âm hồn hướng thiện tìm được hướng giải thoát, theo Phật, nghe kinh. Về phần ta, cũng coi như ta chuộc lại một phần tội lỗi của mình. Ta đã chiêu dụ chúng và giờ chính ta sẽ phải giải quyết chúng. Ta sẽ ở lại ghìm chân và giam hãm chúng mãi mãi ở lại nơi đây.

    Bà run rẩy:

    – Ông ngoại! Xin ông hãy cùng mọi người thoát khỏi nơi đây. Con đã khởi tâm nguyện giải thoát cho tất cả. Xin ông hãy đi theo các thầy.

    Giọng ông thầy lào thào:

    – Ta cảm ơn con. Ta biết con có ý tốt. Nhưng không phải tâm niệm tốt nào cũng có thể hoàn thành trọn vẹn. Không phải âm hồn nào cũng đáng được cứu. Có những thứ, có những kẻ mãi mãi không bao giờ hồi tâm chuyển ý. Cái ác, cái xấu đã ăn sâu, bén rễ quá chặt, quá lâu trong bọn chúng rồi. Với những kẻ lòng dạ đen tối thì chỉ có cách ly, chỉ có giam cầm, tách chúng khỏi mọi người thì mới tránh được hậu hoạ, tránh được tai ương. Con đi đi. Đi nhanh với các sư thầy, với mọi người.

    Bà nghẹn ngào:

    – Ông ngoại. Ông cũng là người tốt. Sao ông lại phải chịu một kết cục như vậy? Sao ông lại tình nguyện giam mình cùng với lũ tai ác đó?

    Bà bật khóc nức nở. Giọng ông thầy nhỏ dần:

    – Ta phải trả giá. Trả giá cho những lựa chọn sai lầm của mình khi còn trẻ. Không còn cách nào khác đâu con. Ta nguyện chôn chặt đời mình ở đây để kìm hãm lũ ác ma. Con và mọi người đi nhanh đi. Ta không còn đủ sức giữ được lâu hơn nữa.

    Hình bóng mờ nhoè của hai vợ chồng ma thuyền chài và cậu thanh niên trộm gà cùng hực lên, nức nở.

    Cậu thanh niên bị đánh chết:

    – Thầy ơi, chúng con có lỗi với thầy. Chúng con đã không bảo vệ được thầy. Xin thầy bảo trọng. Chúng con xin từ biệt và mãi mãi đội ơn thầy.

    Hình bóng của ông thầy gầm lên một tiếng, cố xoải thân mình ngăn cho bóng tối không chọc thủng lớp ánh sáng và hét to:

    – Chạy nhanh, chạy nhanh đi!

    Cả đám đông rùng rùng chạy khỏi khu vườn. Sư thầy được các đệ tử trẻ khoẻ hơn dìu đỡ. Các pháp sư, các thầy cúng thì mạnh ai nấy chạy. Đám cô đồng, cậu bóng cũng xô đẩy nhau chạy trối chết. Đám con cháu và đám người hiếu kỳ thì vừa khóc vừa chạy. Bà được các con bà Ba dìu chạy. Vừa chạy bà vừa hét gọi đứa cháu gái hãy chạy thật nhanh. Đám âm hồn giờ chỉ là những hình bóng mờ nhoè chạy sau cùng. Họ như muốn chặn hậu giúp mọi người cùng chạy thoát.

    Chẳng mấy chốc. Cả đám đã chạy thoát khỏi khu vườn. Từ ngoài nhìn lại, cả giàn lễ đang bốc cháy ngùn ngụt. Ánh sáng đã dần lui. Những gương mặt hung dữ cố chạy xuyên qua bóng tối nhưng bị hình bóng của ông thầy giờ đã phình to người với chân tay dài ngoằng cản lại. Cả đám căm hận lao vào đánh đấm, cào cấu ông thầy. Bóng mờ phản chiếu hình ảnh những tảng thịt bị cắn rách, những khớp tay bị bẻ gãy. Nhưng trên gương mặt của ông thầy không còn vẻ đau đớn mà là nụ cười của sự tỉnh ngộ. Chẳng mấy chốc nụ cười cũng tắt ngấm và bóng tối đã phủ lên tất cả.

    Một sự im lặng bao trùm. Tiếng sư thầy khẽ khàng:

    – Đàn lễ đã cháy. Nhưng chúng ta vẫn còn một việc phải làm. Các thầy, hãy cùng ngồi lại. Chúng ta cùng đồng tâm hồi hướng tiễn biệt những linh hồn hướng thiện được tiêu linh, giải thoát.

    Các pháp sư, các thầy cúng, các cô đồng, thầy bóng cùng ngồi lại. Không còn chiêng la, không còn đèn nến. Chỉ có bóng đêm và những lời nguyện cầu được cất lên. Ban đầu còn rời rạc nhưng sau cứ đều dần, đều dần. Những lời trì tụng cứ ken vào nhau mỗi lúc một dầy, một loang xa. Từng cái bóng một tiến dần lại trước các thầy. Họ quỳ xuống, cúi lạy. Rồi trước mắt đám con cháu và những người hiếu kỳ từng luồng ánh sáng mỏng thoát ra từ những bóng hình đang quỳ rạp, cúi lạy từ từ bay lên. Có đám sáng bay rất nhanh. Có đám sáng lại bay từ từ, vòng quanh như tiếc nuối, như muốn nói thêm điều gì rồi mới thong thả tan đi. Khi ánh sáng tan đi cũng là lúc bóng hình mờ mờ mà nó thoát ra tan biến. Cho đến khi đám sáng từ cái bóng cuối cùng biến mất thì các thầy mới dừng lại. Nhiều người ngã vật ra để thở. Nhiều người thở hổn hển vì mệt, vì quá sức. Đám con cháu và những người hiếu kỳ chạy đến đỡ họ dậy. Phía chân trời ánh sáng của ngày mới đã bắt đầu ló rạng. Ban đầu còn mờ nhạt nhưng rồi cứ sáng dần, sáng dần lên. Bóng tối không còn chiếm ưu thế mà lui dần, lui dần.

    Một người thốt lên:

    – Trời sắp sáng rồi!

    Mọi người cùng ngồi lại giữa khoảng đất trống. Không ai bảo ai nhưng họ cùng ngồi lặng bên nhau chờ cho trời sáng hẳn. Không ai còn tâm trạng để tò mò. Cũng không ai còn tâm trạng để dò hỏi. Những gì họ chứng kiến đêm qua như vẫn còn ám ảnh.

    Trời dần sáng rõ. Đã có thêm người đến. Những người nhà đến đón người thân. Những đệ tử đến đón thầy và cả một số người tò mò. Bà lại gần bên sư thầy và các pháp sư, giọng mệt mỏi:

    – Cảm ơn công đức của sư thầy, các pháp sư và các thầy. Mọi người đã cố hết sức của mình rồi. Gia đình chúng tôi xin đa tạ. Xin cảm tạ các thầy!

    Bà cúi đầu thật sâu. Sư thầy giọng xa vắng:

    – Chúng ta cũng đã làm hết sức của mình rồi. Chỉ nguyện mong ông thầy…

    Sư thầy bỏ dở câu nói giữa chừng và nhìn sâu vào trong khu vườn. Nhiều người cố nén sợ cũng nhìn theo hướng nhìn của ông. Khu vườn trông xơ xác như vừa trải qua một trận bão lớn. Nhiều cành cây gãy gục. Chỗ giàn lễ chỉ còn lại một đống tro tàn. Không biết có còn thứ gì ở lại sau đống hoang tàn đó hay không? Nhưng không một ai dám hỏi. Không một lời bàn tán. Tất cả chỉ im lặng. Ký ức về giàn lễ giải thoát như luôn còn đó lại như chưa từng xảy ra.

    Các đệ tử đưa sư thầy và các pháp sư lên xe rời đi. Các thầy cúng và đám cô đồng, thầy bóng cũng lục tục lên xe. Trên gương mặt của một số người vẫn còn vương lại nét bàng hoàng. Mấy thầy trẻ thẫn thờ như chưa thoát khỏi nỗi ám ảnh kinh hoàng của đêm qua. Bà đứng lặng một lát, nhìn lại một lần cuối tất cả rồi cũng lên xe rời đi. Bà biết đây đã là lần cuối. Bà sẽ không bao giờ còn trở lại nơi này. Ký ức 3 năm cùng nỗi ám ảnh về những âm hồn trong khu vườn đó dường như đã khép lại. Mọi việc đã không thành toàn như bà mong muốn. Nhưng như thế cũng là quá đủ. Những người cần giúp, cần cứu bà và các thầy đã cố công làm trọn. Phần còn lại là do họ tự chọn. Bà đã làm xong một ước nguyện lớn ở cõi này rồi. Những tháng ngày còn lại bà sẽ chỉ dành để yêu thương, để tiễn biệt những người yêu dấu. Bà cũng còn phải thu xếp và chuẩn bị cho một chuyến đi rất dài ở phía trước.

    Hết phần I

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG XI: CÂU CHUYỆN CỦA NHỮNG ÂM HỒN

    CHƯƠNG XI: CÂU CHUYỆN CỦA NHỮNG ÂM HỒN

    Các thầy từ người vững tâm đến người đang sợ hãi đều đồng loạt khép mắt. Những tiếng lầm rầm cứ lan dần, lan dần mỗi lúc một to, một dầy. Khi những tiếng kinh cầu ngày một vang, một dầy lên thì những con ma, con quỷ đang quậy phá bỗng như ngơ ngẩn. Các hành động phá phách, đe doạ của chúng giảm dần, giảm dần. Vài ba con chậm rãi bước từng bước một lại trước đàn lễ. Có con đứng, con ngồi, con gục đầu trước đàn lễ. Một khung cảnh kỳ dị khi các thầy đồng loạt khép mắt, nhất tâm trì tụng. Đám âm hồn, ma quỷ thì con khóc, con cười ngây ngô, con im lặng. Chúng đứng ngồi lố nhố trước đàn lễ. Tình huống có vẻ được xoay chuyển khi các lời kinh kệ, trì tụng bắt đầu có tác dụng kìm chế sự phá phách, náo loạn của đám âm hồn. Giữa lúc khung cảnh có vẻ được tạm thời kiểm soát ấy thì con bé cháu của bà ào vào trên chiếc xe máy cùng với một người đàn ông. Nó bước xuống xe rồi đứng như trời trồng trước cảnh tượng trước mắt. Người đàn ông đi cùng cũng lộ vẻ hoảng hốt. Ông lắp bắp:

    – Ta, ta đưa cháu đến nơi rồi nhé. Ta… ta về đây.

    Nói rồi, người đàn ông định quay xe đi. Sự xuất hiện của hai người lập tức phá vỡ tất cả. Đám âm binh như bừng thoát khỏi những lời kinh kệ, trì chú. Vài âm hồn lao ra chặn người đàn ông lại. Một âm hồn cất giọng rè rè:

    – Đi đâu? Ngươi muốn đi đâu?

    Nhìn gương mặt quái dị đang tiến lại gần, người đàn ông thất kinh. Ông ta ngã ngồi xuống rồi cứ thế lùi mãi, lùi mãi cho đến khi cả thân hình run rẩy bị dồn đến một gốc cây lớn. Gương mặt tái mét, ông lắp bắp:

    – Con bé, con bé thuê ta đưa đến tìm bà nó. Ta… ta không lấy tiền nữa. Ta… ta chỉ muốn về.

    Nói xong ông ta khóc nấc lên. Âm hồn nhếch miệng cười, mắt loé lên tia hung ác. Đôi bàn tay đen đúa của nó từ từ nắm lấy cổ ông ta rồi từ từ nhấc lên cao. Người đàn ông ú ớ nhưng không thể thốt lên lời. Đôi mắt ông ta thất thần rồi một dòng nước tiểu chảy xuống. Chính mùi nước tiểu khai nồng đã khiến âm hồn buông tay. Người đàn ông ngã phịch xuống dưới gốc cây, gương mặt như bị rút hết sinh khí.

    Mọi chuyện xảy ra quá nhanh, quá kinh dị khiến cô cháu gái đứng hình. Cô bé đứng như trời trồng. Đôi mắt mở lớn nhìn mọi thứ trước mắt. Bà vội hất tay hai con ma nhỏ rồi lao đến. Bà ôm chặt lấy đứa cháu gái đang kinh hồn lạc phách và lay mạnh. Bà cuống quýt:

    – Sao con lại đến đây. Bà đã dặn con ở yên trong khách sạn rồi mà.

    Bà phải lắc một hồi con bé mới bừng tỉnh rồi mếu máo:

    – Con lo cho bà. Con muốn đến xem bà thế nào nên đã thuê xe ôm đưa đến.

    Hai con ma nhỏ ào đến. Con ma chị gầm gừ:

    – Mi làm tốt lắm. Mi đến đây lo cho bà mi là đúng lắm. Thật là một đứa cháu có hiếu. Kha… kha… kha…

    Con ma em lao đến nắm tóc con bé, cười to:

    – Đang lo không biết làm sao để túm được ngươi. Không ngờ ngươi lại tự mình vác xác đến đây. 

    Như có một sức mạnh vô hình, bà gạt mạnh hai con ma nhỏ ra. Giọng bà trầm ổn nhưng đanh thép:

    – Các ngươi không được đụng đến con bé!

    Hai con ma cười ré lên. Con ma chị giễu cợt:

    – Tại sao chúng ta lại không được đụng đến nó. O tưởng O có thể cấm chúng ta làm gì nó hay sao? 

    Vừa nói dứt lời hai con ma nhỏ kéo cô bé chạy tuốt lên cây. Cô bé vừa thất thần vừa bất lực trước hai con ma nhỏ. Cả ba đang đứng vắt vẻo trên một cành cây cao. Bà cố trấn tĩnh nhưng giọng đã lắp bắp:

    – Nhi… Nhi… con cứ bình tĩnh. Con… con… phải thật bình tĩnh. Chúng là ma quỷ. Chúng sẽ không làm gì được con đâu. Chỉ cần con bình tĩnh, con thật bình tĩnh cho bà.  

    Dường như để trêu ngươi, hai con ma nhỏ bắt đầu lôi kéo cô bé. Một đứa lôi con bé đang sợ chết khiếp lên một cành cao hơn. Còn đang loạng choạng thì một con lại lôi tuột con bé xuống. Động tác chúng mạnh bạo, tàn ác khiến con bé như bị đặt dưới lằn ranh của sự sống chết. Bà đã không còn giữ được sự bình tĩnh. Bà hét lên:

    – Đừng làm hại nó! Ta xin các ngươi đấy. Nó còn bé mà!

    Con ma chị lao xuống từ trên cao. Nửa thân người nó vẫn mắc trên một cành cây. Nó dí gương mặt méo mó vào sát mặt bà:

    – Còn bé ư? Vậy chúng ta và ngươi khi xưa có bé không? Tại sao không ai thương xót vì chúng ta còn bé. Vậy tại sao chúng ta lại phải thương xót nó?

    Nói rồi hai con ma lại tiếp tục quay ra hành hạ cô bé khi lôi nó xềnh xệch từ cành cây này sang cành cây khác. Con bé khóc thét lên gọi bà:

    – Bà nội ơi… cứu cháu với! Cứu cháu…

    Bà cuống lên, chắp tay vái lia lịa, cầu cứu:

    – Xin sư thầy, xin các thầy. Xin ông ngoại hãy cứu lấy con bé. Con xin mọi người!

    Lời bà vừa dứt, thân xác bị ông thầy nhập bỗng nhẩy vút lên. Chỉ vài cái gạt, ông đã hất văng hai con ma nhỏ ra xa. Ông ôm con nhé lao xuống đưa cho bà. Giọng ông gấp gáp:

    – Con hãy mang nó ra khỏi nơi đây. Nhanh lên!

    Trong khi bà còn đang lập cập ôm lấy con bé giờ đã đơ người vì sợ thì hai con ma nhỏ lao vụt đến. Con ma chị cười nhạt:

    – Đi ư? Ai cho phép con bé được đi khỏi đây.

    Nói rồi hai con ma lại lao vào giằng lấy con bé. Ông thầy và mấy con ma khác lao vào cản lại. Sư thầy bước đến phất cao gậy trong tay:

    – Thiện tai, thiện tai. Cứ oan oan tương báo thì bao giờ mới chấm dứt.

    Con ma chị gào lên:

    – Ta không cam lòng. Tại sao cùng là trẻ con mà nó được mọi người yêu thương, được mọi người bảo bọc. Còn chúng ta, chúng ta cũng là trẻ con nhưng lại không được ai yêu thương, không được ai đoái hoài đến. 

    Sư thầy trầm giọng:

    – Các ngươi cứ mãi sống trong oán hận vì không được cha mẹ thương yêu, không được người khác chăm sóc. Sự oán hận đó đã giam hãm các ngươi mãi trôi lăn trong ngạ quỷ. Giờ chỉ có buông bỏ, siêu thoát thì các ngươi mới thoát khỏi vòng sân si, ngu tối.

    Con ma chị:

    – Ta không muốn buông bỏ, ta không muốn tha thứ. Ta muốn mọi khổ đau của ta phải có người trả giá.

    Con ma em:

    – Chúng ta đã sống gần một thế kỷ trong oán hận. Vậy mà tại sao con bé này.

    Tay nó nắm lấy mặt con bé cháu của bà xoay lại và rít lên:

    – Tại sao mày lại được sống trong tình yêu thương, trong sự bảo bọc của mọi người chứ?

    Bà đã cố lấy lại bình tĩnh, cất giọng nhẹ nhàng:

    – Ngoài các O và tôi, 3 chúng ta từng sống khổ sở khi còn thơ bé thì có hàng ngàn, hàng vạn đứa trẻ được sống sung sướng, hạnh phúc trong tình yêu thương và sự bảo bọc của cha mẹ, ông bà. Vậy các O cũng muốn làm hại tất cả những đứa trẻ hạnh phúc đó hay sao? Mà cho dù có muốn làm như vậy thì với sức của các O cũng không thể làm nổi. Vậy tại sao hai O không buông bỏ đi. Hãy giải thoát cho mình cũng chính là giúp các O không còn phải oán hận, đau khổ.

    Con ma chị gầm lên:

    – Tha thứ ư? Vậy những nỗi khổ mà hai chị em chúng ta phải chịu đựng gần một thế kỷ qua là vô ích ư? Phải có kẻ trả giá cho điều đó chứ? 

    Thân xác bị nhập của ông thầy gằn giọng:

    – Nếu có kẻ nào phải trả giá cho điều đó thì chỉ có thể là cha mẹ, là người nhà của các ngươi. Chính họ đã đẩy các ngươi vào bi kịch này khi sống thì không quan tâm, chết thì không cúng lễ.

    Con ma em bỗng khóc nức lên:

    – Ta cũng hận họ. Tại sao họ lại sinh ra chúng ta mà không yêu thương. Tại sao lại để chúng ta có nhà mà không thể về chứ?

    Hai con ma ôm nhau khóc ngất. Tiếng khóc của chúng làm mọi người mủi lòng. Sư thầy nhẹ giọng:

    – Là tại tập quán, tại sự ngu muội nên mọi người mới bị cuốn vào vòng sân hận. Cha mẹ không phải không yêu thương các ngươi. Nhưng cái nghèo, cái khổ cứ cuốn họ đi mãi, không còn thời gian để chăm lo cho các con mình. Khi các ngươi chết. Lại là cái chết không ở nhà thì theo quan niệm sai lầm cha mẹ không dám cho các ngươi về nhà vì sợ các ngươi sẽ đem lại tai hoạ cho gia đình. Tất cả cũng vì hủ tục, vì mê muội mà ra. Các ngươi cũng nên mở lòng để tha thứ cho họ, tha thứ cho mình. 

    Con ma em:

    – Ta cũng mệt lắm rồi. Bao nhiêu năm hận thù, uất ức ta cũng thèm một sự giải thoát, thèm được buông bỏ nhưng ta sợ chúng ta không làm được sư thầy à.

    Con ma chị ngồi bệt xuống, khóc nấc:

    – Gánh nặng của thù hận cũng không dễ mang như các ngươi tưởng đâu. Nó hàng ngày giầy xéo khiến cho chúng ta ăn không ngon, ngủ không yên, ruột gan lúc nào cũng nóng rực. Ta cũng mệt nhưng nhiều lúc lại không cam lòng.

    Sư thầy:

    – Oán hận muốn hết thì chỉ có cởi chứ không nên buộc. Hôm nay, trên đàn lễ trên có Đức Phật, dưới có các quan. Các ngươi có nỗi khổ gì cứ nói hết ra. Chỉ khi nói hết mới có thể buông bỏ, mới có thể siêu thoát được.

    Con ma bé ngước lên:

    – Sư thầy sẽ giúp chúng ta sao? Nhưng một mình ông bao dung thì liệu có cởi bỏ được hết hay không? Còn biết bao kẻ khác không muốn chúng ta được giải thoát.

    Sư thầy nhìn sang thân xác đang bị nhập của ông thầy. Giọng sư thầy nhẹ nhàng:

    – Ta mời ông cùng dự đàn lễ. Ta mời ông cùng nghe những âm hồn kể lại cuộc đời mình. Ta biết tận sâu trong ông không phải người xấu. Ông hãy nghe họ nói, hãy thấu hiểu họ. Biết đâu khi ông giải thoát cho họ cũng chính là tìm ra lối thoát cho chính ông đó, ông thầy.

    Thân xác bị nhập của ông thầy cười gằn:

    – Ta cảm ơn ông đã không chê bai, thoá mạ ta. Ông là chính phái, là đại diện cho Đức Phật từ bi. Ông đã không trách ta vướng vào con đường tà đạo lại còn muốn giúp ta thoát khỏi vòng luân hồi ân ân oán oán. Nhưng ta biết đám âm hồn kia không phải ai cũng muốn như vậy. Nhiều kẻ tâm ma quá nặng, oán hận quá dầy lại thiếu sự thấu hiểu, buông bỏ. Ta chỉ sợ sư thầy phí tâm, phí sức với chúng mà thôi.

    Sư thầy:

    – A di Đà Phật. Đức Phật dạy rồi cứu rỗi chúng sinh là pháp đạo của nhà Phật. Ta cũng chỉ nương theo Pháp ấy mà làm. Xin ông thầy cùng hỗ trợ chúng ta.

    Nói rồi sư thầy bước đi. Ông đến cúi mình nơi giàn lễ rồi ngồi xuống theo tư thế kiết già. Giọng ông trầm vang:

    – Thưa các Đức Phật. Bao năm nay chúng sinh trong khu vườn này bị mê lầm, mãi trôi lăn trong vòng luân hồi ân ân oán oán. Nay đã có người phát tâm từ bi, phát lòng giải thoát. Chúng đệ tử xin các Đức Phật rủ lòng thương để đám âm binh, âm hồn bất tán được một lần giãi bày oan ức, những bi luỵ, khổ đau khiến họ mãi đắm chìm, chấp niệm không thể siêu thoát. Xin các Đức ngài cho họ được một lần cởi bỏ đặng quên đi oán hận, xoá bỏ chấp niệm để có thể siêu thoát, đầu thai chuyển kiếp. 

    Lời sư thầy vừa dứt, gió bỗng nổi lên. Đám con cháu tái người vì sợ hãi. Tất cả như nín thở để chờ đợi. Con ma chị là kẻ đầu tiên lên tiếng:

    – Ta là Côi.Ta mất khi mới mười một tuổi. Khi ta còn sống cha mẹ, ông bà đều không yêu thương. Họ luôn nói con gái chỉ là nuôi cho có. Lớn lên đi lấy chồng là hết. Lúc đó lại chỉ biết lo cho nhà chồng mà thôi. Vì nghĩ như thế nên khi ta sống họ không yêu thương. Khi ta ốm họ cũng thờ ơ. Chỉ đến khi thấy ta nằm li bì suốt mấy hôm, không ăn uống được họ mới võng ta đến nhờ ông thầy cứu chữa. Khi ta mất, họ cũng sợ tốn kém nên không làm lễ mà chỉ chôn cất qua loa khiến ta không thể về nhà. Ta là kẻ có nhà mà lại không thể về. Ta hận họ. Ta có cha có mẹ mà cũng như không. Tại sao cùng là con nhưng ta không được thương như anh cả, được quý như em út. Tất cả chỉ vì ta là con gái hay sao?

      Nói rồi con ma chị khóc nấc lên. Nhiều người lén lau nước mắt. Con ma chị tiếp tục:

    – Vì không thể về nhà nên ta mới đến khu vườn này. Ông thầy không thu nạp nhưng cũng không xua đuổi chị em ta. Chúng ta sống vất vưởng không tình thương ngay cả khi còn sống hay khi đã chết. Tại sao chứ? Tại sao chỉ vì chúng ta là con gái mà không được cha mẹ yêu thương? Tại sao lại sinh chúng ta ra trong khi không yêu thương chứ? Ta hận, ta rất hận!

    Nói rồi, con ma chị lại bật khóc lăn lộn. Sự giẫy giụa khùng điên của nó làm mọi người sợ hãi. Nhưng cũng nhiều người thương cảm cho con ma nhỏ. Con ma em nhào đến ôm lấy chị. Nó thì thầm:

    – Có em thương chị. Chị em mình thương nhau là đủ!

    Con ma chị càng khóc to hơn. Con ma em sụt sùi:

    – Ta cũng mất khi còn nhỏ, mới có 8 tuổi. Khi còn sống ta cũng chỉ có chị luôn ở bên chơi đùa và chăm lo cho ta. Khi ta mất, chị cũng là người luôn bên cạnh. Chị bảo gì ta làm nấy. Chị đi đâu ta sẽ đi theo chị.

     Sư thầy chậm rãi:

    – Tình cảnh của hai chị em ngươi thật đáng thương. Nhưng các ngươi cũng đừng trách cha mẹ mình. Các ngươi sinh ra vào lúc tư tưởng phong kiến còn quá nặng nề với việc trọng nam khinh nữ. Cha mẹ các ngươi bảo thủ nên yêu con trai, thờ ơ với con gái. Họ cũng chỉ là nạn nhân của một thời còn nhiều ấu trĩ. Ở thời điểm đó, không chỉ gia đình các ngươi, nhiều gia đình cũng không yêu thương con gái. Nếu có trách thì phải trách hoàn cảnh lúc đó nó như vậy. Chuyện cũng đã qua nhiều năm rồi. Giờ cha mẹ các ngươi cũng đã không còn trên cõi đời này. Các ngươi hãy tha thứ cho họ, hãy buông bỏ mọi oán hận. Các ngươi hãy thành tâm theo Phật, sám hối tội lỗi, tụng kinh giải thoát. Ta tin với lòng bao dung của Đức Phật, chị em ngươi sẽ tìm được sự giải thoát và nếu đủ duyên sẽ tìm được người yêu thương các ngươi thật lòng.

    Con ma chị bỏ em lại và sán đến bên sư thầy, chất vấn:

    – Sẽ có người yêu thương chị em ta thật sao? Họ sẽ yêu thương chúng ta dù chúng ta là con gái ư?

    Sư thầy:

    – Con gái cũng là con của Phật mà. Các ngươi cứ thành tâm sám hối, cứ thật lòng hối cải thì sẽ tìm được sự cứu rỗi.

    Con ma em chạy lại ôm lấy chị rồi khẩn khoản:

    – Xin sư thầy hãy giải thoát cho chị ấy. Bao năm nay chị cũng khổ sở quá rồi. Ta còn bé nên khi chết cũng không nhớ được nhiều. Ta không nhớ cha, cũng chẳng nhớ mẹ. Ta lúc nào cũng chỉ lủi thủi bên cạnh chị. Chị là mẹ, là chị của ta. Chị ấy đi đâu, ta sẽ theo đó. Chị ấy làm gì, ta sẽ làm theo. Xin sư thầy hãy giúp hai chị em ta.

    Hai chị em con ma ôm chặt lấy nhau. Sư thầy quay sang thân xác bị nhập của ông thầy rồi trầm giọng:

    – Xin thầy hãy gỡ bỏ bùa phép để giúp chị em chúng được siêu thoát. Chúng chỉ là trẻ con lại không được yêu thương nên sinh lòng oán hận. Dù chúng đã làm sai, đã ra tay tàn ác nhưng đã biết quay đầu. Ngày trước, thầy vì thương mà không nỡ đuổi. Giờ chúng đã biết lỗi, đã thật lòng sám hối. Xin thầy bao dung cho chúng. Xin thầy hãy gỡ bỏ bùa phép, xoá bỏ trấn yểm để giúp chị em chúng được siêu thoát, được ra khỏi khu vườn này. 

    Con ma chị nhào đến bên ông thầy:

    – Xin thầy tha cho chúng con. Dù đã phạm tội giết người nhưng bao năm qua chúng con đã bị trừng phạt khi phải ngụp lặn trong đói rét, khổ sở, oán hận. Nay chị em con thật lòng biết tội. Xin thầy rủ lòng thương!

    Thân xác ông thầy trầm giọng:

    – Ta chưa bao giờ ghét chị em các ngươi. Ta biết các ngươi còn nhỏ, không người chăm sóc nên cũng không muốn khe khắt. Chỉ là không muốn các ngươi ngày càng dấn sâu vào con đường hại người nên ta mới phong ấn, mới nhốt chị em ngươi lại trong khu vườn này. Nay nếu chị em ngươi thật tâm hối cải, muốn sửa mình theo Phật thì ta cũng sẵn lòng tha thứ.

    Hai con ma sán lại bên ông thầy. Con ma chị khẩn khoản:

    – Chị em con thật lòng biết lỗi rồi. Xin thầy khai ân!

    Ông thầy khép mắt, miệng lẩm bẩm vài câu thần chú. Một tay ông thầy khua lên hướng về phía hai chị em con ma nhỏ phác lên những nét ngang dọc. Từ người hai chị em con ma nhỏ bốc lên một tia sáng xanh. Tia sáng quanh quẩn một lát rồi chậm chậm bốc lên cao và tan vào hư không. Hai đứa bé bị nhập ngã vật ra. Mọi người cuống quýt xoa bóp lay kéo một lát thì chúng tỉnh lại. Chúng ngồi dậy ngơ ngác nhìn mọi người như không hiểu chuyện gì đang xẩy ra. Một người phụ nữ bỗng khóc oà rồi bước ra từ trong đám đông. Bà ta gục xuống trước mặt sư thầy:

    -Thưa thầy, xin thầy cứu vớt vợ chồng chúng con với! Con là con gái nhà nghèo. Năm con 16 tuổi được cha mẹ gả chồng là một thanh niên làng chài. Vợ chồng con nghèo nhưng chưa từng làm điều sai trái. Chồng con chăm chỉ làm lụng. Bữa ấy, bạn chài có đám. Chồng con có uống đôi ba chén rồi say rượu ngã xuống sông. Con vì cứu chồng mà nhẩy xuống. Không ngờ anh ấy quá khoẻ nên đã kéo con chết chung. Khi con chết, đứa con ba tháng tuổi trong bụng cũng chết theo. Xác của hai vợ chồng dạt vào một bãi trồng lạc. Người ta đã thương tình bọc cả hai vào trong chiếc chiếu đem chôn. Chúng con nghèo, lại chết ở quãng sông xa làng xa xóm nên không ai biết mà cúng giỗ. Vì không siêu thoát nên chúng con cứ mãi lang thang nơi khúc sông ấy. Chúng con cứ ở đó cho đến lúc gặp ông thầy. Chồng con đã được ông thầy chiêu mộ. Con phận đàn bà không được thu nạp nên cũng chỉ đi theo chồng nhặt tý cơm thừa, cơm rơi, cơm vãi. Dù khổ cực nhưng chúng con không một lời oán trách. Ngày ông thầy bị mấy âm binh sát hại, chồng con cố ngăn họ mà không được. Nay ơn phúc được gặp, xin sư thầy, xin ông thầy giáng tay làm phúc giải thoát cho 3 người nhà chúng con thoát khỏi mọi khổ đau.

    Sư thầy lặng im không nói gì. Mắt vẫn khép với lời trì niệm lầm bầm trong miệng. Người phụ nữ lết đến bên ông thầy:

    – Xin thầy khai ân bỏ bùa, phá mọi trấn yểm giúp chúng con thoát khỏi nơi này. 

      Ông thầy gật gù:

    – Vợ chồng ngươi thật thà, lại thương yêu nhau. Cũng là một kiếp người nhưng số vợ chồng ngươi thật khổ. Sống thì không trọn kiếp. Chết cũng không có người thân lo mồ mả tử tế. Nể tình các ngươi trung hậu, ta phá bùa, mở yểm giải thoát cho vợ chồng các ngươi. Ta cũng mong gia đình ba người các ngươi sẽ thuận lợi đầu thai, chuyển kiếp.

    Ông thầy vừa dứt lời thì có một người đàn ông lao ra từ trong đám người quỳ sụp xuống trước mặt ông thầy:

    – Đội ơn thầy thương xót. Cảm ơn thầy đã không trách tội khi con không bảo vệ được thầy. Nay thầy gia ân xoá bùa, bỏ yểm giúp chúng con thoát khỏi khu vườn, vợ chồng chúng con ngàn lần đội ơn thầy. 

    Nét mặt ông thầy như giãn ra. Một nụ cười hiếm hoi xuất hiện. Ông nhắm nghiền đôi mắt, miệng lẩm bẩm bắt quyết rồi hướng tay về phía hai vợ chồng. Bỗng một tiếng cười ghê rợn vang lên rồi một người đàn ông to béo khật khưỡng bước tới. Nhìn nét mặt biến dạng của ông ta mọi người đều thất kinh. Ông ta gằn giọng:

    – Xoá bùa, bỏ yểm để giải thoát ư? Ông tha cho hai con ma nhỏ thì ta không cản vì chúng chỉ là lũ trẻ ranh. Nhưng còn hắn thì không được tha. Chính hắn đã sống chết ngăn cản tụi ta khi chúng ta hại ông. Hắn đã đánh bị thương vài người trong số các anh em của ta. Ta không thể tha cho hắn. 

    Nói rồi hắn lao vào người đàn ông. Cả hai đánh nhau dữ dội. Người đàn bà chỉ biết gào khóc.

    Có thêm nhiều người cùng lao vào cuộc ẩu đả. Họ đều bị những âm hồn thâm nhập và điều khiển các hành vi. Sư thầy chỉ điềm nhiên niệm Phật, mắt khép hờ, như bàng quan với trận ẩu đả trước mắt. Thân xác bị nhập của ông thầy tỉnh queo theo dõi cuộc ẩu đả. Môi ông thầy nhếch khẽ nụ cười không rõ là vui hay buồn. Miệng ông thầy lẩm bẩm:

    – Trần hay âm thì những tham luyến, đố kỵ vẫn luôn chi phối, điều khiển tất cả. Những ngày luyện âm rồi sống cùng lũ yêu ma các ngươi ta thấy thế giới âm hồn còn nhiều mê lầm, tăm tối. Các ngươi thiếu đi người dẫn dắt nên mọi đúng sai, hay dở đều tuỳ thuộc vào sự tỉnh thức và tu luyện của mỗi người. Khi hiểu ra điều đó, ta đã cố gắng không phạm vào các điều xấu. Cũng giữ cho các ngươi không sa vào tối tăm, oán hận. Nhưng sức ta có hạn. Ta đã không hướng được nhiều người trong số các ngươi không sa vào đường ác. Giờ thì các ngươi cũng tự chọn phía, tự chọn kết cục cho mình rồi.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG X: ĐỐI MẶT

    CHƯƠNG X: ĐỐI MẶT

    Bà rón rén bước tới rồi ngồi quỳ xuống bên cạnh thân xác đang bị ông thầy nhập vào. Nhìn cái đầu đang cúi gằm mặt trước ban nhỏ, giọng bà khẩn khoản:

    – Ông ngoại! Ông Ngoại ơi… Ông có nhận ra con không?

    Không một tiếng trả lời. Nhiều gương mặt nín thở. Thân xác bị ông thầy nhập vẫn ngồi gục đầu sâu xuống. Bà tiếp tục:

    – Ông ngoại… ông không nhận ra con sao?

    Thân xác bị ông thầy nhập từ từ ngẩng lên. Một tròng mắt trắng dã rồi dần dần chuyển sang đen kịt. Thân xác cất giọng:

    – Trang… Trang… đúng là cháu rồi!

    Bà lắp bắp, mừng rỡ. Thoáng chốc như quên luôn cả sự sợ hãi:

    – Ông ngoại ơi con đây. Con là con bé Trang, cháu ngoại của ông đây, ông ơi!

    Thân xác bỗng cười gằn:

    – Sao con lại ở đây? Chả phải con hận chúng ta sao? Con hận ta đã không bảo vệ được con. Con hận bà Ba hay đánh đập, chửi mắng con ngày bé.

    Bà lập cập:

    – Vâng, con từng giận ông, từng rất ghét bà Ba. Nhưng tất cả đã qua rồi ông ạ. Giờ con cũng sắp đến lúc phải đi theo ông, theo bà Ba rồi. Con không muốn mang theo oán hận khi rời khỏi cuộc đời này. Con muốn ông mở lòng giải thoát cho đám âm binh đã đi theo ông ngày xưa. Giải thoát cho cả hai chị em con ma nhỏ đã mất vì bệnh tại nhà ông ngày trước.

    Hai con ma nhỏ chạy ào đến bên bà. Khuôn mặt méo mó, kinh sợ của chúng ghé sát vào mặt bà. 

    Một con:

    – Ngươi là con bé năm xưa đây mà. Ngươi đã từ chối đi theo chúng ta không biết bao lần. Rồi ngươi đã sống mấy chục năm qua ở đâu? Ngươi đã lấy chồng, sinh con rồi còn có cả cháu. Giờ sao ngươi lại về đây? Ngươi lại còn xin ông thầy giải thoát cho đám âm binh, giải thoát cho cả chúng ta nữa. Tại sao? Tại sao hả?

    Nhìn đôi mắt và bộ mặt kinh dị của chúng bà thoáng hoảng hốt. Đang chưa biết trả lời sao thì con ma chị tiếp tục. Giọng nó gằn lên:

    – Là ngươi đang thương hại chúng ta hả? Là ngươi đã sống trọn vẹn cuộc đời của mình và giờ ngươi sắp về một cõi chung với chúng ta nên mới nhớ đến mọi chuyện và xót thương chúng ta hay sao?

    Hai con ma nhỏ vừa áp sát gương mặt dữ tợn vào bà vừa không ngừng chất vấn. Con ma chị lại rít lên, đôi tròng mắt nó trắng dã:

    – Ngươi thương hại chúng ta hả? Ngươi nghĩ sao khi bao năm qua ngươi quên lãng tất cả rồi giờ đây khi sắp đi hết con đường trần của mình, ngươi lại về đây, lại mong muốn chúng ta được giải thoát? 

    Hai con ma cười ré lên ranh mãnh, chúng tiếp tục truy vấn. Con ma em tiếp lời:

    – Là ngươi đã sống hạnh phúc, đã sống sung sướng nên ngươi quên chúng ta sống khốn khổ, sống mòn mỏi ở đây phải không? Giờ sắp hết đời rồi ngươi mới nhớ ra chúng ta. Mới muốn làm người tốt. Chúng ta không cho phép. Chúng ta không cần ngươi giúp.

    Con ma chị gầm ghè:

    – Con bé cháu gái của ngươi xinh thật đấy. Nó có vẻ rất vui sướng, rất hạnh phúc. Có lẽ nó chưa từng biết đến khổ sở, đến những đòn roi, mắng chửi và đói rét như ngươi và chúng ta ngày xưa. Ngươi có biết nhìn nó ta thấy rất chướng mắt không? Tại sao hôm nay ngươi lại không mang nó đến đây. Ngươi đề phòng chúng ta sao? Ngươi sợ chúng ta sẽ làm hại con bé đúng không? Ngươi muốn giải thoát cho chúng ta ư? Có thật là ngươi mong muốn điều đó hay ngươi chỉ đang muốn diệt bỏ chúng ta để sau khi ngươi đi rồi con cháu của ngươi sẽ không bao giờ phải lo lắng nữa. 

    Ông thầy cười khà khà:

    – Con là đứa bé cao số. Con đã thoát khỏi sự rủ rê của chúng biết bao lần. Nhưng con quên lòng hận thù đã biến chúng thành quỷ. Chúng không còn biết đến lẽ phải, đúng sai hay đạo lý. Đáng lẽ con không nên quay về đây. Đáng lẽ con phải tránh thật xa nơi này. 

    Hai con ma nhỏ cười ré lên. Con ma chị cất giọng the thé:

    – Muộn rồi ông thầy ơi. Là nó, là bà ta đã tự dẫn xác tới. Nếu bà ta không tự đến thì với những phong ấn của ông lên chúng ta, lên khu vườn này vĩnh viễn chúng ta cũng không thể ra khỏi nơi đây.

    Con ma em hung dữ ghé sát mặt bà:

    – Giờ ngươi muốn được giải thoát, được thanh thản hay muốn diệt trừ hậu hoạ mai sau cho con cháu của ngươi? Ngươi hãy mang con bé kia tới đây. Hãy mang nó tới đây chứ không phải chỉ mang mỗi cái thân già của ngươi đến.

    Ông thầy cười gằn:

    – Con cứ mặc kệ chúng. Khi xưa con còn bé chúng còn chả làm gì nổi con. Giờ đây, con cũng sắp đi theo chúng ta rồi. Dù chúng có là quỷ thì cũng không làm gì được con đâu.

    Hai con ma nhỏ lồng lên vì tức giận. Chúng nhảy lên kéo đổ những đồ lễ được bày trên bàn của ông thầy. Ông thầy có vẻ không thèm đếm xỉa đến chúng mà quay sang phía cô cháu gái. 

    Ông chậm rãi:

    – Con đã có 3 năm sống khổ sở tại nơi này.Ta đã không bảo vệ được cho con. Khi biết con không muốn quay lại ta đã hiểu và không trách cứ. Đáng lẽ con phải quên hết mọi chuyện và đừng bao giờ trở lại nơi này.

    Bà níu lấy tay ông ngoại, gấp gáp:

    – Ông ơi, là con có lỗi. Dù ông không bảo vệ được con nhưng con luôn biết là ông thương con. Đáng lẽ con phải về thăm ông. Con phải về chịu tang ông khi ông mất. Nhưng con đã sợ! Con sợ những năm tháng quá khứ. Con sợ khu vườn này. Nỗi sợ đã làm con hèn yếu, làm con bất hiếu. Xin ông hãy tha lỗi cho con!  

    Ông thầy:

    – Ta chưa bao giờ trách con. Ta hiểu vì sao con lại hành xử như vậy. Cả ta và bà Ba đều không có quyền trách cứ con. Ta chỉ lo cho con. Ta sợ ta không bảo vệ được con và con cháu của con trước lũ quỷ này.

    Hai con ma nhỏ sà đến, mắt chúng trợn lên đầy vẻ hiểm ác. Con ma chị cất giọng đe doạ:

    – Ông lo đúng đấy. Giờ ông hết phép rồi. Ông sẽ không thể làm gì được bọn ta. Ông cũng sẽ không thể bảo vệ được nó.

    Bà bỗng cười lạnh, giọng cứng cỏi:

    – Ông đừng lo cho con. Những năm qua con đã quy y theo Phật. Con đã tham gia các đội trợ niệm. Con đã chứng kiến và tiễn đưa nhiều người đi vào cõi chết. Con đã không còn thấy cái chết đáng sợ. Con cũng không còn sợ ma hay quỷ thần gì đó. Con chỉ không muốn những âm binh theo ông ngày xưa mãi mãi bị kẹt lại nơi đây. Con không muốn họ và cả hai chị em con ma nhỏ phải sống trong oán hận.

    Một giọng ồm ồm cất lên:

    – Cô thật lòng mong như vậy chứ? Cô thật sự mong chúng tôi sẽ thoát khỏi nơi đây?

    Mọi người đều hoảng hốt nhìn lên. Một người đàn ông cao lớn đang bị một âm hồn nhập vào. Giọng nói tuy ồm ồm nhưng dáng vẻ không có gì hung dữ. 

    Bà gật đầu xác nhận:

    – Tôi thật lòng mong muốn điều đó. Ngày nhỏ, khi còn sống ở đây thi thoảng tôi đã nhìn thấy các vị. Đôi khi tôi còn nghe thấy các vị trò chuyện hay trách móc. Tôi cũng biết chút ít về những việc ông tôi đã làm. Dù không biết các vị đi theo ông tôi vì lý do gì hay đã làm những gì. Nhưng tôi thật lòng mong muốn mọi người được ra khỏi khu vườn này, được siêu thoát và được làm theo những lựa chọn của riêng mình. 

    Một giọng nói khác cất lên, nghe đầy oán hận:

    – Làm theo lựa chọn ư? Đã từ lâu rồi, kể từ khi chúng ta đi theo ông thầy chúng ta đã không thể làm theo lựa chọn của mình rồi. Chúng ta bị bó buộc trong bùa phép, trong các lễ khao binh và phải làm theo các mệnh lệnh, các sai khiến từ ông thầy.

    Ông thầy cười gằn:

    – Làm theo lời ta ư? Vậy ta có bảo các ngươi làm phản và hại chết ta không? Là các ngươi bất mãn vì ta có đôi lần ngủ quên khiến các ngươi suýt bị lộ diện. Là các ngươi chê ta khao quân mỗi ngày mỗi ít nên sinh lòng oán giận và làm hại ta. Đồ quân bất nghĩa, quân phản chủ!

    Một tiếng cười hực lên. Tiếp đó là giọng châm chọc:

    – Ông chê chúng ta bất nghĩa, chúng ta phản chủ ư? Vậy sao ngay từ đầu ông lại phong ấn và giam giữ chúng ta tại đây. Ông không cho chúng ta đi đâu mà không theo hiệu lệnh và sự điều động từ ông. Chúng ta cũng chỉ được làm những việc mà ông sai bảo. Ngay từ đầu ông đã luôn đề phòng chúng ta.

    Ông thầy:

    – Đúng là ta luôn đề phòng các ngươi. Ngay từ đầu khi chiêu mộ ta đã biết các ngươi đâu phải người tốt. Các ngươi theo ta chỉ vì cần miếng ăn, chỉ vì cần chỗ dựa. Nếu không phong ấn sao ta có thể sai khiến và kiềm chế được các ngươi?

    Một giọng ầm vang đầy oán hận rít lên qua thân xác người bị nhập:

    – Vì bị ông kìm chế nên chúng ta đã không thể tự tay bóp chết mấy kẻ đáng ghét. Không thể giúp ông kiếm thật nhiều tiền để khao lễ thịnh soạn cho chúng ta. Là tại ông hết. Ông hại chúng ta theo ông nhưng lại không cho chúng ta giết người nên chúng ta đã không được no say, không được thoả mãn.

    Ông thầy:

    – Cả đời ta, ta đã luôn tự hỏi mình có sai không khi thu nạp âm binh. Thu nạp lũ các ngươi. Khi xưa ta còn trẻ, ta thích khoe tài, thích ra oai nên mới dấn thân theo con đường tà đạo. Nhưng ta luôn muốn giữ ranh giới. Ta không muốn làm ác. Ta không muốn hại người. Nhưng ta biết ta sẽ không quản nổi sự tham lam, độc ác của một số kẻ trong các ngươi. Ta biết vì oán ghét, vì muốn hại người, vì muốn phè phỡn, thoả mãn các ngươi có thể làm ra những điều tàn ác. Vì thế ta mới phải phong ấn, phải dùng bùa phép để kìm chế, trấn áp các ngươi. 

    Hai con ma nhỏ cười khanh khách. Con ma chị cười khẩy:

    – Thế ra ông không thu nạp bọn ta lại là hay. Chúng ta không phải nghe ông sai khiến. Không phải theo ông sống khổ, bóp mồm, bóp miệng. Nhưng tại sao ông vẫn trấn yểm và phong ấn chị em ta khiến chúng ta không thể thoát khỏi khu vườn này?

    Ông thầy cười khà khà:

    – Chị em ngươi còn phải hỏi sao? Tại sao ta phải phong ấn chị em các ngươi? Chả phải chị em các ngươi đã biến thành quỷ, đã giết người thanh niên ấy hay sao? Nếu ta không nhốt lại thì chị em các ngươi sẽ còn làm hại biết bao người nữa chứ?

    Hai chị em con ma gầm lên, nhào đến ông thầy. Con ma chị rít lên:

    – Chúng ta muốn làm gì thì làm. Liên quan gì đến ông?

    Một trận hỗn chiến lại xảy ra khi hai chị em con ma nhỏ và vài ba âm binh hùa nhau vào cấu xé ông thầy. Nhưng có một đám khác lại lao vào đánh trả chúng để bảo vệ ông thầy. 

    Trong lúc hỗn loạn, một pháp sư bước lên miệng đọc quyết, tay vung lên làm phép. Mấy pháp sư khác cũng tung lên không trung một nắm bùa. Các lá bùa có cái mầu vàng, có cái mầu trắng, cái mầu đỏ trên vẽ loằng ngoằng các chữ tượng hình cùng những hình thù kỳ dị. Lại có lá bùa như loang chút vệt đỏ trông giống như máu ở giữa các hình vẽ, giữa các chữ viết. Có lá bùa ngoài hình và chữ còn ngoằng thêm sợi chỉ đỏ đính kèm. Những con ma đang hung hăng liền đứng yên với nhiều tư thế khác nhau như bị phong ấn, bị đóng băng. Có vài con trên đầu, trên trán bị dính các lá bùa mà các pháp sư vừa tung lên không trung trước đó. Nhiều con mắt lồi lên vì tức giận. Những gương mặt méo mó, quỷ dị sau lá bùa. Lại có những gương mặt nhẫn nhịn, hiền lành. Tất cả đều khựng lại bất ngờ và đứng yên trong những tư thế khác nhau khi bị khẩu quyết, bùa phép phong ấn. 

    Nhóm các thầy còn lại cũng sững sờ với cảnh tượng trước mắt. Sư thầy nói chầm chậm như giảng giải lại như nói với chính mình:

    – Không chỉ ở cõi trần mới bị cuốn vào thiện ác, đấu tranh. Cõi âm cũng đầy những ganh ghét, đố kỵ, lòng tham và cả sự nhân từ, tử tế. Ông thầy tuy ngạo mạn, cậy tài mà bước vào con đường tà đạo. Nhưng ông ấy vẫn có lương tâm nên chỉ dùng đám âm binh vào những việc lặt vặt hay thu thập thông tin, hoá giải ma quỷ. Ông ấy sử dụng âm binh để tìm cách chế ngự cái xấu, cái ác chứ cũng không dùng những âm hồn để hại người, lợi mình. Việc làm của ông đã làm mếch lòng một số âm binh tàn ác. Nhưng các thầy thấy đó, vẫn còn một số âm binh hết lòng ủng hộ và bảo vệ ông thầy. Cái xấu, cái tốt ở trên đời không phải lúc nào cũng có thể rành rọt, rõ ràng. 

    Một thầy dè dặt:

    – Vậy bây giờ phải làm sao hả thầy?

    Sư thầy:

    – Giờ rất cần ông thầy giúp ta. Chính ông ấy cũng phải buông bỏ thù hận với những âm binh đã làm hại mình và đồng ý xoá đi những bùa phép, trấn yểm. Khi ông ấy buông bỏ, lại có thêm sự giúp sức của những âm binh tốt cùng sự trợ lực của các thầy thì mọi việc mới có thể hóa giải.

    Một thầy còn trẻ, chắc chưa tham gia nhiều vào những việc như vậy nên nét mặt vương đầy sự sợ hãi. Thầy ta lắp bắp:

    – Liệu… liệu chúng ta có ngăn được họ không thầy? 

    Sư thầy trầm ngâm:

    – Phải có lòng tin chứ thầy. Làm những việc tâm linh, việc thiện mà không có lòng tin thì làm sao mà thành công được.

    Ông thầy trẻ vẫn run:

    – Nhưng họ là tà ma. Họ quá ác độc.

    Sư thầy trầm ngâm:

    – Chúng ta phải có niềm tin. Phải cố gắng để làm hết sức của mình.

    Một thầy rụt rè:

    – Mình có thể dừng lại được không thầy? Một số âm hồn thật sự không đáng được giải thoát.

    Sư thầy giọng trầm xuống:

    – Thầy hãy mở lòng mình ra. Đã muốn giải thoát cho họ thì hãy kiên định mà làm đến cùng. Dù thành hay bại thì ta cũng đã khởi tâm để làm một việc tốt. Với những việc như thế này, khi đã bắt đầu thì sẽ không có đường lui đâu.

    Câu nói của sư thầy làm các thầy cúng run lên. Một người lắp bắp:

    – Thầy… thầy nói vậy là sao? Sao lại không có đường lui? Con… con không biết mọi chuyện lại điên rồ đến mức này.

    Sư thầy trầm tĩnh:

    – Chúng ta đã đi đến bước này rồi thì phải kiên định để đi đến cùng, không được dao động. Phải đồng tâm hiệp lực thì mới qua được cửa ải này. Khẩu quyết, trì niệm và bùa chú cũng sẽ chỉ giữ được chúng một lúc thôi. Các thầy phải thật vững tâm, phải tin tưởng vào việc làm của mình.

    Ông thầy vừa dứt lời thì đám âm binh bị phong bế bất ngờ với những tư thế khác nhau như được giải thoát. Vài con giật lấy những lá bùa bám dính trên đầu, trên mặt và vứt xuống đất. Có lá bùa tự rơi xuống. Có lá lại tự huỷ, tự cháy. Chúng lại lao vào đánh nhau. Vài đứa còn lao thẳng vào đám con cháu và những người hiếu kỳ đang mặt mày xanh lét. Cả đám đông bỗng chốc hỗn loạn, mạnh ai nấy chạy. Nhưng chạy đâu cho thoát. Vài người đang cắm cổ chạy thì bất ngờ bị một âm hồn lao ra chặn đường với mái tóc dài, đôi mắt trắng dã làm họ ngã vật ra vì sợ. Có người dù đã ngã vẫn cố lết, cố lùi về sau khi thấy một bóng ma cứ lầm lũi tiến đến. Có người lại chui đại vào một bụi cây để mong trốn thoát. Nhưng vừa chui vào bụi chưa kịp thở thì một rồi hai bàn tay với các ngón đen xì, dài nghêu với những chiếc móng nhọn hoắt lại thong thả gỡ từng cành cây ra trong đôi mắt khiếp đảm của người đang trốn. Khắp vườn vang lên tiếng khóc, tiếng thét vì sợ hãi. Có người sợ quá còn nhảy đại xuống cái hồ nhỏ làm lũ âm binh ré lên cười thích thú. Hai con ma nhỏ thì áp sát hai bên người bà. Chúng mặc kệ thân hình đã già nua mà cứ nhí nhảnh, giằng xé, kéo bà cùng nhẩy một điệu nhẩy trẻ con của chúng. Trong khung cảnh hỗn loạn đó, sư thầy vẫn cố trấn tĩnh. Ông trầm giọng nói với các thầy:

    – Các thầy tập trung vào. Nhất tâm trì tụng để các đức Phật lan toả sự giải thoát, từ bi đến tất cả. Cả những người đang sống và cả các âm hồn đang lạc lối trong thù hận, khổ đau.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG IX: NỖI OÁN HẬN CỦA ÔNG THẦy

    CHƯƠNG IX: NỖI OÁN HẬN CỦA ÔNG THẦY

    Bỗng một người trong đội hỗ trợ trợn mắt rồi cười gằn từng tiếng. Mọi người đổ dồn ánh mắt tò mò. Không ai nói ra nhưng mọi người đều ngầm hiểu đang có một âm hồn mượn vào xác phàm. Người đó cười gằn, ánh mắt căm hận nhìn quét khắp một lượt rồi cất giọng.

    – Ta là ông thầy. Chính ta đã thu nạp và nuôi dưỡng lũ âm binh các ngươi. Ta đã cho các ngươi công việc, khao cúng các ngươi những bữa ăn. Ta cũng chưa từng bạc đãi hay dùng các ngươi vào những việc xấu, những việc hại người. Cái mà ta lấy từ các ngươi chỉ là các công việc vừa sức, các thông tin để biết xem gia chủ đó bị bệnh dương hay bệnh âm. Có lỡ xúc phạm hay động mồ mả nơi nào để cúng lễ, trừ yểm. Ta cũng có vài lần sém ngủ quên khiến các ngươi suýt gặp nạn vì lộ thiên. Ta thừa nhận khao binh mỗi ngày một kém. Nhưng đó đâu phải lỗi của ta. Ai cũng nghèo, ai cũng khổ. Ta dù đã cố gắng cũng không thể lấp đầy những cái miệng tham lam của các ngươi. Vậy mà các ngươi lại đem lòng oán thán rồi hại chết ta – thầy của các ngươi. Các ngươi tưởng thoát khỏi tay ta thì sẽ tự do, sẽ sung sướng hơn ư? Ai sẽ tạo công việc cho các ngươi. Ai sẽ mang đến những bữa ăn cho những cái miệng tham lam của các ngươi? Các ngươi nghĩ mình chỉ cần quấy phá thì sẽ được người ta cúng bái, người ta cung phụng ư? Các ngươi không nghĩ họ cũng có đầu óc. Họ có thể xin bùa chú để cấm cản, để trừ khử các ngươi sao? Nếu dễ dàng tác hoạ đến thế thì tại sao các ngươi không tự mình làm mà phải quy phục dưới trướng của ta. Đã đi theo mà còn làm phản nên cái giá của các ngươi là đi không nổi, ở cũng không xong và cứ phải đói rũ, thê lương trong khu vườn này. Đúng là đáng đời các ngươi mà! Khà… khà… khà…

    Một trận cười vang lên. Những cái rùng mình, những khuôn mặt méo mó vì sợ hãi. Mọi người như cố chen vào sát nhau hơn để làm giảm đi nỗi sợ. Hoá ra, ông thầy – một người nuôi giấu âm binh – cũng là một âm hồn chứa đầy oán hận. Ông oán hận lũ âm binh đã đi theo mình rồi chính chúng lại ra tay để hại chết ông. Sự oán hận đó dường như chỉ chờ có cái cớ để bộc lộ. Người đàn ông bị nhập trợn to mắt vì tức giận. Ông ta đập bộp bộp đầu xuống cái bàn đang thờ mình, những tiếng nấc đầy uất hận vẫn gầm gừ trong cổ họng. 

    Sư thầy bước tới, ông chắp hai tay trước ngực, giọng trầm ấm:

    – A Di Đà Phật! Ai cũng có một phận số. Ai sống trên đời cũng có những lỗi lầm. Thế nên Đức Phật mới dạy rằng đời là bể khổ. Chỉ có con đường theo Phật, tu tấn, giải thoát mới mong thoát khỏi kiếp luân hồi, thoát khỏi bể trầm luân đau khổ. 

    Lời sư thầy vừa dứt, thân xác bị ông thầy nhập nhào ngay đến trước mặt sư thầy rồi cả người vặn vẹo, mặt mũi hung tợn, méo mó vì giận dữ. Giọng ông thầy gằn hắt:

    – Thoát khỏi bể trầm luân, đau khổ ư? Ai cho ta thoát? Còn những kẻ vong ân bội nghĩa thì sao? Chúng cũng sẽ thoát tội ư? Lẽ công bằng ở đâu? Ở đâu?

    Sư thầy vẫn bình tĩnh:

    – Ông cũng là người có lỗi trong chính bi kịch của mình. Nếu ông không thu nạp và sai khiến lũ âm binh thì ông và con cháu của ông đã không phải chịu cái kết cục như vậy.

    Thân xác bị ông thầy nhập cười ré lên:

    – Nói hay lắm. Nhưng ai cho ta lựa chọn chứ? Vợ đông, con nhiều ta lấy gì nuôi chúng ngoài nghề bốc thuốc, cúng bái và sai khiến âm binh. Ta kiếm sống bằng tài học, bằng khả năng nhìn thấu thiên văn, tỏ tường âm phủ. Trên đời, mấy kẻ có được tài học như ta. Vậy là ta sai sao? Ta sai sao sư thầy?

    Thân xác bị nhập chồm sát đến sư thầy, ghé đôi mắt trắng dã và cái miệng đầy uất hận vào sát mặt sư thầy. Sư thầy vẫn bình thản:

    – Ông là người có tài. Điều đó không ai có thể phủ nhận nhưng tại sao không chuyên tâm làm một thầy thuốc giỏi, chuyên trị bệnh cứu người mà lại đi làm nghề thầy cúng rồi nuôi giấu âm binh. Ông vừa giúp người ta qua cơn bạo bệnh lại vừa làm người ta cùng kiệt vì cúng bái, vì mê tín. Điều đó là tội lỗi!

    Thân xác bị nhập cười ré lên:

    – Sư thầy thật hoang đường. Làm một thầy thuốc giỏi ư? Ta thừa sức. Nhưng có phải bệnh nào cũng đến từ bệnh dương đâu. Rất nhiều những con bệnh có đi khám đến bao nhiêu thầy cũng không tìm ra nổi là bệnh gì. Có những kẻ ở nhà thì sốt lên, sốt xuống, đau bụng đến lăn lê bò toài nhưng khi đến nhà thương lại khoẻ như không. Chúng không bị bệnh trần ông sư thầy ạ. Chúng bị bệnh âm, bị ma hành, quỷ phá ông có hiểu không ông sư thầy? Nhiều kẻ do ngu dốt, do tự phụ mà vô tình hay cố ý xúc phạm đến thánh thần, đến tiền nhân, đến ông cha, mồ mả, đến những hương linh bao đời và bị chúng nhập, bị chúng hành. Những bệnh đó có thầy thuốc nào chữa được không sư thầy? Có chữa được không?

    Sư thầy ngập ngừng:

    – Có lẽ ông cũng có nỗi khổ và tâm ý của riêng mình. Giờ cũng không cần tranh luận về sai hay đúng. Ông là người thông minh. Ông cũng đã cứu giúp nhiều người. Nhưng ông cũng đã sai lầm và phải chết trong tay lũ âm binh mà ông nuôi dưỡng. Các âm hồn bị giam hãm bao năm nay nếu có tội thì họ cũng đã trả đủ tội lỗi của mình rồi. Ông từng là thầy, là người đã thu nạp bọn họ. Xin ông rộng lượng mà tha cho họ. 

    Thân xác bị nhập gào lên:

    – Tha ư? Ta đã ra tay cứu giúp và đưa chúng từ những đầm lầy, khe núi, sông hồ hôi thối về đây. Nhưng chúng lại hại chết ta. Vì thế nên ta mới hận, mới căm ghét lũ âm binh vong ân bội nghĩa. Ta đã phong ấn chúng.Ta không cho chúng đi đâu ngoài khu vườn này. Chúng cứ phải ở lại đây, phải đói rét, phải khốn khổ mà tự ngẫm, tự cắn xé nhau với những việc chúng đã làm với ta. Kha… kha… kha.

    Thân xác bị nhập của ông thầy cười lớn. Một không khí lạnh buốt, ghê sợ bao trùm. Các pháp sư, các thầy cúng, đội hỗ trợ, con cháu và những người hiếu kỳ như chết lặng trước nỗi uất hận từ chính âm hồn của ông thầy. Bỗng có tiếng cười ré lên của trẻ con rồi hai đứa bé gái bứt khỏi đám đông chạy ra. Chúng chạy quanh thân xác bị ông thầy nhập vào rồi kéo kéo, đẩy đẩy. Giọng cười chúng lanh lảnh.

    Một đứa: 

    – Ông oán hận lũ âm binh đã hại chết mình. Vậy chúng ta phải oán hận ai đây khi chúng ta không phải quân của ông nhưng cũng bị ông phong ấn để phải ở mãi nơi đây không thể đi đâu được. Chúng ta không thể về nhà, không thể đầu thai. Chúng ta cũng oán hận ông, ông thầy ạ.

    Thân xác bị nhập của ông thầy cười ha hả:

    – Hai con quỷ nhỏ. Các ngươi mà cũng dám oán ta sao? Chả phải cha mẹ các ngươi đã không quan tâm nên chỉ đem chôn sơ sài khi các ngươi chết. Họ cũng không buồn cúng lễ tử tế nên các ngươi đã không thể về lại nhà mình. Các ngươi đã lang thang ở đây, trong khu vườn này khi ta còn sống. Ta thương các ngươi còn nhỏ nên đã không nỡ đuổi đi. Nhưng các ngươi lại nuôi lòng oán hận, lấy oán trả ơn. Các ngươi đã định bắt đi đứa cháu gái của ta. Nhưng con bé đó cao số nên các ngươi đã không bắt được nó. Vậy mà các ngươi lại ra tay với cậu thanh niên đã cứu giúp nó. Các ngươi đã huỷ hoại danh tiếng của ta, người đã cưu mang các ngươi.

    Con ma chị bước tới. Đôi mắt nó đã trắng dã:

    – Cưu mang chúng ta sao? Đúng là ông đã không nỡ đuổi chúng ta đi khi chúng ta có nhà mà không thể về. Nhưng ông chê chúng ta bé, chúng ta không được việc nên cũng không thu nhận. Chị em ta chỉ đành sống lay lắt nhờ sự bố thí của lũ âm binh ông nuôi. Nhưng chúng cũng đói thì sao có thể giúp chúng ta được mãi. Đói thì phải tính. Ông cũng hiểu điều đó mà ông thầy.

    Thân xác bị nhập rít lên:

    – Vậy tại sao các ngươi không trách những kẻ đã sinh ra nhưng lại bỏ mặc các ngươi? Đến cha mẹ còn bỏ mặc con cái do mình sinh ra thì một ông thầy như ta sao có thể cưu mang nổi tất cả các ngươi chứ?

    Sư thầy nhẹ nhàng:

    – A di Đà Phật. Đời là bể khổ. Tất cả cũng vì cái khổ, cái nghèo, cái ngu dốt mà ra. Cha mẹ các ngươi do nghèo đói, do định kiến đã bỏ mặc con mình. Các ngươi cũng không thể đổ hết lỗi cho ông thầy khi ông ấy còn gia đình, còn con cháu và đám âm binh phải nuôi dưỡng. 

    Con ma chị:

    – Vậy tại sao ông ta lại phong ấn, lại nhốt chúng ta ở lại nơi này? Nếu ông ta không làm thế thì chúng ta đã có thể đi đó đi đây, ăn mày nhà này nhà khác. Cùng lắm thì bắt lấy vài ba đứa cũng không đến nỗi đói vàng mắt ra như ở đây.  

    Thân xác bị ông thầy nhập cười sằng sặc:

    – Thả cho các ngươi đi ư? Các ngươi vì oán giận, vì lòng tham nên đã biến thành ác quỷ. Các ngươi đã giết người sao có thể thả cho các ngươi đi được. Với tội lỗi ấy, các ngươi phải cả đời bị hành hạ, bị giam giữ.

    Cả hai con ma nhỏ đều lao lên đánh đấm ông thầy, chúng rít lên:

    – Tại ông, tại ông hết. Chúng ta căm ghét ông. Chúng ta cũng đã góp tay cùng với mấy âm binh để hại chết ông. 

    Ông thầy gầm lên:

    – Lũ quỷ nhỏ các ngươi. Ta thật hối hận vì đã không đuổi lũ ngươi đi. Ta hối hận vì đã không nghe lời bà Ba mà đuổi các ngươi đi.

    Sư thầy đứng lặng, lẩm bẩm:

    – A di Đà Phật. Thiện tai, thiện tai! Các ngươi đã lún quá sâu vào vòng hận thù, ân ân, oán oán. Cứ chìm sâu trong cõi oán oán ân ân này thì các ngươi sẽ không thể nào giải thoát, không thể nào thoát khỏi bể khổ trầm luân được. 

    Mấy con ma như không thèm đếm xỉa đến lời nói của sư thầy. Chúng uất hận cào cấu, đánh đấm lẫn nhau. Nhưng hai con ma nhỏ dù có lanh lợi, uất hận đến đâu cũng không phải là đối thủ của ông thầy. Chỉ bằng vài cái phất tay, ông thầy đã đánh chúng văng ra xa. Lúc này, lại có thêm mấy người bị nhập hồn tham gia vào khiến cục diện trở nên hỗn loạn. Hai con ma nhỏ chạy sà đến bên sư thầy.

    Một con nhí nhảnh:

    – Sư thầy, ông có cách giúp chúng ta ra khỏi đây, thoát khỏi đau khổ hả?

    Sư thầy:

    – Ta có cách. Có cách giúp các ngươi thoát khỏi phong ấn, thoát khỏi khu vườn này. Chỉ cần các ngươi thành tâm sám hối, thành tâm hướng thiện, thành tâm theo Phật thì sẽ thoát khỏi bể khổ, thoát khỏi vòng luân hồi.  

    Hai con ma nhỏ reo lên:

    – Sư thầy nói thật chứ. Chúng ta sẽ thoát khỏi đây. Chúng ta sẽ theo ông, à theo Phật. Nhưng theo Phật có được ăn ngon không? Có được ăn thịt hay ăn cá không? Chúng ta thèm lắm rồi.

    Điệu bộ nhí nhảnh, thói tham ăn của hai con ma nhỏ làm mấy người phì cười, thoáng chốc như quên luôn cả sự sợ hãi. Họ thấy hai con ma nhỏ cũng không còn quá đáng sợ. 

    Chợt thân xác bị nhập của ông thầy gầm lên:

    – Thoát khỏi đây ư? Các ngươi đừng có mơ. Khi còn sống ta đã thực hiện phong ấn cả khu vườn này. Không có ta, không một kẻ nào, kể cả hai con quỷ nhỏ tâm địa độc ác như các ngươi có thể thoát khỏi khu vườn này.

    Hai con ma nhỏ như không để tâm đến sự tức giận và cả những lời đe doạ từ ông thầy. Chúng cứ chạy đuổi nhau, chạy trốn khỏi sự truy bắt của ông thầy bằng thái độ tưng tửng, tinh nghịch. Chúng nháo nhào nhập hồn rồi lại thoát từ người này sang người khác. Cứ một người đang chạy bỗng rùng mình, ngã xuống lại có người khác bất chợt cất tiếng cười khanh khách rồi chạy ra khỏi đám đông để chạy đuổi theo nhau và chạy trốn khỏi sự truy đuổi của ông thầy. Cả đàn lễ nhốn nháo khi hai con ma nhỏ tinh nghịch chạy nhảy lung tung. Ông thầy thì gầm thét đuổi theo chúng. Sư thầy ngồi xuống trước giàn lễ, tĩnh tâm và niệm Phật. Phía sau các đệ tử, các pháp sư, các cô đồng thầy bóng cũng ngồi xếp hàng lẩm bẩm đọc theo. Sư thầy nhắm hờ mắt khi để tâm trí tập trung hoàn toàn vào những lời kinh kệ. Các thầy cúng sau phút nhốn nháo cũng đồng loạt khép mắt, ngồi thiền, tụng kinh theo sư thầy. Hai con ma nhỏ sau một hồi nhập thoát, thoát nhập từ người này sang người khác đã nhập lại vào hai đứa bé gái. Chúng chạy vào giữa các thầy đang nhắm mắt tụng kinh. Chúng ghé sát mặt người này, hầm hè đe doạ người khác rồi lại cười khanh khách và chạy đi. Ông thầy sau một hồi đuổi mệt cũng ngồi gục xuống trước cái ban nhỏ thờ mình.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG VIII: LẬP ĐÀN LỄ

    CHƯƠNG VIII: LẬP ĐÀN LỄ

    Trở về khách sạn, bà đã gọi điện cho một số sư thầy bà quen khi tham gia đội trợ niệm. Bà đã kể cho họ nghe mọi chuyện. Kể về đội âm binh và những linh hồn đang bị kẹt lại tại khu vườn. Kể về khao khát được giải thoát cho những âm hồn ở đó. Một thầy trụ trì nơi chùa nhỏ nói với bà qua điện thoại bảo phải lập một đàn cúng tế ngay tại khu vườn. Phải mời một số pháp sư cùng các thầy đồng, thầy cúng. Họ phải cùng hợp lực lại thì mới mong giải thoát được các âm hồn đang trú ngụ tại khu vườn. Kinh phí cho việc đó sẽ cần đến một khoản lớn.

    Bà đã khẩn khoản nhờ thầy trụ trì làm giúp. Có lẽ vì bà nhờ quá khẩn khoản hoặc vị sư trụ trì cảm động với tâm nguyện, mong muốn giải thoát đám âm binh của bà nên cuối cùng đã nhận lời. Thời gian không còn nhiều khi đàn lễ cũng được ấn định là vào ngày rằm sắp tới. Bà không lo về chi phí vì trong tay đã có sẵn một khoản lớn. Đám con lại sẵn sàng ủng hộ mẹ khi biết đó là tâm nguyện cuối cùng của bà. Những anh em, chú bác trong họ khi biết chuyện cũng mỗi người một ít mong được góp sức, góp công vào đàn lễ để hoá giải đám âm binh đã đi theo ông ngoại ngày xưa. Ngay cả các bạn bà khi biết chuyện cũng mỗi người góp một ít bởi theo họ đó là việc nên làm. Bà đã nhờ các con bà Ba sắm sửa mọi thứ. Khoảnh sân để làm lễ cũng đã được dọn sạch. Cả đàn lễ cũng đã được dựng theo chỉ dẫn của sư thầy. Tất cả chỉ chờ thời khắc quyết định khi các pháp sư, các thầy cùng hội tụ để làm một việc mà nhiều người trong số họ cũng chưa từng làm trong cuộc đời tu hành và cúng bái của mình. 

    Trước giờ làm lễ, khu vườn tập trung khá đông người. Ngoài các pháp sư, các thầy cúng, các cô đồng còn có con cháu trong nhà và cả một số hàng xóm hiếu kỳ. Câu chuyện về khu vườn có ma, rằng đám âm binh có thể làm việc theo sự sai khiến của ông thầy khiến mọi người vừa sợ hãi lại vừa tò mò. Những câu chuyện thật có, giả có, thêu dệt thêm cho có phần li kỳ, rùng rợn cũng được thì thầm to nhỏ giữa các nhóm. Mọi người xúm lại rồi tản ra tuỳ theo sức hấp dẫn của câu chuyện qua miệng kể của những người có mặt. Không chỉ là câu chuyện về đám vong hồn, âm binh trú ngụ tại khu vườn. Những câu chuyện ma được cóp nhặt đâu đó trên phim ảnh, trên các trang báo cũng được đem ra kể vừa thoả mãn sự hiếu kỳ vừa như để hù doạ lẫn nhau. Dù không có mấy người thực sự nhìn thấy ma quỷ nhưng sự tò mò, nỗi sợ hãi vẫn khiến người ta thích thú khi nghe những câu chuyện về nó. Ngoài đám người lớn, vài ba đứa trẻ con cũng đến xem cùng. Có vẻ như chúng chưa biết sợ. Những người lớn bảo chúng cứ nhất quyết đòi theo khi thấy có đông người, có hoa quả, đèn nến bày biện sáng trưng cả góc vườn.

    Theo lời sư trụ trì thì đàn lễ sẽ được khởi vào giờ tý, quãng ngoài 23 giờ đêm và tuỳ theo tình hình sẽ kéo dài hay ngắn. Một số thầy đồng, cô đồng cũng được vời đến để có thể cho đám âm hồn mượn tạm thân xác khi nhập vào và nói lên nguyện vọng của chúng. Sư thầy cũng nói rõ tâm nguyện muốn khuyên nhủ, giải thoát đám âm binh. Ông muốn chúng có thể sám hối, quy y theo Phật để vượt thoát khỏi vòng luân hồi, khổ ải. Còn mấy tiếng nữa khoá lễ mới bắt đầu nhưng trời vừa tối không khí trong vườn đã có phần ma mị. Nếu ban ngày nhiều người còn cười đùa, trêu chọc, hù doạ nhau ở góc này hay góc khác của khu vườn, góc bếp thì trời vừa tối họ đều tụ tập hết trong nhà hay trước khoảnh sân có dựng đàn lễ. Không còn những tiếng thì thầm to nhỏ, những câu chuyện thêm mắm dặm muối để thỏa mãn trí tò mò hay thu hút sự chú ý của người khác. Tất cả đều nín thở dõi theo các thầy bày biện dàn lễ. Tầng cao nhất là ảnh Phật với các đồ mầu vàng trang nhã. Tầng thấp hơn là các thánh với mũ nón, hia hài, trang phục mầu sắc sặc sỡ. Tầng cuối cùng là âm phủ với những gương mặt quỷ dữ, âm hồn hiện ra qua tranh ảnh, giấy bồi. Xung quanh các tầng là hoa quả, đèn nến. Một góc xếp đầy quần áo, vật dụng bằng giấy. Ngoài ra, còn có 5 cỗ mã ngựa ngũ sắc với hài, hia, cờ, kiếm, roi dành cho 5 vị sứ giả thỉnh vong. Phía bên trái đàn lễ là một chiếc bàn nhỏ trên đó bầy ảnh thờ của ông ngoại bà. Ngoài đồ lễ thì một số dụng cụ như thanh la, mõ rồi các sách về gọi hồn, phù phuỷ cũng được xếp gọn. Vị sư trụ trì đàn lễ giải thích những âm hồn trú ngụ nơi đây có một số là những âm binh từng đi theo ông thầy năm xưa. Giờ tuy ông thầy không còn nhưng ông vẫn có một số uy lực nào đó có thể trợ giúp đàn lễ trong việc triệu hồi và giải thoát đám âm binh. Dù đàn lễ chưa được thỉnh hương vì chưa tới giờ nhưng trên bàn đặt thờ ông ngoại khói hương đã được thắp lên từ sớm. Các con cháu và họ hàng của ông thay nhau thắp hương và lầm rầm khấn nguyện. Cũng không ai biết là họ khấn nguyện những gì bởi mỗi mong ước, mỗi lời nguyện cầu cả sự sám hối nếu có đều được lầm bầm trong miệng khiến người đứng gần nhất cũng không nghe được gì. 

    Bà vận một bộ áo dài đi chùa trang nhã. Thành kính thắp 3 nén hương dâng lên bàn thờ ông ngoại. Miệng bà lầm rầm: Ông ơi, cháu là con bé Trang – cháu ngoại của ông đây. Ngày ông mất cháu đã không về để chịu tang ông. Xin ông thứ lỗi cho cháu ông nhé. Những năm qua cháu đã luôn trốn tránh. Cháu cũng không biết mình trốn tránh điều gì nhưng cháu rất sợ phải quay lại nơi này. Giờ cháu đã bước vào tuổi 90. Sức khoẻ của cháu đã không còn tốt. Cháu biết mình cũng sắp đi theo bố mẹ, theo ông bà rồi. Tâm nguyện cuối đời của cháu là muốn được giải thoát cho các âm binh đã đi theo ông ngày trước. Giải thoát cho cả những âm hồn đã mất khi đến chữa bệnh ở đây. Cháu muốn cả hai chị em cô bé năm xưa – những người đã rủ cháu đi theo họ – cũng được giải thoát khỏi những đau khổ, oán hận. Cháu và các cậu, các dì cũng như con cháu trong nhà đều thật tâm mong muốn được làm điều này. Chúng cháu đều muốn giải thoát đám âm binh, những vong hồn đã bị khoá chặt tại nơi đây. Chúng cháu muốn họ được siêu thoát. Muốn họ nhẹ bước theo Phật, nghe kinh để vượt thoát khỏi vòng luân hồi trầm luân đau khổ. Ông có linh thiêng xin ông hãy về cùng trợ sức, trợ duyên cho đàn lễ. Xin ông cùng góp sức với sư thầy, với các pháp sư, các thầy cúng để triệu hồi đám âm binh, những vong hồn còn chưa siêu thoát cùng về dự lễ. Cháu tin rằng ở nơi ấy ông cũng thật tâm mong muốn điều này. Chắc ông cũng không muốn những âm binh đã đi theo ông năm xưa mãi mắc kẹt tại nơi đây. Cháu xin ông, xin ông hãy cùng trợ sức, trợ duyên giúp cho đàn lễ giải thoát được thành công, ông nhé. Cháu xin được cảm tạ ông, ông ngoại của cháu!

    Khấn xong, bà vái ba vái rồi vuốt lại tà áo dài. Một cảm giác lành lạnh sau gáy ập tới. Có cảm giác đám tóc sau gáy bà đang dựng ngược cả lên. Bà cố gắng lấy lại bình tĩnh nhưng sư thầy và một số ông bà đồng dường như cũng nhận ra điều gì đó. Họ kín đáo quan sát bà. Tất cả đều biết bà có vai trò quan trọng trong đàn lễ ngày hôm nay. Chính bà là người đã khởi tâm. Bà đã cầu xin sư thầy và các thầy lập nên đàn lễ giải thoát này. Bà lại chính là cô bé năm xưa từng sống ở khu vườn và chứng kiến nhiều chuyện. Bà cũng đã thoát khỏi hai chị em con ma nhỏ khi chúng muốn bắt bà đi theo. Chưa biết đàn lễ diễn ra có thuận lợi hay không. Đám âm binh và các âm hồn không siêu thoát có thuận theo các thầy hay không nhưng họ đều biết bà có một vai trò quan trọng trong đàn lễ lần này. Thái độ của bà khi vừa khấn xong cũng rất lạ. Dường như bà đã cảm nhận, đã giao tiếp được với người âm, những người chắc chắn đang đứng đâu đó trong ngôi nhà, khu vườn hay xung quanh khu đàn lễ này.  

    Càng về khuya, không khí càng âm u đáng sợ. Đám con cháu, các thầy hành lễ và cả những người hiếu kỳ dường như đều cảm nhận bầu không khí là lạ. Một số người bắt đầu cảm thấy lạnh, đặc biệt là cái lạnh đến từ sau gáy. Cảm giác gai người cũng xuất hiện. Một vài người lúc đầu còn mạnh miệng khi đùa: 

    – Tôi bắt đầu thấy lạnh gáy rồi đó. 

    – Tôi cũng đang nổi hết gai ốc lên đây…

    Những cánh tay chìa ra như để khoe đám gai ốc đang mẩn lên trên đó. Hai, ba người còn giả vờ trợn mắt, lè lưỡi và ngã vào người khác. Nhưng càng về khuya, càng gần đến giờ hành lễ không khí lại càng im lặng đến sợ. Những cơn gió lạnh bất ngờ thổi qua. Những tiếng cành cây khô gẫy hay tiếng mèo chạy qua cũng làm một số người giật mình, thảng thốt.

    Đúng 11 giờ.

    Đèn nến trên các giá hành lễ được thắp lên. Tiếng gõ mõ, tiếng thanh la đập vào nhau trong đêm khuya mang lại cảm giác rờn rợn. Sư trụ trì đầu đội chiếc mũ giống như mũ của thầy Đường Tăng trong phim Tây Du Ký. Sư thầy cũng khoác một chiếc áo choàng với những tia kim tuyến lấp lánh. Miệng khấn, chân bước, tay bắt quyết, sư thầy thành kính di chuyển mỗi lúc một nhanh trước đàn lễ. Các thầy phối hợp gõ trống, mõ, chiêng la phụ hoạ theo các bước chân, động tác tay ngày càng nhanh của sư thầy. Trong đám đông, một vài tiếng thì thào:

    – Sư thầy đang làm các nghi thức phá ngục.

    Sau một hồi, có thêm 4 pháp sư mặc đồ đen bước đến quanh vị sư thầy chủ lễ. Họ cùng di chuyển, cùng múa những bài quyền pháp mà chỉ mình họ biết. Các thầy còn lại vẫn gõ trống, mõ, chiêng la phụ hoạ. Một sư thầy bắt đầu ê a vào bài kinh. Các thầy khác cùng phụ hoạ theo.Tiếng đàn, tiếng tụng kinh sau đó cất lên cùng với điệu múa của vị chủ lễ và các pháp sư. Mọi người đều nín thở, dán mắt dõi theo các thầy. Giữa đêm tối, sự rực rỡ của đèn, nến các đồ vàng mã cùng tiếng đàn, tiếng hát, tiếng tụng kinh, tiếng trống, tiếng thanh la làm cả khu vườn thêm náo động. Trong đêm tối, ánh sáng của sự ma mị, ánh sáng của sự giải thoát được hỗ trợ cùng với âm thanh thu hút không chỉ người sống mà cả những âm hồn còn đang vất vưởng.