Blog

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG II: SỐNG CÙNG NGƯỜI ÂM

    CHƯƠNG II: SỐNG CÙNG NGƯỜI ÂM

    Bà ngồi xuống chiếc ghế và mệt mỏi xoa nắn đôi chân hơi đau khi phải đi lại quá nhiều. Cũng không biết cơn cớ gì khiến bà kiên quyết trở lại ngôi nhà xưa cùng với đứa cháu gái. Có lẽ bà chỉ muốn được một lần nhìn lại nơi ấy. Cái nơi bà đã phải sống 3 năm trong cô độc, sợ hãi. Nhưng tại sao bà lại muốn trở lại đó khi biết chắc đã không còn ai? Năm ông ngoại mất bà đang mang bầu đứa con thứ hai. Cả nhà muốn bà về chịu tang nhưng bà nhất quyết không đi. Lấy lý do ốm nghén, bà chỉ gửi về chút lễ. Đến khi bà Ba mất bà cũng không về. Lần đấy, không một ai ép khi biết rõ bà đã phải chịu đựng những gì khi sống cùng bà Ba. Cả ông ngoại, bà Ba đều đã không còn. Nhưng bà vẫn muốn trở lại nơi đó sau từng ấy năm. Có lẽ bà đã linh cảm rằng quỹ thời gian của mình không còn nhiều. Và bà muốn về lại nơi đó. Về một lần thôi!

    Bà vẫn nhớ rõ ông ngoại rất ít khi ở nhà nhưng chưa bao giờ trách mắng hay đánh đập cháu. Dường như ông quá bận! Bận với việc cứu chữa cho bệnh nhân. Bận với việc lập các đàn cúng lễ. Ông còn bận ở trong cái buồng đóng kín một mình và cấm tiệt vợ hay cháu gái được bén mảng tới. Những việc trong nhà ông giao phó hết cho bà Ba. Những ngày ở nhà, tuy có nhìn ra đứa cháu gày gò, quần áo phong phanh nhưng ông cũng chỉ khẽ nhíu mày chứ không hỏi rõ. Thi thoảng thấy cháu rách quá, ông lại lén may cho một, hai bộ quần áo mới dù bị bà Ba mát mẻ hay đá thúng, đụng nia. Những ngày ông ở nhà là những ngày bà được bà Ba cho ăn cơm cùng. Thi thoảng, bà cũng được bà Ba vứt cho nắm xôi hay miếng thịt trong túi đồ lễ ông mang về. Nhưng những ngày ấy không nhiều. Ông cứ đi suốt để mặc bà Ba và cô cháu gái ở nhà.

    Bà cũng nhớ là bà Ba đã bán gần hết số quần áo mà bà mang theo. Có đợt bà chỉ còn độc một bộ quần áo. Khi đi chăn trâu, gặp lúc vắng người bà vẫn tranh thủ cởi ra để giặt rồi phơi lên mấy cây dại gần đó. Đến khi ông về, nhìn cháu mỗi manh quần, tấm áo lại len lén cắt thêm cho một đến hai bộ. Có năm trời rét lắm nhưng bà vẫn chỉ mặc độc chiếc quần ngắn cũn và cái áo cộc tay khi đi chăn trâu. Ra đến đồng, bà phải vơ rơm lại để quấn quanh người cho ấm. Cũng đã mấy lần bà suýt chết khi cho trâu bơi qua sông đến doi đất cao để ăn cỏ. Sông thì sâu, người thì nhỏ. Mấy lần lúc trâu bơi bà đã bị tụt từ lưng trâu xuống đến cổ rồi mắc lại nơi sừng trâu. Hai cánh tay mỏi nhừ khi phải bám chắc đôi sừng để con trâu bơi sang doi đất cao, nơi có mấy đám cỏ non. Mấy lần đó, bà cứ thầm cảm ơn bà cô đã chết trẻ. Tuy phải xa nhà từ sớm nhưng trước đó, đám tang của bà cô vẫn in đậm trong trí nhớ của bà. Cô Ngã ra đi khi còn trẻ lắm, mới khoảng 16, 17 tuổi. Căn bệnh hen quái ác khiến cô không thể thở nổi. Khi còn sống, dù quanh năm ốm bệnh nhưng cứ hễ khoẻ lên là cô lại gọi con bé cháu là bà vào chơi cùng. Có cái gì ngon cô cũng bảo để dành phần cho.Vì được yêu thương nên sự ra đi của cô khiến bà cứ ngơ ngẩn, ra vào buồn nhớ mãi. Khi bị bố mẹ gửi đi theo ông ngoại, nhiều lúc cô đơn bà vẫn thầm gọi tên cô như muốn nương nhờ vào một sự bảo vệ vô hình. Lúc bám lấy sừng trâu, run rẩy giữa làn nước, bà đã thầm khấn tên cô mong cô giúp mình qua cơn nguy khốn. Câu chuyện đó bà cũng đã nhiều lần kể lại với chồng, với con và sau này là các cháu. Chúng nó không hình dung nổi một cô bé mới hơn 7 tuổi là bà đã bám vào sừng trâu ra sao khi con trâu bơi qua quãng sông rộng. Nhưng câu chuyện làm chúng hứng thú nhất vẫn là chuyện về những hồn ma hay chuyện hai chị em con ma nhỏ đã nhiều lần rủ bà đi theo chúng.

    Bà vẫn nhớ như in cái ngày hai chị em ấy được người nhà khiêng trong hai chiếc võng nhỏ đến gặp ông. Cô chị chừng hơn mười tuổi. Cô em chắc ở quãng tuổi của bà khi ấy, tầm 7 đến 8 tuổi. Cả hai mặt đỏ bừng, người nóng như hòn than. Những người nhà đi theo nói cả hai chị em đã sốt tầm 3 đến 4 hôm. Hai hôm nay, hai chị em không ăn được gì trừ chút cháo loãng. Không hiểu họ mắc bệnh gì nhưng bà thấy ông ngoại chỉ thở dài khi bắt mạch cho họ. Cả đám người nhà cứ nhìn chằm chằm vào ông ngoại, chăm chú dõi theo từng diễn biến trên gương mặt ông. Khi ông ngoại lắc đầu, đám đàn bà, phụ nữ đi theo khóc oà. Một người đàn ông lén đưa tay quệt nước mắt. Một người đàn bà cầu xin:

    – Xin thầy cố giúp, còn nước thì còn tát!

    Ông ngoại sai bà Ba đi lấy thuốc. Ông nghiền chút bột nhỏ, hòa với nước ấm và bảo người nhà cố đổ vào miệng cho hai cô bé. Miệng hai cô lúc này đã mím chặt. Những người đi cùng kẻ bóp miệng, người đổ thuốc vào miệng của hai cô. Nhưng thuốc đổ vào đến đâu lại trào ra đến đó. Những người đàn bà càng khóc lớn. 

    Ông ngoại lắc đầu:

    – Đưa đến muộn quá, hết cách rồi. Mọi người võng hai đứa nó về đi!

    Một người đàn bà vội quỳ sụp xuống:

    – Thầy làm ơn cho hai chị em chúng nó ở lại đây. Biết đâu nhờ ơn đức của thầy chị em chúng lại qua được. Giờ mà võng về thì chỉ sợ chị em chúng nó chết ở trên đường.

    Ông ngoại có vẻ mềm lòng. Ông sai bà Ba đi nấu cháo để lấy ít nước loãng bón cho hai chị em. Những người nhà đi cùng cũng về bớt chỉ để hai người ở lại. Đêm hôm ấy, cả hai chị em cùng không qua khỏi. Họ đã mất ngay trên chiếc phản gỗ mà ông ngoại vẫn hay nằm. Người đàn bà khóc ngất. Tiếng khóc vang vọng trong đêm nghe cứ rờn rợn. Sáng ra, những người đã võng hai chị em đến hôm trước lại mang võng đến đưa hai chị em về. Chỉ khác là lần này trên mặt mỗi người phủ một chiếc khăn mùi xoa trắng. Hai cánh võng cũng được buộc lại để không ai nhìn thấy người nằm bên trong. Vì mất ở ngoài nên nghe nói cả hai chị em không được mang về nhà làm lễ. Họ sẽ bị quàn ở ngoài điếm – một gian nhà bỏ không cuối làng – rồi sau đó đem chôn. Lúc cả nhóm rời đi, ông ngoại sai bà Ba đốt một nùi bồ kết và khua khắp mặt phản cũng như dưới gầm. Giọng ông ngoại nhỏ nhưng xung quanh yên tĩnh nên bà nghe khá rõ:

    – Thế là lại có thêm linh hồn ở lại với khu vườn.

    Tiếng bà Ba run run:

    – Ông phải đuổi chúng đi. Chúng còn nhỏ chả giúp được gì mà lại hay quấy quả, phá phách.

    Ông ngoại thở hắt ra:

    – Nghĩ cũng tội! Chả biết người nhà có biết làm lễ để giúp chúng được siêu thoát hay lại chỉ quấy quá cho xong khiến chúng biến thành ma đói, ma khát.

    Bà Ba bĩu môi:

    – Chúng biết ông là thầy mà sợ tốn tiền nên không nỡ mời. Cái đám ấy chắc cũng chỉ qua loa cho có lệ mà thôi.

    Giọng ông chùng xuống:

    – Chúng mất ở đây nên nếu không siêu thoát, không về được nhà thì sẽ lại quanh quẩn ở lại đây thôi. Cứ kệ chúng, trẻ con thì ở nơi nào cũng tội. Cùng lắm thì chúng nhặt cơm vãi, cơm thừa quanh đám âm binh cũng đỡ.

    Bà Ba hứ một tiếng rồi bỏ ra ngoài. Lúc ấy bà mới dám mon men lại gần ông ngoại. Ngập ngừng một lúc rồi bà cũng đánh bạo hỏi:

    – Ông ơi, nếu chị em họ không siêu thoát thì họ sẽ ở đây cùng với mình hả ông?

    Ông ngoại lơ đãng, lẩm bẩm như nói một mình:

    – Ừ, chị em nó đến thì ông cũng không nỡ đuổi chúng đi.

    Một cảm giác lạnh buốt lập tức xâm chiếm. Bà đứng đó nhìn chằm chằm vào chiếc phản nơi hai chị em vừa nằm đấy đêm qua. Suốt từ lúc được võng đến cho đến khi được võng về, cả hai chị em đều không mở mắt. Gương mặt lúc đỏ lúc trắng với cặp mắt nhắm nghiền. Bà bỗng như thấy cả hai vẫn còn nằm đó. Ý nghĩ đó làm bà rùng mình vội chạy vụt ra ngoài. 

    Những ngày sau đó ông ngoại lại đi suốt nên ở nhà chỉ còn lại hai bà cháu. Bà Ba lại đuổi không cho bà ăn cùng. Bà len lén luộc mấy dây khoai lang được chị hàng xóm dúi cho. Cả ngày đi chăn trâu với vài dây khoai luộc buộc vào mấy sợi rơm. Lúc trưa, bà cũng đã ăn bớt đi vài đoạn. Mấy đoạn tý teo này là để dành cho bữa tối. Sau vụ hai chị em mất trên chiếc phản gỗ cứ tối đến là bà lại thấy sợ. May mắn là bà Ba hay bắt bà ngủ ở dưới bếp nên bà cũng tránh được cảm giác sợ hãi mỗi khi đi ngang qua chiếc phản.Vài hôm không thấy gì lạ, bà dường như cũng bớt sợ khi cái đói, cái rét khiến bà phải bận tâm hơn. Nhưng mỗi lần ngang qua chiếc phản bà vẫn luôn lén nhìn dù nỗi sợ đã phần nào phai nhạt. Có lẽ hai chị em đã về được nhà mình. Nghĩ đến đó bà thấy vững tâm hẳn.

    Cho đến một hôm bà Ba có việc đi đám giỗ nên bảo bà buộc trâu và ở lại trông nhà. Bà Ba đi được chừng nửa buổi thì bà bỗng thấy mệt. Người cứ gai gai lại có cảm giác như hơi sốt. Sau khi ăn lếu láo vài quả sung bà leo lên chiếc phản để nằm. Cơn sốt kéo đến làm bà ngủ thiếp đi. Bỗng có tiếng chuột rúc ra, rúc rích phía trên làm bà tỉnh giấc. Bà khẽ mở mắt. Phía đầu phản ở trên cao, ông ngoại đóng mấy gióng tre. Trên đó, ông đặt tấm liếp đan và xếp khá nhiều sách thuốc, sách bói toán. Chắc mấy con chuột đói quá nên gặm đống sách cũ của ông. Giá mà bà khoẻ, bà sẽ ngồi dậy để đuổi lũ chuột đi. Nhưng cơn sốt làm bà mệt quá nên lại thiếp đi. 

    Bỗng có ba tiếng Bong…Bong… Bong… vang lên. Bà mở mắt. Từ trên giá sách hai chị em cô gái hôm trước nhảy xuống. Cánh tay bà đang khoanh trước ngực như bị ai giật bung ra, xoải dài giữa phản rồi cô chị nằm ngoài, cô em nằm trong cùng gối đầu lên một cánh tay của bà. 

    Cô chị rủ rỉ:

    – O – cách gọi của người ở đây với các cô gái – khổ quá. O theo chúng tôi đi!

    Cô em:

    – O giống chị em tôi, sống cũng chẳng ai thương, chẳng ai đoái hoài đến.

    Dù đang trong cơn sốt nhưng bà vẫn tỉnh táo. Bà nhận ra đây là hai chị em đã chết hôm nào trên chiếc phản gỗ. Vậy là họ đã không được làm lễ để siêu thoát. Họ chắc không về lại được nhà mình nên vẫn quanh quẩn ở đây, ngay tại khu vườn này. Nhưng tại sao hôm nay bà mới gặp họ. Chẳng phải họ đã mất được vài tuần rồi hay sao? Hay tại hôm nay bà đã nằm lên chiếc phản nơi mà họ đã nằm khi mất nên mới gặp họ. Nghĩ đến đó bà thấy bình tĩnh hơn một chút. 

    Bà nhỏ giọng:

    – Tôi không đi đâu! Tôi còn phải về ngoài Bắc với bố mẹ, với các em tôi.

    Con ma chị cất lời:

    – Nếu họ thương O sao họ không đưa O về. Họ có biết O rất khổ khi sống ở đây không?

    Bà run giọng:

    – Tại thầy nói số tôi sát cha, sát mẹ nên bố mẹ bắt tôi đi theo ông ngoại để ông giải ách cho.

    Con ma em cười nhẹ:

    – O tin vậy à? Mỗi người đều có một cái số. Số họ không chết thì dù O có cao số họ cũng chẳng sao. 

    Bà vẫn cố cãi:

    – Nếu không phải thế thì tại sao họ lại bắt tôi đi theo ông ngoại. Ông tôi là thầy phù thuỷ. Ông tôi biết cách giải trừ.

    Con ma chị:

    – Thế sao ông không diệt trừ được bà Ba để bà ấy hành O khổ thế?

    Bà luống cuống:

    – Tôi không biết. Bà Ba nói tại bà ngoại, mẹ và dì tôi đã hành bà trước đây nên giờ bà trả thù. 

    Con ma em:

    – Lũ người lớn đến là ác độc. Ai làm người đó chịu sao lại đổ hết mọi tội lỗi lên đầu O.

    Con ma chị:

    – O sống ở đây cũng khổ. O đi theo chúng tôi có khi đỡ khổ hơn.

    Bà giẫy giụa:

    – Không, tôi còn phải về! Bố mẹ đã nói tôi chỉ đi theo ông mấy năm thôi rồi tôi sẽ về.

    Con ma chị bỗng mở trừng mắt. Cả một tròng mắt trắng hếu, không có lòng đen làm bà hoảng sợ. Bà cố sức giẫy giụa nhưng không sao thoát ra được. Hai chị em con ma vẫn nằm gối đầu lên một cánh tay bà. Bà chợt nghe tiếng anh Thường nhà bên đang véo von: Nào anh em ta cùng nhau xông pha, lên đàng…

    Bà vội nhổm người gọi lớn:

    – Anh Thường ơi, anh Thường…

    Tiếng bà gọi thất thanh kéo anh Thường từ bên ngoài xộc vào. 

    Anh hỏi lớn:

    – O có chuyện gì thế?

    Bà lắp bắp:

    – Hai con ma. Hai chị em đã chết hôm nọ ở đây đang rủ em đi theo chúng. 

    Anh Thường ngạc nhiên:

    – Đâu, đâu… Chúng ở đâu?

    Bà cố nhổm người nhưng một cánh tay duỗi dài trên phản vẫn bị hai chị em con ma gối đầu lên khiến bà không thể nhấc người lên cao. Bà cố giơ cánh tay còn lại chỉ vào chúng:

    – Đây, đây… Con em nằm trong, con chị nằm ngoài. Cả hai đứa chúng nó đang rủ em đi.

    Anh Thường nhìn chăm chăm vào cánh tay nhưng vẻ mặt đầy ngạc nhiên. Anh thủng thẳng:

    – Anh có thấy con ma nào đâu. Chắc O mệt nên tưởng tượng ra đấy thôi.

    Nói rồi anh đưa tay sờ lên trán của bà. Giọng anh lớn hẳn:

    – Sốt cao thế này thảo nào lại mê sảng. Để anh bế sang nhà ăn tạm cái gì đấy. Bà Ba lại đi đám giỗ bỏ mặc O không ăn uống gì hả?

    Nói rồi anh cúi người bế bà lên khỏi chiếc phản. Một cánh tay bà vẫn bị hai chị em con ma gối lên khiến bà không thể nhấc tay. Anh Thường mắm môi cố hết sức để bế bà lên. Giọng anh ngạc nhiên:

    – O nhìn gầy mà cũng nặng gớm!

    Cuối cùng thì anh cũng bế được bà lên. Khi anh sắp bước qua ngưỡng cửa bà thấy hai chị em con ma vẫn nằm đó. Con ma chị với đôi mắt trắng dã vẫn nhìn theo hút bóng bà và anh Thường.

    Thoáng đó mà đã 80 năm. Những ngày sau đó thi thoảng bà vẫn gặp lại hai chị em con ma nhỏ. Lúc chúng đến trong giấc ngủ đêm. Khi thì chúng xuất hiện ngay giấc ngủ ban trưa. Thậm chí ngay cả khi bà không nằm ngủ trên chiếc phản đó chúng vẫn cứ mò đến. Chúng cứ rủ rỉ rủ bà đi cùng với chúng. Vài lần như thế khiến bà phát cáu nên doạ:

    – Các O không đi tôi sẽ mách với ông ngoại. Ông tôi sẽ đuổi các O đi không cho ở đây nữa.

    Không biết vì chúng sợ sẽ bị đuổi hay thấy bà không chịu đi cùng nên sau lần ấy không thấy chúng xuất hiện nữa. Nhưng cũng kể từ đó lúc ban ngày, khi sẩm tối thi thoảng bà lại nghe thấy những tiếng động lạ. Lúc thì nghe như tiếng múc nước ở cái giếng lên. Khi thì nghe ra như tiếng vấp ngã. Vài lần bà còn nghe tiếng huỳnh huỵch tựa như có đông người đang cùng đi, cùng chạy. Đặc biệt trong những ngày hiếm hoi ông có ở nhà những hiện tượng lạ xảy ra ngày một nhiều. Có hôm mới tang tảng sáng, bà chợt thức giấc bởi tiếng ồn ào tựa như cãi nhau. Bà mở mắt nhưng lại không thấy ai. Nhưng khi nhắm mắt lại tựa như nghe tiếng tranh cãi ồn ào, tiếng chân người chạy rầm rập. Bà cố lắng tai nghe. Hôm thì nghe ra mấy người trách nhau ra đồng quá chậm nên tát mãi mà không hết nước. Có hôm nghe như tiếng trách ông thầy ngủ quên khiến họ suýt bị lộ khi trời đã sáng mà vẫn chưa có lệnh thu quân. Lại có hôm bà nghe như họ than dạo nào ông khao quân kẹt quá. Tý đồ ăn không đủ cho cả đám làm mệt thâu đêm. Ban đầu bà tưởng mình mệt, mình ngủ mơ. Nhưng hiện tượng đó cứ lặp đi lặp lại khiến bà hoang mang. Có lần bà đánh bạo hỏi bà Ba:

    – Bà ơi, có ai ở cùng với mình ở đây không bà?

    Bà Ba quắc mắt:

    – Ranh con, ăn cho lắm, ngủ cho nhiều rồi suốt ngày mộng mị. Ngoài tau và mi ở đây làm gì có ai nữa mô? Từ mai, trâu về sớm thì mi ra vườn nhổ cỏ cho tau. Cứ làm nhiều vào là khỏi nghĩ linh tinh.

    Bà cứng họng. Biết không thể hỏi thêm gì từ bà Ba nên từ đó bà cũng không nói ra những thắc mắc của mình. Nhưng các sự lạ vẫn không ngừng xảy đến. Thi thoảng bà còn như thấy bóng một ai đó lướt nhanh ngang qua vườn, đi vào bếp hay bước qua bậu cửa. Cảm giác rờn rợn hay lạnh toát sau gáy cũng ngày một nhiều. Đôi khi bà cứ có cảm giác như ai đó đang đứng phía sau mình. Đôi lần bà cảm nhận như có ai lén nhìn mình khi đang cúi đầu thổi lửa hay khi đang nhổ đám cỏ dại trong vườn.

    Đã vài lần bà thấy hàng xóm hay đám trẻ chăn trâu có vẻ đang bàn tán gì đó về gia đình mình, về ông ngoại, về bà Ba. Nhưng cứ khi bà đi đến thì họ lại im lặng hoặc nói lảng sang chuyện khác. Có lần bà lén nghe được họ nói ông ngoại làm nghề phù thuỷ, nuôi giấu âm binh rồi lén sai chúng quấy nhiễu các nhà. Họ còn nói ông vừa làm nghề cứu người lại vừa hại người. Thuốc ông chữa đã giúp cho nhiều người khỏi bệnh. Nhiều nhà có người ốm hay có việc tang đều nhờ ông cúng lễ mà mọi việc suôn sẻ. Nhưng việc ông âm thầm nuôi dưỡng âm binh thì là việc xấu. Lũ ma đói ma khát ấy chỉ theo lệnh làm loạn chứ sao làm việc tốt cho được. Chính vì nuôi lũ yêu ấy mà mỗi khi có việc phải ở nhà ông lại sai bà Ba đi chợ mua đồ về khao cúng âm binh. Họ nói những đồ khao đó bị đám âm binh vầy cho nát bét không ai ăn được. Họ còn nói đã đôi lần thấy bà Ba lén lút đổ chúng xuống cái ao trong vườn hay vất vào một xó xỉnh bẩn thỉu nào đó. Bà cũng thấy nghi bởi cũng có lần thấy bà Ba mua khá nhiều đồ ăn về nhưng đến bữa thậm chí cả ngày sau đó cũng không thấy mấy món đó dọn lên. Vốn nhút nhát lại hay bị mắng, bị đánh nên dù có nghi hoặc bà cũng không dám hỏi. Đôi lúc bà nghĩ là bà Ba cất để ăn riêng nên cũng không để ý. Nhưng có thật đó là những đồ mua về để khao cúng âm binh? Và có đúng là những đồ đó sau khi bị ma vầy thì không ai ăn được nên phải đem đổ bỏ như mọi người bàn tán? Nỗi nghi hoặc trong lòng bà mỗi ngày một lớn cho đến một lần bà quyết phải tìm ra sự thật. 

    Lần ấy, ông ngoại ở nhà những mấy hôm. Sáng đó, bà thấy bà Ba cắp thúng đi chợ. Lúc bà Ba về chiếc thúng có vẻ nặng. Lừa lúc bà Ba không để ý bà lén đến lật giở cái rá úp hờ trên miệng thúng. Một miếng thịt lợn, một con cá to, một khoanh giò cùng ít bỏng ngô. Lại còn có cả mấy bộ quần áo giấy và mấy đồ trông lạ lắm. Đang định xem tiếp thì có tiếng chân đến khiến bà buông tay, cố xếp mọi thứ lại như cũ rồi lỉnh luôn ra ngoài. Đến chiều mới thấy bà Ba lôi những thứ trong thúng ra lúi húi làm trong bếp. Nhưng đến bữa ăn tối tịnh không có miếng thịt hay miếng cá nào được đưa ra mâm. Sớm ngày hôm sau, trong lúc bà còn đang say ngủ, một tiếng chiêng nhẹ vang lên khiến bà thức giấc. Cánh cửa buồng đóng chặt thỉnh thoảng lại hắt lên ánh lửa như thể có ai đó đang thắp, đang đốt thứ gì phía bên trong. Bà nằm im nghe ngóng. Thi thoảng lại rộ lên những tiếng lào thào. Lúc lại nghe như có tiếng tranh cãi rồi lại xoảng, xoảng, cộc, cộc như tiếng thanh la, tiếng mõ cùng gõ. Bà vẫn nằm im giả vờ như đang ngủ. Lát sau bà thấy bà Ba bước đến bên buồng. Ông ngoại đẩy cửa và bà Ba bê ra một chiếc mâm đầy. Chờ bà Ba đi được một đoạn bà mới lén trở dậy đi theo. Bà Ba bê cái mâm ra tít tận bờ ao rồi ném từng thứ một xuống. Trời hơi tối nên bà không nhìn rõ là những thứ gì. Có thứ ném xuống nghe một tiếng ùm chắc là vật nặng. Lại có thứ nghe đánh tõm chắc là đồ nhẹ. Bà Ba mỗi lần ném lại dừng lại lẩm bẩm vài câu gì đó. Bà đã cố căng tai lên mà vẫn không nghe rõ câu nào. Lát sau thấy bà Ba lúi húi quẹt diêm đốt mấy bộ quần áo và mấy thứ đồ giấy. Một mùi khó chịu như mùi ẩm mốc, mùi thối rữa xộc đến. Bà cố ngăn cơn lợm giọng, buồn nôn ập đến. Sợ mình cảm, bà len lén lần mò trở lại trong nhà. Trong bóng tối nhập nhoạng suýt nữa bà đã va phải một người. May khi sắp va phải thì bà nghe thấy tiếng rì rầm nên kịp ghìm chân. Ông ngoại đang đứng giữa sân. Người ông choàng một bộ áo rộng thùng thình. Một tay ông cầm thứ gì đó trông như cây gậy nhỏ. Miệng ông lẩm bẩm như bắt quyết và một tay ông vung cây gậy lên. Bà nín thở nhìn ông như đang múa một bài quyền võ gì đó. Ông cứ đứng đó với miệng lẩm bẩm và các động tác lạ cho đến khi bà Ba mang cái mâm trở về. 

    Bà Ba lầm bầm:

    – Hôm nay, tôi cứ có cảm giác có ai đó đi theo mình và đứng nhìn mọi thứ tôi làm.

    Ông ngoại nhẹ giọng:

    – Chắc lại lũ trẻ con bị tò mò đấy thôi. Bà vào ngủ tiếp đi!

    Bà cố nín thở cho đến khi ông ngoại và bà Ba đi khuất hẳn mới dám nhẹ nhàng về lại chỗ ngủ. Và từ đó cho đến khi trời sáng hẳn bà cũng không thể nào ngủ lại được nữa. Mấy tuần sau thì bà bị bà Ba bán đi cho một nhà không có con ở bên đạo khi ông ngoại đi chữa bệnh chưa về.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG I: KHU VƯỜN XƯA

    CHƯƠNG I: KHU VƯỜN XƯA

    Níu vào cánh tay cô cháu gái, bà bước từng bước thận trọng. Ngay từ rất sớm bà đã thức giấc và không thể nào ngủ tiếp được. Đầu óc bà cứ nghĩ mãi về lần đi này. Bà đã lần nữa, lần nữa hết lần này đến lần khác. Vèo cái mà đã qua tận 80 năm. Khi quyết định sẽ trở lại, bà đã nói ý định với các con. Chúng đã sắp xếp cho bà về thăm quê và cắt cử cô cháu gái đi cùng. Chuyến đi này mục đích là thăm lại ngôi nhà xưa. 

    Ngay từ chiều qua, lúc xe vừa đến khách sạn bà đã thấy hồi hộp. Một đêm ngủ không ngon. Sáng ra, xe đã đến đón hai bà cháu từ khá sớm. Mất gần một tiếng, cuối cùng thì bà và cô cháu gái đã sắp đến nơi cần đến. Xe chờ hai bà cháu ở đầu làng. Bà và cô cháu gái đi bộ vào. Ngôi nhà mà theo bà nhớ là nằm giữa đám cây cối rậm rạp. Sau mấy lần hỏi thăm, hai bà cháu đã đứng trước khu vườn. Men theo khoảng trống nhỏ giữa các lùm cây cả hai bà cháu tiến dần vào trong. Ngôi nhà ngày một gần lại trong tầm mắt.

    Cũng đã lâu lắm bà mới trở lại nơi này. Ký ức của hơn 80 năm trước dường như chưa bao giờ phai nhạt dù gần đây trí nhớ của bà đã sa sút. Trong những câu chuyện về thời thơ ấu, quãng thời gian 3 năm sống với ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại với chồng, với các con và giờ là các cháu của mình. Ba năm đó kéo dài từ khi bà mới 7 tuổi đến khi bà lên 10. Ba năm với không biết bao ngày phải chịu đói, chịu rét, bị đánh đập, hành hạ, bị bán đi bởi sự tai quái, những hận thù tích tụ từ người vợ ba của ông ngoại. Bà vẫn nhớ như in những trận đánh thừa sống thiếu chết với lời rít lên từ miệng của bà Ba: 

    – Con bà, con mẹ, con dì mày đã hành hạ bà. Giờ thì bà hành lại!

    Những ngày đó, cứ cách vài ngày trên người bà lại in hằn thêm những lằn roi mới. Nhớ những ngày vào đông, bà co ro tê tái trong cái rét cắt da cắt thịt khi trên người chỉ có một bộ quần áo cộc. Rồi những bữa bà bị bà Ba đuổi phải lủi thủi nấu ăn một mình khi ông không có nhà. Nhiều khoảng thời gian trong năm bà theo mọi người trong làng đi hái chè, mót lạc, mót lúa để tự lo cái ăn. Ông ngoại cứ vắng nhà suốt. Bà Ba lại ghét bỏ nên một đứa trẻ mới 7 tuổi như bà bị ném cho tự sinh, tự diệt. Nhưng tất cả nỗi cơ cực đó cũng không đáng sợ bằng việc phải đối mặt với những hồn ma lẩn khuất trong khu vườn ấy. Chúng cứ rủ rỉ rủ bà đi với chúng mỗi khi ông ngoại vắng nhà hay khi bà ốm phải nằm còng queo một mình trên chiếc phản gỗ. Ông ngoại bà làm nghề thầy cúng, thầy thuốc và thầy phù thuỷ. Cuộc đời ông xê dịch kiếm ăn tại nhiều nơi, nhiều tỉnh thành. Nó cũng là duyên cớ để ông có nhiều vợ, lắm con. Ngoài bà cả mất sớm vì bạo bệnh, ông còn có bà hai cùng năm người con. Bà Ba thì còn khá trẻ.

    Bà ngoại của bà là vợ hai và bà là cháu ngoại của ông. Chỉ vì lời thầy phán số khắc cha khắc mẹ mà bà bị bố mẹ đẩy cho ông ngoại nuôi. Họ hy vọng ông là thầy cao tay sẽ giải được ách nạn mà bà đang mang. Bảy tuổi, bà lếch thếch tay nải quần áo đi theo ông ngoại về quê, sống cùng bà Ba, người vợ trẻ của ông. Bảy tuổi, bà không biết mình đã bước vào địa ngục khi phải sống xa cha mẹ, quê quán và phải ở với bà trẻ – một người chất đầy hận thù vì những màn ghen tuông, chèn ép giữa các bà vợ. 

    Thoáng đó mà đã 80 năm kể từ ngày bà rời khỏi khu vườn. Bà đã lấy chồng, sinh con rồi có cháu nội, cháu ngoại. Trong những câu chuyện bất tận kể lại cho lũ cháu ký ức 3 năm ở cùng ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại nhiều lần. Có lẽ bởi 3 năm đó có quá nhiều bi kịch, những nỗi sợ đi theo bà suốt cả đời người. Đã nhiều lần, bố mẹ rồi họ hàng, các anh chị em nhắc bà về lại nơi cũ. Họ muốn bà hoà giải với bà Ba. Cũng muốn bà nhận các cậu, các dì do bà Ba sinh ra nhưng bà đều từ chối. Nỗi đau bị đánh đập, bị bán rồi những nỗi sợ mơ hồ khiến bà luôn có lý do để từ chối trở lại nơi này. Cho đến cả khi ông ngoại rồi bà Ba mất bà cũng biện nhiều lý do để không phải trở về. Lâu dần, họ hàng cũng không còn thúc giục khi biết bà không buông bỏ được quá khứ, không quên được 3 năm địa ngục khi sống ở đó. Vậy mà giờ đây, ở tuổi 90 khi trí nhớ bắt đầu lẫn lộn bà lại muốn một lần được trở lại nơi này. Bà còn chủ động dẫn theo cô cháu nội, đứa trẻ gần gũi với bà nhất để cùng trở lại khu vườn xưa. Bà chỉ cho cô cháu gái ngôi nhà đã cũ nát của ông ngoại. Một ngôi nhà 5 gian xập xệ nằm lọt thỏm giữa khu vườn rộng với mái ngói âm dương đã sạt xuống ở một góc chứng tỏ lâu rồi không có người qua lại. Phía ngoài tường, nấm mốc đã kéo lên quá nửa với những mảng rêu vừa xanh vừa xám xen lẫn những đám sần sùi sủi lên từ lớp vôi tường. Xung quanh ngôi nhà, đám cây dại mọc lung tung, phía xa là một hồ nước nhỏ. Giọng bà xa xăm: Cũng tám chục năm rồi, gần một thế kỷ chứ có ít đâu!

    Thấy bà đứng ngẩn ra trước ngôi nhà cũ, cô cháu gái ngây thơ hỏi: 

    – Bà ơi, thế mấy con ma bà kể liệu có còn sống ở đây không ạ?

    Một thoáng rùng mình chạy dọc khắp thân hình già nua. Trên gương mặt đầy nếp nhăn của bà thoáng một vẻ sợ hãi. Bà thì thầm: Bà cháu mình rời khỏi đây thôi! Bà thấy mệt rồi. 

    Bước chân hơi run do tuổi tác, do sợ hãi vẫn cố tỏ ra mạnh mẽ. Bà cố đi thật nhanh trong khi tay vẫn níu chặt lấy cánh tay đứa cháu gái. Cô cháu gái có vẻ như bị sự tò mò lấn át nên dù bị bà kéo đi vẫn nhớn nhác nhìn khắp khu vườn. Một khu vườn bị bỏ hoang với cây cối um tùm, không người chăm sóc. Bóng của hai bà cháu nhỏ dần ra phía ngoài. Cả hai không biết rằng ngay từ khi họ bước chân vào khu vườn đã có những ánh mắt thấp thoáng dõi theo họ. Và khi bà đứng lặng nhìn vào ngôi nhà cũ thì những ánh mắt dường như cũng dần nhận ra bà lão đã gần 90 kia chính là cô bé mà hơn 80 năm trước đã từng sống cùng ông ngoại tại nơi đây. Một con bé bị bứt khỏi gia đình, bố mẹ, anh em, quê quán để theo chân ông ngoại là một thầy thuốc, thầy cúng, thầy phù thuỷ về lại với quê xưa. Trong khi ông ngoại vắng nhà suốt vì đi cúng, đi bốc thuốc, chữa bệnh thì tại khu vườn này chỉ còn lại hai bà cháu. Bà Ba còn rất trẻ và cô cháu ngoại của bà vợ hai. Hai con người không cùng máu mủ nhưng có chung một mối liên hệ gắn bó với ông thầy. Bà Ba còn trẻ, lại hay phiền lòng khi phải sống vắng chồng. Bao khó chịu, bực dọc rồi những uất ức khi bị bà Hai cùng đám con hành hạ khi trước bà đem trút hết vào đứa cháu vô tội. Cứ nhìn nó là bà nhớ lại quãng thời gian bà mới theo ông. Ngày đó bà còn trẻ, lại có nhan sắc. Bà cũng vì ham ông tài, ông giỏi lại kiếm tiền tốt nên mới đi theo. Nhưng cái thói chung chồng khiến bà nếm đủ những đòn ghen khi trực diện, lúc giấu mặt từ bà Hai và đám con của bà. Cũng chính vì những mâu thuẫn liên miên giữa hai bà vợ mà ông quyết chuyển về đây. Bà Ba còn trẻ, lại chưa có con. Ông với bà về quê cũ vừa giúp bà Ba tránh xa đòn thù từ bà Hai lại khiến ông đỡ phải đau đầu khi cứ phải phân xử, phải đứng giữa hai bà vợ. Con bé là thành viên duy nhất của gia đình bà Hai. Vì nó mệnh cao, số sát cha sát mẹ nên con gái và con rể muốn ông mang theo để trừ tai ách. Công việc khiến ông cứ đi suốt. Lúc thì khám bệnh, lúc cúng bái, khi làm lễ cho các gia đình. Khu vườn rộng nên ông trồng nhiều loại cây thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh. Những lúc ông ở nhà, nhiều gia đình cũng hay mang người ốm đến để nhờ ông chữa trị. Một số người khỏi bệnh. Một số khác thì mất ngay tại nhà thầy. Ngoài chữa bệnh, ông còn học được nghề thầy cúng, thầy phù thuỷ. Ông biết, nhiều bệnh nhân mất tại nhà mình đã không muốn rời khỏi khu vườn. Một số đã gia nhập vào đội âm binh mà ông vẫn nuôi giấu. Một số thành những hồn ma vất vưởng.

    Là thầy cao tay, làm việc với cả phần dương lẫn cõi âm nên ông biết khu vườn nhìn bề ngoài chỉ có hai bà cháu nhưng thật ra bên trong có khá nhiều linh hồn cùng trú ngụ. Ngoài đội quân âm binh do ông thu nạp, còn có những bệnh nhân được người nhà đưa đến cho ông chữa trị và đã mất tại đây. Linh hồn họ đã không về lại nhà mà vương vấn mãi với khu vườn. Nhiều người trong số họ đã chứng kiến tất cả. Một người đàn bà trẻ với mối thù hận dai dẳng lại luôn sống vắng chồng. Một con bé bị vứt bỏ vì có số sát cha sát mẹ. Họ đã chứng kiến con bé bị đánh đập, bị ghẻ lạnh, hắt hủi bởi bà trẻ. Vài kẻ trong số đó đã muốn mang con bé theo cùng. Là thầy, ông cũng có biết những việc đó. Nhưng con bé cao số. Nó đã không đi theo những lời rủ rê. Nó đã cầu cứu sự giúp đỡ và rồi nó theo bố đi biệt về tận một làng quê ngoài Bắc. Thoáng chốc đã 80 năm, đã gần một thế kỷ. Những linh hồn ở đây đã ngỡ như quên hẳn hình bóng đó. Nhưng hôm nay, con bé ngày đó đã trở lại. 80 năm đã biến con bé gày gò ngày nào thành một bà lão 90, cái tuổi dường như cũng sắp đi về cùng một cõi với họ. 80 năm biền biệt đến hôm nay mới trở lại. Một cuộc trở lại cũng không có lý do khi cả ông ngoại và bà Ba đều đã mất từ lâu. Bà lão ấy đã đứng đó một lúc rồi rời đi cùng cô cháu gái. Bước chân đi vội như cảm nhận được điều gì đó. Hai bà cháu đi rồi nhưng vẫn có những ánh mắt ẩn nấp đâu đó trong khu vườn dõi theo họ. 80 năm quá dài nhưng lại như quá ngắn với sự trở về này.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XIX: TỪ BIỆT

    CHƯƠNG XIX: TỪ BIỆT

    Bà đã chính thức về với ông bà. Chuyến đi đã được báo trước, đã được chuẩn bị nên mọi việc diễn ra đúng theo ý bà dự liệu. Ngày bà đi cũng là ngày linh hồn con ma chị tan biến khỏi ngôi chùa. Nó cứ thế mà tan đi. Chắc linh hồn nó giờ đang lang thang tại một cảnh giới khác. Để rồi lại tiếp tục học những bài học khác trước khi đi đến một cảnh giới cao hơn. Con ma em khóc nấc khi không tìm thấy ma chị đâu. Nó chạy khắp trong chùa, ngoài cổng, gặp ai cũng hỏi xem có thấy chị mình ở đâu không. Nhiều hồn ma không biết chị nó đã đi đâu. Nhưng bà ma già thì biết. Trước khi đi chị nó còn nhờ bà chăm sóc, bảo ban ma em. Nó còn dặn có thể người nhà sẽ đưa bà lão ấy lên chùa vào vài tuần tới. Khi ấy con ma em sẽ có thêm một chỗ dựa. Nhưng cũng chỉ là tạm thời thôi. Rồi ma em cũng sẽ phải tự mình học lấy mọi thứ khi không còn có chị. Con ma chị đi rồi, bà ma già cũng thấy nhớ nó. Bà cũng ngộ ra hành trình của kiếp người là những chuyến đi dài không nghỉ. Gặp gỡ đấy mà chia ly ngay đấy. Con người cứ đi từ kiếp này sang kiếp khác, từ cảnh giới này sang cảnh giới khác. Có người đi mãi không nghỉ và luôn tiến về phía trước. Lại có người cứ mãi dừng chân tại một nơi vì đã chọn sai hoặc lưu luyến không nỡ rời. Như bà cũng vì lưu luyến với con cháu, với người thân, với bạn bè mà đã dừng chân khá lâu tại nơi này. Nhưng có lẽ cũng phải tính đến sự rời đi thôi. Con ma chị đến sau nhưng nó đã rời đi trước cả bà rồi.

    Những ngày gần đây, nhờ chăm nghe kinh, nghe các thầy giảng pháp bà cũng ngộ ra trong vòng luân chuyển của muôn lượng kiếp, của những cảnh giới khác nhau có những người nhờ tài học, nhờ sự thông minh mà có thể qua lại giữa các cảnh giới. Một số ông thầy có thể tự mình đi qua đi lại giữa các cảnh giới khác nhau rồi lại trở về. Khi còn sống, bà từng xem nhiều video của một thầy trên mạng. Một người có biệt tài bắt ma, diệt quỷ. Ông thầy đó có đôi tay rất đẹp. Tay thầy trắng, mịn, mềm như tay con gái. Ông đã giúp bao gia đình thoát khỏi sự quấy nhiễu của ma, của quỷ. Nhờ hay xem các clip của ông mà bà biết có những linh hồn dù đã mất mấy trăm năm nhưng vẫn chưa siêu thoát. Lại có linh hồn mới mất chưa lâu đã về nhà vì lo cho con, cho cháu. Lại có kẻ đã tự biến mình thành quỷ thành quái khi luôn thích hãm hại người. Có người bị mất khi đang ngủ, đang mê nên không nhớ nổi mình đã mất ở đâu, mất như thế nào? Ông thầy đó đã có lần dặn các đệ tử, những người hay xem clip của mình cứ niệm Natasera vào nửa đêm là sẽ có người đến và đưa đi. Ông còn nói chắc nịch về chuyện câu thần chú đó sẽ đưa mọi người du ngoạn tới cõi âm và các cảnh giới khác. Và nếu có gặp quỷ sứ thì cứ gọi tên ông là bọn chúng sẽ sợ. Khi xem các clip ấy bà cũng không tin lắm. Bà nghĩ là ông thầy ấy đang cậy tài, thị tài mà không ngại xúc phạm tới ma quỷ. Bà cũng không biết có ai làm theo lời ông thầy ấy hay không nhưng chắc chắn là nhiều người, trong đó có bà đều không dám. Cứ cho là đi được đến cõi âm thật nhưng liệu có trở về được nữa hay không thì ai dám chắc. Mà cứ cho là trở về được thì liệu những gì đã chứng kiến, đã trải nghiệm dù là trong mơ có khiến con người ta thấy xa lạ với thực tại đang sống. Khi còn sống, bà đã từng đọc, từng xem những quyển truyện, vở kịch nói về việc con người có thể du ngoạn tới cõi âm hay gặp những cơn ác mộng. Có ác mộng đến vào lúc nửa đêm. Nhưng có ác mộng xảy ra ngay giữa giấc ngủ ban ngày. Có người vì quá khiếp sợ với những đòn tra tấn của quỷ sứ với người phạm tội mà tỉnh ngộ, ăn năn chăm làm thiện, bớt việc ác. Bà cũng đã nghe nhiều chuyện, dù ở những cảnh giới khác nhau nhưng có những tần số vì hợp mà có thể tụ lại hay giao nhau dẫn đến cảm nhận, nhìn thấy, nghe thấy ở một khoảnh khắc nào đó. Cũng có thể, ở một khoảnh khắc nào đó bánh răng của tạo hoá bị sai lệch dẫn đến một vài va chạm, tiếp xúc vượt quá cảnh giới. Dù thế nào thì có lẽ cuộc sống nơi trần thế cũng không phải là duy nhất. Ngay cả cõi âm này cũng vậy. Nó cũng không phải là cảnh giới cuối cùng. Bà ma già thở dài. Bà đã tưởng đây là bến cuối nhưng sự biến mất của con ma chị khiến bà phải suy nghĩ. Bà cũng không thể ở lại mãi nơi này. Bà chợt thấy sự chờ đợi để có thể gặp gỡ lại người nhà, người thân, bạn bè khi họ đến chùa đã không còn quá quan trọng. Giờ thì bà phải đi tìm con ma em và dỗ dành nó. Cũng không biết đến bao giờ con ma em mới nguôi ngoai và quên được chị nó.

    ./.

                                                  Hà Nội, ngày 15/4/2026

    Ngô Thị Minh Nguyệt

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XVIII: SAU GIẢI THOÁT SẼ LÀ GÌ?

    CHƯƠNG XVIII: SAU GIẢI THOÁT SẼ LÀ GÌ?

    Con ma chị bỗng thấy bồn chồn. Đã mấy tuần nay bà ấy không ra chùa. Hình như bà ấy ốm nặng. Nó đã vài lần lảng vảng trước cửa nhà bà nhưng không vào được. Có rất nhiều người tụ tập trong ngôi nhà đó. Có cả người sống lẫn người đã mất trong gia đình bà ấy. Trong khi những người sống lo lắng, tất tả đi đi lại lại thì những người đã mất lại bình tĩnh chờ đợi. Một bên lo lắng về điều sắp xảy ra. Một bên thì như đã biết trước kết cục. Không biết sắp tới đây khi không còn ở cảnh giới này thì sự chia ly giữa nó và em có bịn rịn như những gì đang chứng kiến. Cũng không biết nó có chờ được để gặp lại bà ấy ở cõi âm không? Gần đây, nhiều lúc nó như thấy mình bị một lực vô hình kéo đi. Có lúc lại như thấy mình như đang tan đi. Nó đã phải cố gắng để mình không tan biến. Nó vẫn còn lo cho em. Con bé còn nhỏ quá. Những ngày qua, nó đã dặn em hãy chăm nghe kinh, chăm tham gia các đàn lễ, chăm nghe thầy giảng pháp thay vì chạy chơi suốt ngày bên đàn bồ câu. Nó nói mình có thể phải đi xa. Nhưng em nó dường như không hiểu hết những điều nó chia sẻ. Nó đã quen luôn có chị ở bên suốt bao năm qua. Nó vui khi thấy chị vui. Nó buồn khi thấy chị buồn. Chị oán hận, ghét bỏ ai nó cũng ghét luôn người đó. Chị em nó giống như kiểu cùng cộng sinh, cộng nghiệp. Có lẽ vì thế mà chị em nó đã ở bên nhau lâu đến như thế. Nhưng những gì bà ấy nói và những điều nó nghe được, học được ở ngôi chùa này đã khiến nó thay đổi. Nó hiểu mọi oán hận đều đến lúc phải buông bỏ. Khi không còn chấp niệm vào một điều gì đó thì chính là giải thoát. Nhưng giải thoát rồi thì tiếp theo sẽ là gì? Liệu có tiếp tục bị trói buộc vào một chấp niệm khác rồi đến lúc nào đó lại tỉnh ra, ngộ ra và lại giải thoát tiếp. Trong kinh phật cũng từng nói đến những giải pháp từ thấp đến cao. Nó đã từng nghe giảng khi con người còn đắm mình trong mê muội thì các Bồ tát chỉ có thể hướng họ dần dần, từng chút một. Họ sẽ phải đi từ những bài học thấp nhất, sơ khai nhất rồi đi dần lên cao. Mỗi một bài học họ đi qua là một cách tập buông bỏ, tập giải thoát. Không biết sẽ có bao nhiêu bài học về sự buông bỏ, sự giải thoát. Con đường đó phải đi đến khi nào mới là khúc cuối? Hay cái sự học, sự tu tập sẽ là mãi mãi. Các đức Phật, các đấng Bồ tát liệu có còn phải học tiếp hay họ đã đi đến giới hạn cuối cùng của sự học, của tỉnh ngộ và giải thoát khỏi mọi ràng buộc, mọi khổ đau? Các linh hồn bị kẹt lại như linh hồn cô gái tự tử khi đã tỉnh ngộ liệu có thể tiếp tục tu tập và giải thoát? Có biết bao câu hỏi, bao điều nó muốn biết nhưng lại chẳng thể hỏi ai. Bà ma già đã giúp nó trả lời nhiều câu hỏi khi chị em nó mới tới chùa. Nhưng nhiều điều nó muốn biết sau này bà ấy cũng không thể trả lời được. Những buổi dự đàn lễ, nghe giảng pháp nó cũng ngộ ra nhiều điều. Nhưng vẫn còn biết bao nhiêu điều mà nó muốn biết, muốn tìm hiểu. Ngay như việc các gia đình có người mới mất đến chùa làm lễ rồi hồi hướng công đức đọc kinh, trì tụng cho người mới mất nó cũng không hiểu lắm. Nó được giải thích rằng càng có nhiều người đọc kinh, nhiều người cùng trì tụng và hồi hướng thì người mất càng được thêm công đức. Công đức được tôn bồi thêm ấy sẽ khiến họ bớt đi những tai ách ở thế giới bên kia. Hiểu đơn giản là làm một việc tốt sẽ được xóa bớt đi một việc xấu. Nhưng sao nó hay nghe than người tốt mà không được báo đáp hay ông ấy, bà ấy hiền lành, tử tế thế mà lại gặp nạn hay bệnh tật lúc cuối đời. Liệu có lẽ nào ngoài các việc tốt mà họ đã làm vẫn còn những việc làm xấu, những ý nghĩ xấu mà họ đã làm, đã khởi lên, đã tích tụ từ vô lượng kiếp. Nhiều lúc, nó như muốn nổ tung cả cái đầu bé nhỏ khi có biết bao nhiêu câu hỏi nó muốn hỏi, muốn biết. Nhiều bữa nó cứ lân la, quanh quẩn bên các thầy đến giảng. Nó nghe các thầy giảng trước đám đông, trước các đạo hữu, các gia chủ. Nó còn hóng hớt cả khi các thầy giảng giải cụ thể một vấn đề nào đó cho một vài người hay một nhóm nhỏ. Nó còn muốn hỏi riêng thầy những điều mà nó thắc mắc. Nhưng nó không biết phải làm sao để các thầy nghe được điều nó muốn hỏi. Nhiều lần nó cố ghé tai, cố nói to hay thì thầm để các thầy nghe thấy nhưng chả có ai nghe được lời nó nói. Dường như vẫn có quá nhiều cách trở, quá nhiều những rào cản để con người ở thế giới bên này và những linh hồn ở thế giới bên kia như nó có thể giao tiếp, thấu hiểu. Những việc như nhập hồn, thoát xác, nói lên điều mình muốn không phải lúc nào, người nào cũng làm được. Tại đàn lễ giải thoát ở khu vườn đêm ấy, chị em nó và lũ âm binh đã được các thầy làm phép cho nhập hồn, nhập khẩu để nói lên mọi oán hận. Nhưng có lẽ đó lần hiếm hoi và không dễ lặp lại. Sau này, mọi giao tiếp của chị em nó chỉ còn quanh quẩn trong thế giới của những linh hồn. Chúng có thể nghe, có thể thấy mọi điều những người còn sống đang làm. Nhưng những người đang sống lại hiếm khi nghe trọn, hiểu trọn được những gì chúng muốn. Có lẽ chỉ những người cùng tần số hay các pháp sư, thầy phù thuỷ cao tay mới có thể bước qua được những lằn ranh đó. Chưa bao giờ nó lại khao khát được học, được hỏi, được hiểu về mọi thứ như lúc này. Có lẽ chỉ khi tự giải thoát ra khỏi cảnh giới này và đi tiếp thì nó mới học được, hiểu được những điều mà nó đang thắc mắc.  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XVII: AI CŨNG CẦN GIẢI THOÁT

    CHƯƠNG XVII: AI CŨNG CẦN GIẢI THOÁT

    Bà mệt nặng. Các con đã đưa bà đi khám nhưng bác sĩ nói bà không có bệnh trọng. Chỉ là các chức năng trong cơ thể đang dần suy kiệt, lão hoá vì tuổi tác. Trong khi các con lo cuống lên thì bà lại thấy thật bình thản. Bà đang đi đến những ngày cuối của cuộc đời. Nơi bà sắp tới đây có thể sẽ gặp lại nhiều người thân. Những người đã đi đến đó trước bà. Hồi con rể bà bệnh trọng. Các thầy đều đoán sẽ ra đi trong tháng nhưng rồi con rể bà đã vượt qua lời tiên đoán ấy. Nó đã sống thêm được hai tháng. Có lẽ vì còn trẻ, còn có sức và hơn tất cả là khao khát được sống, khao khát được ở cùng vợ con đã khiến con rể bà kéo dài thêm thời gian. Những ngày cuối cùng, không chỉ người nhà mà hàng xóm cũng vài lần nhìn thấy những sự lạ. Những bóng điện trước cổng chợt tối đi một khắc như có bóng ai đó vừa mới lướt qua. Cô hàng xóm còn quả quyết đã nhìn thấy cả một xe Hải Âu cũ – loại xe mà giờ các tuyến công cộng hay đường dài đã không còn sử dụng – đỗ trước cổng. Xe chở đầy người đứng lố nhố trước cổng nhà của con rể bà. Cô ấy cũng biết điều đó là không thể. Nhưng dường như những đồng đội cũ đang đến đón người đi. Con rể bà cũng có thời là bộ đội. Cậu ấy từng đi lính và chiến đấu ở mặt trận biên giới phía Bắc. Có lẽ vì thế mà đồng đội đã ghé thăm khi biết nó sắp đi xa. Chỉ có điều những đồng đội đó đều đã là người của cõi khác. Và chiếc xe Hải Âu đó gần như đã biến mất khỏi đời sống đô thị hiện đại. Có chăng đám xe cũ đó vẫn còn tồn tại ở những bản làng xa xôi, nơi để chứa chấp, tồn đọng lại những thứ đã cũ, đã bỏ đi từ các đô thị. Cũng không biết khi bà đi đến những thời khắc cuối thì sẽ có những người thân, bạn bè nào đến đón bà? Mà họ có đến chắc cũng chỉ như người đưa tiễn một đoạn rồi thôi. Chặng đường chính bà vẫn phải tự mình đi, tự mình lựa chọn và tự mình đưa ra các quyết định.  

    Những ngày chờ đợi bà cũng đã thu xếp xong mọi chuyện. Từ phân bổ chút ít tiền tiết kiệm đến những dặn dò con cái, người thân. Bà cũng đã nhờ con cháu đưa bà đến những người bà cần gặp, cần thăm, cần chào hỏi, từ biệt trước lúc đi xa. Bà đã làm xong tất cả. Bà đã sẵn sàng để có thể ra đi bất cứ lúc nào. 

    Ngày còn trẻ, có thầy khi xem cho bà đã phán:

    – Cô phải thật cẩn thận vì khi mất có khả năng cao là sẽ chỉ có một mình. 

    Khi ấy bà đã không hiểu. Bà đã hỏi đi hỏi lại rằng chồng con rồi người nhà đâu mà bà lại chỉ có một mình khi mất? Thầy đã giải thích có thể lúc đó người nhà đi vắng, chỉ có một mình bà ở nhà. Hoặc cũng có thể bà ra đi trong lúc đang ngủ. Bà cũng đã thấy vài trường hợp người mất ra đi rất nhẹ nhàng. Họ ra đi ngay trong giấc ngủ rồi không bao giờ trở dậy nữa. Ý thức về điều đó nên bà đã chủ tâm thu xếp ổn thoả mọi việc trước lúc ra đi. Bà cũng cố gắng hạn chế ít nhất những bất ngờ ngoài dự liệu. Sẽ không có những điều muốn nói mà không kịp nói. Tất cả đã được bà làm gọn ghẽ để có thể nhẹ nhàng buông xuống bất cứ lúc nào. Bà chợt nghĩ tới hai chữ giải thoát. Có lẽ nào bà đang thu xếp, đang chuẩn bị mọi thứ để tự giải thoát cho mình? Những ngày ốm bệnh bà đã nghĩ nhiều về 90 năm của cuộc đời mình. Trong đời mỗi con người do mê lầm, cố chấp mà đã tự trói buộc mình vào không ít chuyện. Có người bị trói vào nghĩa vụ chăm lo cho bố mẹ, anh em, con cháu dù đôi lúc đó không phải phận sự cũng như không ai bắt họ phải làm. Có người lại nghĩ mình phải đấu tranh cho bất công, cho người khác mà không biết mình chỉ đang nhìn sự việc ở một phía dẫn đến những sai lầm, ngộ nhận. Lại có người lấy việc hy sinh vì chồng, vì con, vì gia đình làm lẽ sống mà quên đi chính bản thân mình. Không ít người, ở những giai đoạn khác nhau của cuộc đời đã tin lầm, chấp mê vào một người hay một tư tưởng, giáo phái nào đó rồi đến lúc ngộ ra lại phải chật vật tự mình giải thoát. Có cái giải thoát về mặt tinh thần khi không còn bị chấp mê vào một điều mình từng tin tưởng. Có cái giải thoát về mặt trách nhiệm và nghĩa vụ khi bao lâu nay mình cứ tự quàng vào. Nhưng nhiều nhất có lẽ là sự giải thoát khỏi tình yêu khi nhiều người nghĩ mình sẽ chết nếu thiếu đi tình yêu đó. Nhưng khi tình yêu hết hoặc bị phản bội họ đã phải chật vật bước qua đoạn tình cảm đó. Và khi đã giải thoát khỏi sự lệ thuộc, nhiều người như bừng tỉnh và nhận ra hoá ra không có người ấy mình vẫn có thể sống tốt. Đời bà đã chứng kiến không ít những câu chuyện như vậy từ người thân, người quen, từ bạn bè và cả chính mình. 

    Nghĩ đến giải thoát, bà chợt nhớ đến bà Đốc Nhân – một bà cô họ xa – với cuộc đời đầy những thăng trầm, xa xót. Ngày bà cô về làm vợ ông Đốc Nhân cả họ mừng lắm. Mừng vì bà cô được gả vào nơi yên ổn, giầu có. Mừng vì họ hàng có thể nhờ vả được chút đỉnh từ ông Đốc không chỉ về tiền bạc mà cả công việc. Ông ấy học nhiều, lại đang làm việc cho Tây nên trong mắt mọi người bên vợ ông ấy cao quý lắm. Cao quý không chỉ vì tiền bạc mà cả cái cách ông đi đứng, ăn mặc và nói chuyện. Mỗi lần về làng, ông ấy đều mặc một bộ comple trắng, đội chiếc mũ phớt, tay chống cây batong mạ vàng. Ông đi đến đâu là mùi nước hoa sực nức bay theo đến đó. Các ông bố bà mẹ khi nhìn thấy ông Đốc đều ước ao con gái mình được gả cho một người sang trọng, giầu có như thế. Bà cô của bà được gả khi vợ đầu của ông Đốc bỏ đi. Ai cũng nghĩ bà vợ bỏ đi ấy dại quá. Đâu phải ai cũng vớ được một ông chồng thơm tho, giầu có đến như thế. Nhưng mãi sau này thì mọi người mới hiểu. Ông Đốc Nhân không có khả năng sinh con. Ông lại quá sạch sẽ, kỹ tính nên người nào ở cùng ông cũng không dễ để chiều theo. Nhưng cô của bà là người khéo léo. Bà chấp nhận chuyện ông bà không thể có con chung. Bà cũng chấp nhận những kỹ tính thái quá của ông trong các sinh hoạt thường ngày. Nhưng bù lại bà có tiền bạc để lo cho bố mẹ, cho anh em và các cháu trong nhà. Được cái bà là người biết điều nên không chỉ chăm lo cho gia đình bên mình mà gia đình bên chồng bà cũng rất chu đáo. Bà nhận nuôi 3 đứa cháu bên chồng và 3 đứa cháu bên mình. Những người được bà nhận nuôi đều được cho ăn học. Năm 1954, bà theo ông Đốc vào Nam. Cả 6 người con nuôi đều đi theo bà. Nhiều gia đình còn tiếc khi không được gửi con đi theo với ông bà. Ai cũng biết bà không có con nên bao nhiêu tiền của, tâm sức bà dồn lo cho các cháu – cũng là các con nuôi của ông bà. Sau này nghe nói cả 6 người con nuôi đều được bà dựng vợ gả chồng tử tế. Thậm chí, bà còn lo vốn làm ăn, lo nhà cửa cho họ. Nhưng đến cuối đời, khi ông Đốc đã mất thì không một người con nào nhận bà về nuôi. Buồn chán, xót xa bà đã cắt đứt quan hệ với họ và với mọi người rồi vào tu trong chùa. Ai cũng trách 6 người con nuôi tệ bạc. Mấy lần, họ hàng bên chồng rồi bên bà tìm đến chùa để khuyên nhủ và muốn mang bà về sống cùng. Nhưng bà kiên quyết không gặp mặt một ai. Nhiều người thương bà cứ năn nỉ sư thầy cho gặp nhưng bà nhất quyết không ra. Bà nhắn với mọi người qua sư thầy rằng cả đời bà đã hy sinh cho họ hàng hai bên, cho anh em, cho các cháu, các con nuôi của bà. Nhưng đến cuối đời bà lại gặp phải cảnh trái ngang khi cả 6 người con nuôi đều không muốn đón bà về nhà. Bà không còn muốn bất kỳ một liên hệ nào với họ cũng như họ hàng hai bên nữa. Bà đã quy y theo Phật. Bà đã tự giải thoát mình khỏi tất cả những mối liên hệ với họ hàng. Xin mọi người đừng đến làm phiền việc tu tập của bà. Ngay cả khi mất bà cũng không muốn gặp lại họ. Bà cũng đã gửi gắm phần hậu sự của mình cho nhà chùa lo liệu. Bà không còn muốn có bất kỳ sự dính dáng nào tới họ hàng hai bên nữa. Bà muốn giải thoát khỏi tất cả. 

    Những lời bà ấy nhắn ra làm nhiều người đau đớn. Có người ôm ngực khóc nghẹn. Một người đã hy sinh tiền bạc, công sức, tuổi trẻ của mình cho bố mẹ, cho anh em, họ hàng như bà mà đến cuối đời lại muốn từ bỏ, muốn giải thoát khỏi tất cả những mối dây liên hệ thì hẳn là phải đau lòng lắm lắm. Bà Đốc Nhân đã gặp phải chuyện gì? Sáu người con nuôi của hai bên dòng họ đã đối xử ra sao để bà ấy đi đến quyết định như vậy? Có lẽ nào dòng con nuôi bên chồng lại tị nạnh với dòng con nuôi bên bà và ngược lại dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm. Không ai biết chắc nội tình nhưng ai cũng cảm thấy cả 6 người con nuôi đều rất đáng trách. Bà Đốc Nhân sẽ không đi đến quyết định cực đoan như vậy nếu chỉ cần có một người con nuôi đứng lên đảm nhận, chăm lo cho bà. 

    Đời bà cũng từng chứng kiến nhiều gia đình mâu thuẫn, tị nạnh lẫn nhau không phải do nghèo khó. Thậm chí, một số đứa con trong nhà còn thuộc dạng có của ăn của để. Nhưng sự so bì, tị nạnh giữa các con đã khiến nhiều bố mẹ già phải khổ sở, phải ngậm đắng nuốt cay lúc cuối đời. Chứng kiến nhiều chuyện bà mới hiểu không chỉ nghèo, không có tiền lo cho nhau mới khổ. Ngay cả khi giầu vẫn có thể xung đột, bất hoà khi người này người kia tị nạnh. Có của thì tị của. Không có của thì tị công. Ai cũng nghĩ mình vất vả. Ai cũng sợ mình và gia đình nhỏ của mình chịu thiệt khi phải bỏ công, bỏ của chăm bố, chăm mẹ. Những lúc ấy liệu có đứa nào nghĩ đến việc cha mẹ đã bỏ công, bỏ sức ra bao nhiêu để nuôi chúng lớn khôn. Rồi đứa khoẻ, đứa ngoan thì tốn ít tâm sức, tiền của. Đứa nào đau yếu lại lười nhác, hư hỏng thì tốn không biết bao sức, bao công, bao tiền của và cả mồ hôi, nước mắt của cha của mẹ. Các con ruột, anh chị em ruột còn đối đãi với nhau như thế thì bà Đốc Nhân với 6 đứa con nuôi của hai bên dòng họ liệu có phải cũng rơi vào vòng xoáy của sự so bì, tị nạnh? Bà Đốc Nhân đã tìm đến chùa để giải thoát mình khỏi họ hàng hai bên, khỏi 6 người con nuôi. Có người trách bà Đốc Nhân cạn nghĩ khi họ hàng còn cả đống đấy có phải ai cũng lòng dạ bạc bẽo đâu. Nhưng nhiều người thì hiểu. Đến 6 người con nuôi được bà dốc công chăm bẵm còn chả có trách nhiệm với bà lúc cuối đời thì trông mong gì ở đám họ hàng chỉ chăm chăm nhờ vả hay mong ngóng vào đống tài sản của bà. Không biết ở những ngày cuối đời bà ấy có buông bỏ được mọi thứ hay không? Bà ấy đã ra đi trong nhẹ nhàng, thanh thản hay trong đau xót, uất hận? Những ngày nương náu nơi cửa Phật, liệu bà ấy có bình tâm để tự giải thoát mình khỏi tất cả những đau đớn, hy sinh, những trách nhiệm, sự kỳ vọng mà cả đời bà đã theo đuổi. Không một ai biết thêm tin tức gì khi bà Đốc Nhân đã quyết cắt đứt, quyết tuyệt giao với tất cả. 

    Cứ vẩn vơ những câu chuyện về mình, về người bà chợt nhận ra, không chỉ những âm binh, những linh hồn đã chết bị giam giữ ở khu vườn đó mới cần đến giải thoát. Ngay cả người sống cũng phải tự giải thoát mình khỏi những sai lầm, lệ thuộc. Bà không biết tâm trạng của những người khi biết mình sắp mất sẽ như thế nào? Nhưng bà đã chứng kiến nhiều người không cam lòng. Nhất là những người còn trẻ, những người mang trong mình trọng bệnh. Họ ra đi nhưng vẫn còn nuối tiếc cuộc đời lắm. Tiếc cho đến tận phút cuối khi luôn hy vọng sẽ có một phép mầu nào đó xảy đến giúp họ chiến thắng bệnh tật và kéo dài sự sống. Cũng có lẽ họ chưa muốn rời đi vì còn quá trẻ. Còn nặng nỗi lo về cha mẹ, vợ chồng và những đứa con. Những hồn ma đó chắc sẽ còn quanh quẩn mãi bên gia đình, vợ con mà chưa thể siêu thoát. Bà không muốn mình ra đi trong tâm trạng tiếc nuối. Bà muốn được giải thoát, tự giải thoát để có thể nhẹ bước và đi.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XVI: CÒN DUYÊN SẼ GẶP LẠI

    CHƯƠNG XVI: CÒN DUYÊN SẼ GẶP LẠI

    Con ma chị vuốt vuốt tóc em. Nó vén lọn tóc bết xuống khi con bé vừa chạy chơi đùa cùng đám bồ câu hết bay lên lại sà xuống trước sân chùa. Nó ngắm nhìn gương mặt non nớt mà thấy lòng không yên. Dạo gần đây nó thấy mình lạ lắm. Người nhiều lúc cứ như muốn bay lên hay tan biến đi. Mọi thứ cứ nhẹ bẫng. Ngay cả bà ma già cũng nhận ra sự thay đổi.

    Bà bảo nó:

    – Ta trông cháu khác lắm. Thần sắc nom thư thái, nhẹ nhàng. Có lẽ cháu sẽ không còn ở đây lâu nữa đâu.

    Nó lo lắng:

    – Bà có nhìn thấy điều đó ở em của cháu không?

    Bà ma già lắc đầu:

    – Con bé ấy chắc chưa đi được đâu. Trông nó vẫn quấn quýt với nơi này lắm. Cháu nhìn nó xem, cả ngày bám theo lũ chim bồ câu. Xem ra, nó cũng vui vẻ mà.

    Con ma chị thở dài:

    – Cháu lo lắm. Cháu đi rồi thì nó sẽ ra sao?

    Bà ma già cười buồn:

    – Rồi cũng thích nghi được thôi. Ta từng không chấp nhận chuyện mình đã chết. Từng không chấp nhận việc mình không còn được hưởng những thú vui, những duyên phận đời người. Ta từng muốn hét lên khi người thân, bạn bè không nhận ra dù ta đang đứng ngay bên cạnh họ. Nhìn thấy họ cười đùa, vui thú dù không còn có mình ta cũng đau lắm. Nhưng dần dà thì ta đã chấp thuận. Chấp thuận rằng ta không còn có thể can dự vào cuộc đời của họ được nữa. Ta chỉ có thể đứng bên lề để dõi theo, để ao ước, thậm chí là lo lắng. Nhiều người cứ nghĩ, cứ mong cầu, thậm chí là nhờ vả người đã mất phù hộ cho họ làm được việc này việc kia. Có người giúp được nhưng có người thì không. Về vận hạn hay công việc cũng vậy. Có thứ chúng ta có thể tác động nhưng nhiều thứ tuy thấy trước là sẽ diễn ra mà cũng đành bất lực. Tất cả là do nghiệp, do duyên, do nhân quả đến ngày kết tụ mà mỗi người phải chịu hay được nhận. Những người còn sống hay đã mất đều phải nhận về kết quả do chính họ tạo ra. Nhưng thay vì tự mình làm, tự mình cố gắng nhiều người lại cứ mong chờ vào cầu khấn, xin xỏ. Có người lời cầu xin ấy đến đúng lúc quả tìm đến nên họ được hưởng. Nhưng họ lại tin đó là do cầu khấn, do thành tâm mà có. Đến khi tâm vẫn thành, lễ vẫn đủ, vẫn tha thiết cầu xin nhưng lại không còn được như ý nguyện họ đâm ra lo lắng, trách móc rồi đổ lỗi. Thậm chí có người còn quay ngoắt, phủ nhận tất cả những gì họ từng tin trước đó. Con người là vậy. Khi thuận lợi thì phơi phới, tin tưởng bất chấp. Nhiều người cứ nghĩ là do chăm lễ, chăm cầu mà có. Nhưng khi gặp khó khăn, gặp nghịch cảnh thì suy sụp, đổ lỗi. Họ không hiểu là mọi thứ đều có quy luật, có sự vận hành riêng. Hết thịnh rồi đến suy, hết thành rồi đến bại. Sao lại chỉ mong mình mãi thành công, mãi đứng trên đỉnh cao cơ chứ.

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Bà ơi, nếu như vậy thì tại sao lại có đông người đến chùa như thế? Và có nhiều những ngôi chùa như thế này không hả bà?  

    Bà ma già:

    – Có, có rất nhiều những ngôi chùa như thế này. Thậm chí có những ngôi chùa còn to và đẹp hơn thế này rất nhiều. Khi còn sống ta đã từng đi đến nhiều ngôi chùa như vậy. Có nơi còn là một quần thể với những ngôi chùa nối tiếp nhau. Có điểm là do thiên tạo khi trong lòng núi đá ngàn năm bỗng có những cái động, cái hang đẹp đến nao lòng. Người ta đã phát hiện, tu bổ và lấy đó làm điểm thờ cúng thần phật. Nhưng có nhiều cái là do con người tạo nên. Mọi người đến đó cũng rất đông. Người thì đi vãn cảnh, người thì đi cầu xin. Nhất là khi tết đến xuân về thì lễ hội triền miên. Đông lắm, vui lắm! 

    Con ma chị:

    – Vậy chắc nhiều người xin được điều họ muốn nên mới đi nhiều như vậy đúng không bà?

    Bà ma già:

    – Cũng không hẳn đâu. Đôi khi họ đi vì thích thú, vì thói quen, vì đám đông mà thôi.

    Con ma chị ngập ngừng:

    – Nhưng các ngôi chùa như thế này cũng có chỗ cho những hồn ma như chúng ta trú ngụ và học được nhiều điều.

    Bà ma già:

    – Cái gì cũng có hai mặt. Mặt tích cực của các ngôi chùa là giúp người ta khuyến thiện, bớt tham lam, bớt làm những điều ác. Nhưng cháu cũng thấy đấy. Chùa cũng có nhiều cái bất cập. Vẫn có những cãi vã, những tranh giành, lôi kéo dẫn đến mâu thuẫn. Người đến chùa thì không phải ai cũng đều hướng đến điều thiện. Nhiều người vẫn mang theo một đống tham lam khi đến chùa để cầu xin. Tất cả là do nhận thức, do lựa chọn của từng người.

    Con ma chị dè dặt:

    – Bà ơi, nếu một ngày cháu không còn ở đây thì nhờ bà bảo ban em của cháu nhé.

    Bà ma già cười:

    – Yên tâm. Ta sẽ lo cho con bé. Ta vẫn còn muốn ở đây lâu. Ta vẫn muốn được gặp người nhà và bạn bè của mình. 

    Con ma chị thở dài:

    – Cháu cũng không muốn đi đâu nếu không có em cháu đi cùng.

    Bà ma già:

    – Dạo này cháu chăm nghe kinh. Lại tham gia các đàn pháp giảng lễ chắc cháu cũng hiểu không phải cứ muốn là sẽ được. Duyên phận giữa hai chị em cháu cũng vậy. Lúc nào phải chia xa thì sẽ phải xa nhau thôi.

    Con ma em chạy đến. Nó nghe thấy câu cuối liền mếu máo:

    – Không, cháu không xa chị cháu đâu. Chị đi đâu, cháu sẽ theo đấy.

    Con ma chị ôm lấy em, nó nhẹ nhàng:

    – Chị cũng không muốn xa em đâu. Nhưng nếu có một ngày chị đi vắng thì em phải nghe lời bà đấy nhé. Đừng có làm các việc xấu. Hãy cố gắng làm thật nhiều việc tốt. Rồi còn duyên thì chị em mình sẽ còn gặp lại. 

    Con ma em nhoẻn cười. Nó thật sự không hiểu hết những gì mà con ma chị muốn nhắn gửi.   

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XV: CHUẨN BỊ HÀNH TRANG

    CHƯƠNG XV: CHUẨN BỊ HÀNH TRANG

    Dạo này bà bắt đầu thấy mệt. Nhiều lúc muốn ra chùa, muốn nghe kinh mà cái lưng nó mỏi, cái chân lại đau. Bà vẫn hay bật các băng, nghe các bài giảng giải kinh kệ nhưng không thấy thích bằng nghe nó ở chùa. Cũng vẫn nội dung ấy nhưng khi ở chùa được tắm trong không gian tĩnh lặng, trong làn khói hương và cả sự sùng bái với các đấng thần linh, các đấng Phật, Thánh những lời kinh nghe thấm hơn hẳn. Bà cũng cho con bé hàng xóm bị mất liên tiếp hai đứa con vì thai lưu nghe mấy cuốn băng này. Nó bảo con thấy nhẹ lòng khi nghe các cuộn băng bà cho. Con thấy việc hai đứa trẻ rời bỏ con chắc do chưa đủ duyên, đủ phận. Con cũng bớt thấy trách mình bà ạ. 

    Cuộc đời bà đã đi qua quá nhiều thăng trầm. Bà hiểu khi con người mải chạy theo công việc, mải lo cơm áo gạo tiền chả mấy ai thích nghe kinh, nghe pháp. Họ cũng như bà dù có thấy hay nhưng lại có nhiều cái lo khác kéo đi rồi bỏ bẵng. Chỉ đến khi gặp phải nghịch cảnh như công việc đổ bể, người thân, bạn bè lừa lọc hay khi sinh ly tử biệt mới thấy thấm, thấy thích những lời kinh, lời kệ. Khi nghe nhiều mới thấy mọi thứ cũng không còn quá quan trọng. Có những thứ mình tưởng không thể mất, không thể rời bỏ nhưng nghe nhiều lại thấy khi nó mất, nó bỏ mình đi cũng là do đã hết duyên, hết nghiệp. Nhờ có kinh kệ mà bà đã đi qua nhiều khúc quanh của cuộc đời, cả những khi tưởng khi không gượng dậy được nữa. Ngay con bé hàng xóm hai lần mất con cũng bảo nếu không nhờ nghe các băng kinh Phật bà cho chắc con đã phát điên lên mất. Mà không phát điên sao được khi cả hai lần mang thai, thai đều bị chết lưu. Có lẽ con bé vẫn chưa có duyên làm mẹ. Nhìn thấy nó buồn, nó suy sụp bà đã đưa mấy cuốn băng giảng giải về kinh Phật cho nó nghe. Không chỉ người sống, người gặp bất hạnh thấy nhẹ lòng khi nghe các bài kinh. Những người mới mất, người nhà cũng bật sẵn cái đài nhỏ để trên ban thờ hay để ngoài mộ cho đến 50 ngày. Dường như người mới mất, người vừa bị lìa xa gia đình, người thân cũng rất cần tiếng kinh, tiếng kệ để cho lòng thư thái và cũng có thể để chấp thuận dễ dàng hơn mọi việc như nó vốn thế. 

    Bà chợt nhớ đến hai chị em con ma nhỏ. Dạo này bà thấy mệt nên ít ra chùa. Không biết hai chị em chúng nó thế nào? Có vẻ như chúng đã thích nghi hơn với việc ở chùa nên không còn đến tìm bà. Nghĩ đến việc hai chị em nó quấn quýt bên nhau bà cũng thấy thương. Hai đứa trẻ cùng bất hạnh, cùng cô đơn giữa những người thân nên chỉ biết dựa vào nhau, nương theo nhau trong mọi chuyện. Con ma chị lớn hơn nên thù hận cũng sâu sắc hơn. Nhưng cũng vì nó lớn hơn nên chắc sẽ hiểu chuyện hơn. Nếu hai chị em nó bước vào con đường tu tập, chăm nghe kinh, nghe pháp thì quá tốt. Chúng sẽ thoát khỏi những oán hận và đầu thai sang một cảnh giới tốt hơn. Nhưng nếu hai chị em không cùng một mức độ tu tập thì liệu có được cùng nhau bước sang một cảnh giới khác hay không? Con chị thương em thế. Con em lại cũng quấn chị. Liệu có thể nào vì khác nhau trong tu tập mà chị em chúng bị tách rời không? Nếu như vậy thì thật tội cho chị em chúng.

    Nhưng nhân duyên ở đời, có hợp rồi sẽ có tan. Chị em chúng cũng sẽ khó tránh khỏi vòng luân chuyển đó. Ngay như bao cặp đôi yêu thương nhau thắm thiết, vượt qua bao ngăn cản mới có thể đến được với nhau. Dù có lúc họ tưởng như có thể chết vì nhau nhưng rồi những va vấp của đời sống cũng khiến cho không ít cặp đôi dần chán nản, rời bỏ thậm chí thù ghét nhau. Nếu người đời nhận thức được mọi việc đều là hữu hạn, có đến có đi, có hợp, có tan thì có lẽ đã không đau lòng đến thế. Họ cũng không cố gắng níu kéo hay đánh ghen ầm ĩ chỉ để cố giữ lại thứ đã không còn ý nghĩa. Nếu một ngày tới đây bà đi đến giới hạn cuối cùng của số mệnh thì bà sẽ chấp nhận ranh giới đó theo cách nhẹ nhàng nhất. Bà có thể sẽ gặp lại ông bà, cha mẹ, chồng và cả các bạn bè đã ra đi trước đó. Nhưng kinh nhà Phật nói mỗi người tuỳ theo nghiệp lực mà sau khi mất sẽ vãng sinh vào những cõi khác nhau. Vậy thì liệu bà có thể gặp được tất cả những người thân đã mất hay không? Hay sẽ có những người đã chuyển tới cõi khác hoặc được đầu thai lại làm người. Bà vẫn nhớ khi cô em út mất sớm vì bạo bệnh. Những giờ cuối cùng cô cứ giơ tay về phía trước để gọi mẹ. Thậm chí, cô còn nài nỉ:

    – Mẹ… mẹ cho con xin tiền!

    Những lời cô ấy nói trong phút hấp hối khiến nhiều người trào nước mắt. Mọi người đều biết cô ra đi nhưng không cam lòng. Cô vẫn còn rất trẻ, mới 58 tuổi. Cô vẫn còn một đứa con gái chưa gả chồng, chưa có nơi ở ổn định. Cô vẫn muốn lo cho nó một căn nhà trước khi mất. Ngoài gọi mẹ, cô còn gọi tên cậu cháu trai con của ông anh đã mất trước đó vì ung thư. Lúc đó, những người nhà có mặt đều nói bà ngoại và cháu Tuyến chắc về đón cô rồi. Mấy tiếng sau thì cô ấy mất. Cô ra đi mà vẫn canh cánh vì chưa lo xong nhà cửa và cưới chồng cho con gái út. Không biết ở cõi ta bà nào đó, cô ấy có buông bỏ hay vẫn còn canh cánh nỗi lo cho con. Những người đã mất khi vẫn chưa yên lòng với người còn sống liệu có yên ổn ở chốn mới hay lại quanh quẩn bên người thân vì lo lắng. Việc những người sắp chết nhìn thấy hay gọi tên những người đã mất không phải là hiếm gặp. Nhiều người vẫn bảo ông bà, cha mẹ hay những người thân về đón người sắp mất. Nếu đúng là thế thì sự ra đi của những người mới mất cũng đỡ cô đơn, đỡ hoảng sợ phần nào. Bởi ở cõi xa xăm nào đó họ không phải đi một mình khi bên cạnh vẫn còn những người thân đã mất trước đó chờ đón. Nhưng ở nhiều cuốn sách bà đọc được vẫn thấy nói con đường người mới mất phải đi là đường độc đạo. Họ chỉ có thể tự mình đi, tự mình vượt qua các chướng ngại đó. Từ sông sâu, vực thẳm đầy rắn rết đến đàn chó ngao hung dữ rồi quỷ canh cổng, thậm chí phải vượt qua cả những ma đói ma khát chắn lối. Nếu như vậy thì sự xuất hiện của những người đã mất trong những ngày cuối hay ở phút hấp hối có lẽ chỉ là sự gặp gỡ tạm thời mà thôi. 

    À, mà nếu về cõi ấy rồi liệu bà có gặp được hai chị em con ma nhỏ? Không biết khi đó chị em chúng có còn ở đó hay không? Bà đã gặp chúng nhiều lần trong lúc ngủ, khi thức, lúc mơ màng khi đối mặt trực diện. Bà cũng luôn tin rằng tâm nguyện của bà hay những lời bà rút ruột bày tỏ đã được chị em chúng nghe thấu. Nếu một lần gặp nhau trong cõi ấy bà và chị em chúng có thể nói chuyện lâu hơn. Cũng có thể sẽ thấu hiểu hoặc sáng tỏ hơn nhiều chuyện. Lâu nay, nhiều việc, nhiều chuyện liên quan tới người âm bà vẫn làm trong chấp niệm, trong sự tin tưởng. Không biết những người trong cõi ấy có biết, có nhận được những tình cảm, những hồi hướng mà gia đình, người thân đã làm cho họ?  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XIV: HỒN MA ĐẨY NGƯỜI

    CHƯƠNG XIV: HỒN MA ĐẨY NGƯỜI

    Bà cố nhấc tấm lưng đau nhức lại gần bên cửa sổ. Giờ này cô giúp việc chắc vẫn đang lang thang đâu đó ngoài chợ. Con bé lam làm, sạch sẽ nhưng có tật hay thích buôn chuyện. Hễ có thời gian là nó lê la buôn đủ thứ với các bà, rồi với giúp việc các nhà trong ngõ. Qua nó, bà cũng biết thêm nhiều chuyện, thậm chí cả những chuyện thâm cung bí sử trong các gia đình. Chuyện cãi nhau bí mật giữa hai vợ chồng qua miệng các cô giúp việc cũng lan ra khắp ngõ. Qua các câu chuyện lê la ấy, chuyện đầu ngõ bên cạnh có con ma tóc dài hay đứng phía sau cổng cơ quan cũng được nhiều người bàn tán. Ngõ bên đó, ngoài là cổng vào của một cơ quan còn có hai dãy nhà tập thể. Trước mặt cơ quan là một khoảng sân rộng để xe cơ quan và trông thêm ô tô cho các nhà trong ngõ. Vì trông thêm ô tô nên phía ngoài cổng luôn có bảo vệ trông giữ. Ấy vậy mà nhiều người yêu bóng vía khi đi đêm về hôm vẫn nhìn thấy một cái bóng phụ nữ tóc dài đứng ngay phía trong cổng. Nhiều người cứng miệng bảo chỗ nào chả có ma, ma mới rồi ma cũ, ma chết tận kiếp nảo kiếp nào rồi. Dù có là ma thì nó cũng chỉ đứng đó, hù doạ những người yếu bóng vía chứ làm sao mà vào trong các gia đình được bởi nhà nào cũng có thổ công hay ông bà trấn giữ. Mạnh miệng là thế nhưng có vài nhà sau một thời gian sợ quá lại len lén bán nhà rồi chuyển đi khi nói luôn cảm thấy lạnh hết sau gáy khi sớm tối đi qua cái cổng đó. Rồi vài người già, trẻ con cứ quả quyết nghe thấy tiếng gõ cửa lúc đêm khuya. Có cô gái thuê nhà ở ngay tầng một vừa làm chỗ ở vừa mở cửa hàng cắt tóc, gội đầu còn kể cứ quãng sau 6 giờ chiều là người lúc nào cũng thấy lạnh. Gai ốc cứ nổi lên hết lần này đến lần khác. Mà khổ nỗi vì làm dịch vụ nên cô không thể đóng cửa mà luôn phải mở rộng cả hai cánh để đón khách vào gội đầu, làm tóc từ sáng tới tận khuya. 

    Vì luôn cảm thấy bất an nên một lần cô theo người trong ngõ mách bảo đi xem. Vừa nhìn thấy cô, bà thầy nói luôn: có một vong áo trắng, tóc dài đi theo cô. Cô hỏi có phải là người nhà không thì bà thầy nói không phải. Đó là vong vô thừa nhận ở gần nhà. Cô gái chợt nhớ đến chuyện có một vong ma nữ tóc dài vẫn râm ran khắp xóm. Cô kể lại chuyện đó với bà thầy. Bà thầy nói:

    – May là hôm nay cô đến tôi nếu không sẽ bị nó lấy dần đi các vía vì hợp đấy.

    Cô gái lo lắng:

    – Con có phải làm lễ gì không hả bà chứ mới thuê nhà đó, sửa chữa mất một mớ giờ chuyển đi thì cũng phí. Mà thuê chỗ mới thì chắc gì chỗ đó đã không có vong. Không vong trong nhà thì vong ngoài ngõ. Không vong cũ thì biết đâu lại sẽ có vong mới vừa mất. Cứ chuyển chỗ như thế thì biết đến bao giờ mới có được một tệp khách quen. 

    Bà thầy cười nhẹ:

    – Không phải chuyển đi đâu, cũng không phải lễ bái gì hết. Cô nghe tôi về đun một nồi bồ kết, vỏ bưởi thêm gừng, sả, chút muối và ít rượu rồi tắm gội trong vòng 9 ngày. Nếu sau 9 ngày tắm gội như vậy mà vẫn còn cảm giác gai người, lạnh gáy thì đến đây tôi làm bùa cho. Giờ âm thịnh dương suy nên sinh ra nhiều ma quái. Nhưng cái giống này hễ chiều theo nó cúng lễ thì chúng sẽ được voi đòi tiên. Nó sẽ đòi hỏi không biết đâu là điểm dừng. Nên cứ kệ nó đi. 

    Bà nghe kể hôm đó bà thầy còn bảo vong nữ này vẫn còn hiền đấy chứ bà từng gặp nhiều vong kinh khủng hơn thế. Nói đâu xa, ngay mấy đoạn đường trong phố đông người là thế mà có đoạn cũng có ma nữ trấn giữ. Ác ở chỗ ma nữ này lại rất thích đẩy ngã người tham gia giao thông. Có người bị nó đẩy loạng choạng xe chực ngã. Người thì đang đi tay lái xe như bị ai giật rồi ngã văng xuống đường dù bên cạnh chả có ai. Người thì ngã ra bị xe khác tông vào rồi kéo đi dẫn tới gãy tay gãy chân. Thậm chí còn có người đã chết vì bị nó đẩy. Đa số mọi người chẳng biết vì sao mình ngã. Nhiều người chỉ nghĩ do mình đen đủi hay vô ý, lơ đãng lúc giao thông. Nhiều người lại nghĩ do xe khác đi ẩu mà va phải mình rồi viện đến năm xung tháng hạn. Chỉ có vài người do hợp, do giác quan nhạy bén nên nhìn rõ đoạn đường đó có vong và nhìn thấy cả việc nó ra tay đẩy người. Có người tuy không ngã nhưng lại bị nó dắt đi vòng quanh hàng tiếng đồng hồ. Sau một hồi đi ngược đi xuôi lại thấy về đúng chỗ gốc cây đó. Loanh quanh một hồi rồi mới thoát ra được. Có lẽ vong đùa chán nên không thèm trêu nữa nên mới thoát ra khỏi đoạn đường đó. Những chuyện đó có người tin người không. Nhưng một số người sau mấy lần bị ngã, bị đùa trêu như vậy đành tránh con đường đó ra không dám đi qua nữa. Chuyện đó cũng lý giải vì sao tại một số cung đường tỷ lệ tai nạn lại nhiều hơn ở những đoạn đường khác. 

    Chuyện ma nữ đẩy người khiến bà liên hệ lại chuyện cậu con trai cả luôn bị lạng xe khi đi vào con đường ngang gần bệnh viện khi đi chăm bố. Rồi chuyện chú của đồng nghiệp con gái bà bị tai nạn chết trên đường phải chờ người hợp vía đi qua để nhập vào. Thế giới của người sống và người chết đang ngày một đang cài chặt chẽ. Không còn là chuyện gặp ma lúc đi đêm về hôm hay ở những cung đường hoang vắng. Giờ người ta có thể nhìn thấy vong ngay cả giữa ban ngày hay tại các khu dân cư đông đúc. Vấn đề chỉ là nó hợp ai, trêu ai trong số những người xung quanh. Ngay cả những khu chung cư cao tầng cũng có sự lạ. Có khu cả dãy không sao chỉ có duy nhất một nhánh là luôn gặp sự cố từ nhà tầng thấp đến nhà tầng cao. Người ta lý giải nhánh đó có thể xây lên trên mộ hoặc vẫn còn có vong nào đó ám ngự chưa đi nên về quấy quả. Mấy chuyện giết người gần đây tại chung cư rồi phân xác phi tang hay để xác chết khô trong phòng cũng gây nhiều hoang mang. Những linh hồn tức tưởi đó liệu có siêu thoát hay vẫn quanh quẩn nơi mình đã gặp nạn. Rồi những hộ cùng tầng, cùng dẫy có phải sẽ hay gặp ma khi linh hồn người mất vẫn lảng vảng quanh đó? Từng có chuyện thang máy cứ đi lên rồi đi xuống dù không có ai bước vào. Hay có người kể nhìn thấy những cái bóng mờ mờ đứng lẫn cùng người ở trong thang máy. Điều này chắc ở mấy bệnh viện ung bướu sẽ có nhiều hơn khi tỷ lệ người mất vì bệnh khá nhiều. Càng ngày lại càng có thêm nhiều người có thể nhìn thấy hay bị người âm quấy quả. Có lẽ nào đang có những xáo động, biến đổi khiến tầng sống của người trần và người âm bị va trộn, chồng lấn. Mấy hôm rồi xem ti vi bà thấy chiến tranh đang diễn ra tại nhiều nơi. Những quả đạn tên lửa rồi đầu đạn hạt nhân bị đem ra triệt hạ, hù doạ lẫn nhau. Có những thành phố đã bị san phẳng. Nhiều người đã chết chỉ sau một đợt oanh kích. Vậy có bao nhiêu người chết là đúng số, đúng mệnh? Và có bao nhiêu người là chết oan uổng khi bị kẹt giữa hai làn đạn, giữa những cuộc chiến? Và những linh hồn chết oan liệu có siêu thoát hay vẫn quanh quẩn đâu đó để tìm kiếm, để trả thù. Câu hỏi đó bà đã tự hỏi mình không biết bao lần. Những linh hồn chết oan liệu có thể siêu thoát, đầu thai hay vẫn lơ lửng đâu đó để tìm kiếm nguyên nhân, để trả thù những kẻ đã sát hại mình. Lâu dần khi không tìm được kẻ đã hại chết mình thì liệu những linh hồn chứa đầy oán hận đó có quay sang thù đời, thù người và gây lên những cái chết thương tâm khác hay không? Những chuyện như hồn ma nữ luôn rình rập để đẩy người ta ngã trên những cung đường nào đó liệu có phải cũng vì thù đời, thù người nên bao oán hận mới trút xuống người đi đường. Những linh hồn đó liệu có tan biến theo thời gian hay vẫn luôn ở đó dù đã có thêm những nạn nhân mới thế chỗ? Liệu có mối liên hệ nào không khi giữa bao người cùng đi qua đó nhưng chỉ một số người thực sự nhìn thấy, thực sự gặp nạn? Sao càng ngày bà lại càng muốn hiểu sâu hơn về mối liên hệ giữa những người còn sống và những người đã chết. Có lẽ nào bà đang tự chuẩn bị kiến thức, hành trang cho mình để có thể yên tâm khi bước vào một chặng đường mới? Bà tiếc mình không còn đủ sức khoẻ để theo các đoàn đi lễ. Nếu đi được biết đâu bà có thể tìm gặp các thầy, các nhà sư cao minh ngõ hầu giải đáp cho những thắc mắc của mình.

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XIII: LO CHO EM

    CHƯƠNG XIII: LO CHO EM

    Dạo này con ma chị thấy lòng nhẹ hẳn. Nó không còn bực, còn cáu khi gặp phải những cảnh trái tai gai mắt. Nó cũng không còn so bì, hơn thua với những người, những việc nó gặp. Ngay cả việc ăn uống nó cũng xem nhẹ. Trong khi nhiều hồn ma khác lao vào tranh cướp những đồ cúng tế thì nó lại thấy dửng dưng. Có ăn cũng được, không có cũng thôi. Nó chỉ lấy một ít để cho ma em không thèm, không đói. Nghĩ đến em, nó lại chợt lo. Nếu nó đã buông bỏ, đã tinh tấn vì thay đổi nhiều khi nghe pháp, nghe kinh thì em nó liệu đã chuyển hoá ngang bằng chưa? Nó nghe bảo tuỳ theo nghiệp lực, sự tinh tấn tu hành mà sẽ được chuyển tới những cảnh giới khác nhau. Nếu theo giáo lý đó thì hai chị em nó phải có cùng độ tinh tấn, chuyển hoá thì mới cùng đi đến một nơi được. Hai chị em nó từ nhỏ đã gắn bó. Vì cùng là chị em gái, cùng bị bỏ mặc nên biết nương tựa, thương yêu nhau. Khi cả hai chị em cùng ốm, cùng mất chúng càng thêm quấn quýt. Nhiều lần nó đã nhịn cho em ăn. Nó biết em nó cũng yêu thương nó lắm lắm. Nhưng con bé còn nhỏ quá. Mọi việc nó đều dựa vào chị. Ngay cả sự thù hận, ghét bỏ cha mẹ, ông bà cũng là do nó cứ ngày ngày than vãn và thổi vào tai đứa em. Chứ con bé còn nhỏ đã cảm nhận được nhiều đâu. Bao nhiêu năm chị em gắn bó nếu giờ chỉ mình nó tinh tấn, được chuyển sang cảnh giới khác mà không có em thì nó sẽ không muốn đi. Nhưng đâu phải việc gì cũng sẽ theo ý của chị em nó chứ. Nếu đến một lúc nào đó chị em nó bị tách khỏi nhau thì nó sẽ phải làm gì? Em của nó bơ vơ một mình thì sẽ ra sao? Ai là người sẽ chăm lo, bảo vệ con bé không bị chèn ép, bắt nạt? Ai sẽ đồng hành và hướng dẫn nó tiếp tục tu tập và tinh tấn lên một tầm nấc mới? Có cách nào để hai chị em nó mãi mãi bên nhau không? Nó thì sẽ nguyện vì em mà đi đến bất cứ nơi đâu nhưng liệu có được như ý? Hay là nó sẽ hạ thấp mình xuống để mãi mãi ngang bằng, mãi mãi ở bên em. 

    Giờ thì nó đã hiểu được phần nào về tình cảm lúc nóng lúc lạnh của bà ma già với các con. Nó chỉ là chị nhưng luôn thấy mình có trách nhiệm phải bao bọc, bảo vệ đứa em mình. Nhiều lúc nó phát bực khi em cứ mải vui, mãi giỡn với mấy con chim bồ câu lúc bay lên khi bay xuống mà không chịu ngồi nghe kinh, nghe pháp. Có lúc con bé lại bỏ ăn chỉ vì mải nhìn đàn cá koi lượn lờ dưới cái hồ bán nguyệt. Đôi lúc, nó lân la đi theo đám ma bặm trợn ra ngoài xem cãi chửi nhau mặc chị nó đang ngồi nghe kinh, nghe giảng. Những lúc ấy nó thật bực. Em không chịu nghe kinh, không chịu tu tập thì làm sao hai chị em ở cùng một tầng nấc được chứ? Rồi sau này vì khác biệt mà mỗi chị em bị đi vào một cảnh giới khác nhau thì phải làm sao? Liệu khi đó em có bị kẻ xấu dụ dỗ rồi làm việc xấu, việc ác khiến phải rơi vào ngạ quỷ, vào kiếp đoạ đầy hay không? Nó thấy lo lắm. Nó đã cố giảng giải cho em nó hiểu chỉ có chăm nghe kinh, nghe giảng rồi buông bỏ dần các chấp niệm, những sân hận, thù oán thì tâm mới tịnh, người mới nhẹ nhưng con bé có vẻ mơ màng lắm. Không biết do nó không hiểu hay không chú tâm. Nó còn quá bé mà. Nó đâu có hiểu hết mọi chuyện. Nó vừa bực, vừa lo lại vừa thương em. Khi nó cằn nhằn với bà ma già, bà ấy cười bảo:

    – Cháu lo cho cháu trước đi. Con bé nó sẽ có cách đi của riêng nó. 

    Ôi cách đi riêng gì chứ? Bao lâu nay con bé vẫn nghe theo, làm theo mọi điều nó bảo, nó làm mà. Bà ma già hay bảo con bé nó không ôm sân hận lớn như cháu nên tâm nó không bị cật vấn, không bị day dứt. Biết đâu nó sẽ nhẹ nhàng đón nhận mọi thứ hơn. Có lẽ con bé còn chuyển kiếp nhanh hơn cả cháu ấy chứ – bà ấy đùa. Nếu đúng như bà ấy nói thì nó cũng đỡ lo nhưng vẫn sẽ canh cánh khi hai chị em không còn được ở bên nhau. Nhưng nếu đó là cạn duyên, hết duyên thì sao? Mọi việc, mọi gặp gỡ, liên hệ ở đời chả tuỳ theo duyên và nghiệp đấy thôi. Như vợ chồng bà lão ấy yêu thương nhau đến thế rồi cũng mỗi người mỗi ngả, âm dương cách biệt do bệnh tật, do nghiệp duyên đã đến lúc cạn. Ngay cả bà ma già, dù hiểu rõ giáo lý nhưng vẫn không muốn tu tập, tinh tấn lên vì mãi vướng luỵ cái tình, cái thích ở nơi đây. Bà ấy bảo chỉ cần nhìn thấy người quen, người nhà hay bạn bè ra chùa là đã thấy vui, thấy quấn quýt mà không nỡ rời. Cứ nhìn họ là bà lại nhớ đến những chuyện từng có giữa bà với họ. Với đám con cái là những ngày mẹ con yêu thương, đùm bọc nhau. Cả những khi chúng nâng giấc, đút cho bà từng muỗng cháo, miếng cơm khi bà nằm liệt. Khi thấy chúng nhanh nhanh chóng chóng ra về khi hương còn chưa cháy được bao nhiêu thì bà lại giận. Lại nhớ đến khi chúng ca cẩm hay lén thở dài vì phải chăm bà quá lâu, quá mệt. Cả khi chúng thở than với nhau vì không có thời gian tụ tập, chơi bời với bạn bè, đồng nghiệp vì phải chăm mẹ ốm, mẹ liệt. Với các bà bạn, bà cũng hay nhớ những khi họ cùng tập, cùng nhẩy các điệu dân vũ cùng nhau. Mấy bà ấy người thì vẫn còn khoẻ, người thì bắt đầu than ốm, than mệt. Vài người khi lên chùa vẫn nhớ đến bà nên qua ban vong thắp cho bà nén hương rồi lầm rầm nhắc đến những kỷ niệm đã có giữa họ. Những khi ấy bà lại thấy tiếc đời, lại ước như mình không bị bệnh mất sớm thì giờ vẫn còn được vui vẻ như họ. Lại có kẻ chả thèm bận tâm khi một cái liếc mắt, một cái vái lậy cũng tiếc mà bỏ qua ban vong – nơi bà được các con thỉnh lên. Những lúc ấy bà ma già buồn lắm. Nhưng dù có thế này, thế khác thì bà ấy vẫn cứ vương vấn nơi này, nơi bà có thể gặp lại những người quen, người thân ra vào lễ chùa. Bà ấy thấy cũng ổn và không muốn tu tiếp để chuyển đến những cảnh giới cao hơn. Với bà ấy, được ở đây, ở mãi không gian này cũng thấy ổn rồi.  

  • PHẦN HAI: GIẢI THOÁT CHƯƠNG XII: NGƯỜI MẤT MỘ

    CHƯƠNG XII: NGƯỜI MẤT MỘ

    Hôm nay nắng nhẹ, bà bảo cô giúp việc kê một chiếc ghế ra ban công cho bà ngồi ngắm nắng. Nắng thật nhẹ, gió cũng vừa phải khi không làm người ta cảm thấy lạnh. Những hôm thời tiết đẹp như thế này cũng không có nhiều. Nó chỉ là quãng giao thời ngắn ngủi giữa những ngày đông giá rét và những ngày xuân ấm áp. À có một thời điểm giao mùa nữa cũng rất đẹp khi kết thúc nắng hạ để chuyển sang thu. Những quãng thời gian đó, thời tiết đẹp đến nỗi đôi khi con người ta chợt quên đi những nhọc nhằn, vất vả, lo toan của kiếp người. Bà đã nhiều lần tự đắm mình trong những thời khắc đó. Ngày còn trẻ, ông bà cũng hay đưa nhau đi dạo trong những hôm thời tiết đẹp. Ban đầu là những chuyến dạo chơi trong công viên, men theo những lối đi nhỏ có rải sỏi giữa các hàng cây. Đôi khi cả hai người ngồi thật lâu trên chiếc ghế đá trước mặt hồ rộng. Sau này có con rồi có tuổi, những hôm thời tiết đẹp ông bà cũng hay kê ghế ra ban công để ngồi, để ngắm trời ngắm đất. Ông cũng đã bỏ bà để đi về cõi ấy hơn một năm rồi. Không biết ở nơi ấy thời tiết sẽ như thế nào? Có còn những khoảnh khắc giao mùa khiến con người như muốn dừng lại, chậm lại để nhìn ngắm, để cảm nhận hay không?

    Dạo này bà rất hay mơ thấy những người đã mất. Có hôm mơ thấy bố đẻ bà về. Bà là người giống ông nhiều nhất trong số 10 người con cả trai lẫn gái. Ai cũng bảo con gái giống cha giầu ba mươi đụn. Nhưng cả đời bà đều vất vả. Khi bé thì bị bố mẹ cho đi ăn đi ở với ông ngoại và bà Ba. Lớn lên lấy chồng thì con đông lại nghèo nên cũng vất vả. Có lần bà đã hỏi: Sao tôi giống cha mà cuộc đời lại vất vả thế? Ông thầy bói cười bảo:

    – Vì bà giống bố nên mới qua được các ách nạn đó chứ không thì còn khổ nữa. 

    Bà cũng chả biết nếu không giống bố nhiều thế thì đời bà sẽ khổ đến mức nào? Nhưng một số người em của bà tuy không giống bố nhiều như bà nhưng cuộc đời họ dường như an nhàn, thuận lợi hơn bà nhiều. Xem ra, không phải câu nói nào của cổ nhân để lại cũng đều đúng cả. 

    Bà cũng hay nằm mơ thấy mẹ. Cả bà dì em ruột của mẹ bà cũng thi thoảng mơ thấy. Trong những giấc mơ ấy, cả bố mẹ và bà dì đều không nói nhiều nhưng khá vui vẻ. Có lẽ ở thế giới bên ấy mọi việc cũng không quá tệ nên tâm trạng mọi người mới tươi tỉnh như thế. Nói đến mơ, bà chợt nhớ đến cô con gái. Nó đã có lần kể, khi mẹ chồng mới mất nó đã mơ thấy bà về. Khác với vẻ nằm liệt khi còn sống mẹ chồng nó cười nói vui vẻ như lúc chưa bị bệnh. Bà về để nói một câu mà con gái bà nhớ mãi. Bà ấy đã bảo với con gái bà rằng: Nói gì thì nói mẹ vẫn yêu chị Ngọc hơn con. Ngọc là tên của chị chồng nó đã mất vì ung thư. Con gái bà nghe vậy thì cười lớn và bảo: Mẹ yêu chị Ngọc hơn con là đúng rồi! Chị ấy là con gái ruột của mẹ mà. Con chỉ là con dâu thôi. Nó kể khi nói xong câu đó thì mẹ chồng nó vui lắm. 

    Câu chuyện ấy làm bà suy nghĩ mãi. Bà biết con gái vẫn hậm hực với chị chồng khi phải một mình chăm mẹ chồng mà không có sự hỗ trợ, đỡ đần gì từ chị ấy. Có lẽ, con gái bà cũng từng nói ra điều ấy khi phải một mình chăm sóc mẹ chồng. Bà thông gia của bà là người hiền lành và ít nói. Nhưng chắc bà ấy cũng cảm nhận được sự hậm hực từ cô con dâu với con gái mình. Và khi đã về đến thế giới bên kia có lẽ bà ấy vẫn canh cánh trong lòng vì điều đó. Cuộc trở về trong mơ đã cho bà dũng khí khi dám nói thẳng: Nói gì thì nói mẹ vẫn yêu chị Ngọc hơn con. Bà ấy yêu cô Ngọc cũng là phải lẽ. Cô ấy là con gái của bà lại mất sớm vì ung thư. May là con gái bà tiếp nhận chuyện ấy cũng nhẹ nhàng. Nó luôn hiểu không gì thay thế được tình yêu của mẹ dành cho con gái dù nó có đối tốt với bà đến đâu. Sự thấu hiểu ấy đã mang lại cảm giác nhẹ nhàng cho cả mẹ chồng và nàng dâu. Chuyện nó kể cũng cho bà thấy vẫn có sự tiếp nối giữa hai thế giới. Bà thông gia của bà đã không dám nói ra điều bà ấy nghĩ khi còn sống có lẽ vì quá hiền hoặc vì không muốn mất lòng cô con dâu đang chăm sóc mình. Nhưng sự tiếp nhận nhẹ nhàng của con dâu có lẽ cũng khiến bà ấy cảm thấy an lòng. Nghe kể bà ấy còn về mấy lần sau đó trong những giấc mơ của con gái bà. Cháu ngoại bà còn kể có lần nó tỉnh dậy giữa đêm. Nó nhìn ra phía bàn học vẫn còn sáng đèn do quên tắt và thấy bà nội đang ngồi ở đó. Mái tóc trắng nhẹ bay. 

    Bà đã hỏi nó: 

    – Con có sợ khi nhìn thấy bà nội như vậy hay không?

    Nó hồn nhiên: 

    – Con không thấy sợ bà ạ! Người nhà cả mà.

    Bà thông gia là người hiền lành khi còn sống. Có lẽ vì thế mà cả con gái lẫn cháu ngoại của bà đều thân thiết, gắn bó với bà ấy. Sống hiền lành là thế, mà khi mất bà ấy lại rất thiêng. Cái thiêng ấy thể hiện ngay khi bà mới mất được khoảng hai đến ba tuần. Con gái bà kể rằng nó đã mời các bà trong xóm thuộc đội quy y đến tụng kinh cho mẹ chồng vào các ngày tuần. Trong tuần tụng kinh thứ hai hay thứ ba bà cũng không nhớ rõ. Một bà trong đội tụng kinh sang muộn và kể với con gái bà:

    – Ôi, cô sợ quá! Sáng nay cô dậy đi lễ sớm nên người hơi mệt. Cô đã định không sang tụng kinh cho bà. Đang nằm lơ mơ thì thấy mẹ chồng dắt tay chị chồng cháu đến và gọi: Bà ơi, sang tụng kinh đi! Cô sợ quá vội vùng dậy mặc áo và sang đây tụng kinh cho bà. 

    Con gái bà nghe thế thì hỏi dồn:

    – Cả chị chồng cháu cũng đi cùng với mẹ cháu ạ?

    – Ừ, cả hai mẹ con cùng sang gọi cô mà. Bà hàng xóm khẳng định.

    Con gái bà vẫn chưa tin hẳn:

    – Cô vẫn còn nhớ mặt chị chồng cháu hả?

    Bà hàng xóm gắt nhẹ:

    – Mày vớ vẩn. Nó ở đây mãi tao còn lạ gì. 

    Không biết có phải vì nghe con gái kể vậy hay không mà mỗi lần lên chơi, thắp hương lên ban thờ bà như thấy bà thông gia vẫn còn ở đó. Sự hiện diện ấy càng giống như thật qua bức ảnh sống động được đặt trên ban thờ. Trong ảnh bà thông gia trông như đang cười. Chính con rể bà đã chụp cho mẹ bức ảnh ấy khi còn sống. Và chúng đã lấy bức ảnh đó làm ảnh thờ và làm ảnh khắc lên bia mộ mẹ. Bức ảnh thể hiện được hết thần thái rạng rỡ, vui vẻ của bà thông gia. Khi nghe con gái kể bà thông gia về nhà nghe kinh cùng cô con gái đã mất bà cũng thấy an lòng. Bà thông gia hiền lành có tiếng. Giờ về bên ấy lại có cô con gái bên cạnh thì yên tâm quá. Cô ấy mất trước mẹ khoảng hai năm vì bạo bệnh. Có mẹ có con chăm lo cho nhau bà ấy cũng đỡ cô đơn. Bà chợt nghĩ: Không biết khi về bên ấy rồi thì bà có được ở cạnh chồng mình hay không? Nếu được như vậy thì bà cũng thấy mãn nguyện.

    Lại nói chuyện về ảnh. Bà nhớ trên ban thờ của nhà con gái ngoài ảnh của ông bà thông gia còn có ảnh của ông nội, bà thứ ba và bà nội của con rể. Ông nội của cậu con rể nhà bà làm quan lớn thời Pháp và có đến 5 bà vợ. Bà nội của cậu con rể là bà thứ năm. Bà ấy mất khi hai con còn nhỏ. Ông thông gia nhà bà và cô em gái được bà Ba mang về nuôi. Chính vì thế mà khi còn sống ngoài thờ bố ông ấy còn thờ cả hai bà mẹ. Bà thứ năm không chỉ mất sớm mà ngôi mộ còn bị mất khi chiến tranh biên giới nổ ra. Khi còn sống ông thông gia nhà bà vẫn luôn day dứt về điều ấy. Ông luôn thắc mắc bị mất mộ như vậy thì mẹ mình sẽ ở đâu? Bà có về được với gia đình, với các con hay không? Những thắc mắc ấy không một ai có thể trả lời giúp ông. Nhưng có một lần con bé cháu bà lên chơi và ngủ trưa tại nhà thông gia. Sau giấc ngủ ngắn nó tỉnh dậy và kể với mọi người: Lúc con ngủ có hai bà dắt tay nhau về và ngó vào mặt của con. 

    Con gái bà hỏi dồn:

    – Hai bà nào? Sao lại ngó vào mặt con?

    Con bé tỉnh bơ:

    – Con không biết. Con chỉ thấy hai bà đến và ngó vào mặt con rồi đi. 

    Con gái bà lại hỏi:

    – Nhưng tại sao con lại biết đó là hai bà?

    Con bé thật thà:

    – Vì con đã nhìn thấy ảnh của hai bà ấy trên bàn thờ nhà cô mà. 

    Sau lần ấy con gái bà tin chắc là bà Năm, bà nội của chồng nó dù bị mất mộ nhưng linh hồn của bà ấy vẫn còn. Và quan trọng là bà vẫn có thể về được nhà của các con, các cháu mình. Bằng chứng là bà đã về cùng với bà Ba và ngó vào mặt của đứa cháu bà đấy thôi. Sự tin tưởng đó cũng giúp con rể bà vơi đi một mối lo. Bố cậu ấy là con trai duy nhất của bà Năm. Ngoài ông ấy ra, bà Năm còn có một cô con gái. Tuy nhiên, con trai vẫn là người phải lo hương hoả, mồ mả cho cha mẹ. Khi bà Năm bị mất mộ, ông thông gia buồn lắm. Ông đã mấy lần cậy nhờ người này người khác tìm kiếm xem có manh mối nào không? Nhưng cả mấy tỉnh biên giới đều bị tàn phá tan hoang trong cuộc chiến biên giới phía Bắc. Mộ của bà Năm cũng bị mất trong đợt đó. Có lần, ông ấy còn định nhờ thầy làm mộ giả ở quê cho bà nhưng có người gàn. Họ nói, mộ không có âm khí có thể là chỗ để ma quỷ trú ngụ. Và nếu như vậy thì thật nguy khi mỗi lần giỗ tết con cháu lại vái lậy một người không rõ danh tính đang trú trong ngôi mộ. Việc bà Năm cùng với bà Ba về nhà đã giải toả được phần nào những lo lắng, bất an của con rể bà. Nhiều gia đình lỡ bị mất mồ, mất mả của người thân có thể cũng bớt lo lắng khi người đã mất vẫn có thể đang ở đâu đó và quan trọng nhất là họ có thể về nhà. 

    Việc bị mất mồ mất mả xưa nay cũng không phải hiếm. Chiến tranh liên miên, biết bao làng mạc còn bị xoá sổ thì những nấm mồ sao có thể thoát khỏi sự cày phá của bom đạn. Chưa kể còn thiên tai, lũ lụt cũng như sự thờ ơ của hậu bối, của con cháu đối với mồ mả của tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Gần đây, nhiều người lại sính việc thả tro cốt ra sông, ra hồ cho mát. Bà cũng đọc được ở đâu đó rằng việc không có mồ mả khi mất cũng không quá quan trọng. Đôi khi, nó lại còn giúp người đã mất nhanh siêu thoát hơn khi không còn bị chấp nê vào mồ cao hay mả đẹp. Chả biết trong mớ lý thuyết đó cái nào đúng, cái nào sai. Nhưng việc bà Năm về được nhà khiến bà càng tin hơn về sợi dây liên kết giữa người sống và người đã mất.