Category: Uncategorized

  • Chương 7

    – Mọi người đi sát nhau vào nhé, đừng nhìn ngó lung tung, đừng có nhìn chằm chặp vào ai, thế là không hay đâu, biết chưa?

    Tấn dặn dò mọi người. Từ chỗ họ dừng vừa nãy, đi thêm một đoạn, qua vài đoạn khúc khuỷu là một đám lố nhố mấy dãy nhà hiện ra, chính là phủ Cao Bằng.

    Phủ Cao Bằng cũng không lớn lắm, vì vốn trước đây chỉ có quân lính đồn trú, về sau dân mới đến buôn bán, nhưng cũng chỉ lẻ tẻ, phục vụ đám quan quân là chính, khách vãng lai qua đây cũng ít.

    Có một cái ngã ba lớn nhất, tạm gọi là trung tâm. Con đường mấy người đang đi dẫn đến ngã ba đó, xung quanh hai bên đường là mấy hàng quán nhỏ lẻ, lụp xụp, cái xây bằng gạch, cái thì đắp đất. Tiến thêm một đoạn thì đến khu mấy tiệm của người Hoa. Người Hoa tuy ít nhưng cửa hàng, nhà cửa bề thế hơn, buôn bán cũng to hơn, đó cũng là khu tấp nập nhất ở phủ Cao Bằng này. Đến đúng ngã ba, một đường rẽ đi Trùng Khánh, phủ quan cũng ở phía đó, còn một đường rẽ còn lại đi về phía Nguyên Bình rồi đi Hà Giang. Phía đó có trại lính với cái khám to nhất tỉnh này. Đi qua ngã ba đó, qua cây cầu bắc qua sông Bằng là một cái đền ngự trên một quả đồi cao, chính là đền Tam Trung thờ ba ông quan ngày xưa, gặp bạo loạn vẫn tận trung với vua, lấy cái chết để thể hiện tấm lòng, về sau được vua ghi công, lập đền thờ.

    Đó cũng là nơi mấy người họ sẽ đến hôm nay.

    Bốn người họ đi bộ, dắt theo con ngựa phía sau, giờ này đang là tầm chiều, tuy chưa muộn nhưng là mùa đông nên mặt trời đã gần chạm mấy đỉnh núi cao, trời dần chuyển sang sắc đỏ của buổi chiều tà. Đoạn này là phố buôn bán, người đi lại cũng khá đông. Ở đây bán gần đủ các mặt hàng như dưới xuôi, có mấy tiệm vải, rồi tiệm bán gạo, tiệm hàng khô, mấy nhà Hoa kiều thì bán cả thuốc bắc rồi hàng ăn, nói chung là đủ đáp ứng nhu cầu hàng ngày. Trên đường có khá nhiều người dân tộc qua lại, qua cách ăn mặc là biết. Họ mua bán với người Kinh, mang những thứ mình làm được, kiếm được trên bản trên rừng xuống đây trao đổi để mua những thứ cần thiết cho cuộc sống của họ. Bên trái là đường có một cái chợ con, nhưng chợ họp sáng thôi, nên giờ chỉ còn trơ lại mấy cái bàn cũ đen sì đóng bẩn, mấy cái bếp trơ than ra. Có mấy người ăn mày, người thì nằm ngủ ngon lành trên mấy cái bàn, người thì lại tìm chấy bắt rận cho nhau, thật là hết sức bi đát bẩn thỉu.

    Thỉnh thoảng có những toán lính ba, bốn tên đi tuần quanh mấy dãy nhà, nhưng nhìn bộ dạng rõ là đi cho có, và nhìn chúng thì chả có tí sức sống gì cả. Tên thì gầy gò ốm yếu, tên thì da dẻ bủng beo vàng vọt, tên thì lại thậm thọt cà nhắc. Đặc biệt nhìn điệu bộ cử chỉ Tấn biết bọn này toàn lũ nghiện thuốc phiện và thường bị đói thuốc. Bổng lộc lương lậu thì chắc được ba cọc ba đồng, mà thuốc thì ngày nào cũng phải hút, vậy nên cứ phải ra ngoài, rình rập ai có sơ hở mắc lỗi thì bắt chẹt ăn tiền, mà không có nữa thì tính cả đến bài trộm cắp vặt. Chó, mèo, gà qué chúng bắt hết, cuối cùng chả biết là trộm thật nhiều hơn hay quan lính trộm nhiều hơn!

    Tóm lại đây là một nơi khá phức tạp, thật giả trắng đen chưa biết đằng nào mà lần. Diệu Bình nghĩ bụng sao cái chỗ này lại là nơi quan trọng mà mình phải đến nhỉ? Không thấy tí gì linh thiêng hay huyền bí ở đây cả, nhìn những khuôn mặt người quanh đây cũng không thấy ai khả dĩ để mà “Quốc bảo truyền” cả.

    Lại nói về thứ đó, giờ vẫn đang trong chiếc hộp gỗ và được gói ghém cẩn thận qua mấy lớp vải rồi đặt trên lưng ngựa cùng vài món đồ khác. Nhìn qua thì người ta cũng chỉ nghĩ đó là món đồ đạc bình thường thôi. Tuy thế nhưng Diệu Bình vẫn không dám rời mắt lâu khỏi cái đó, cứ chốc chốc cô lại ngoái lại nhìn xem nó còn ở đấy không.

    Mấy hôm nay, khi gần đến đất Cao Bằng, Diệu Bình đã bắt đầu nghĩ, đến nơi rồi thì sẽ làm gì tiếp? Quả thực là rất mơ hồ, chỉ dựa vào mấy câu thơ trong giấc mơ của mẫu thân mà làm, rồi mình sẽ gặp ai? Sẽ làm gì lúc đó? Liệu đó có phải là người thực sự mình cần tìm không?

    Rồi còn phải tìm kiếm “cái kia” nữa. Liệu nó có đang ở gần đây không? Những người giữ nó tốt hay xấu?

    Mà liệu nó còn tồn tại không? Hay bị phá hủy rồi…

    Nhưng cũng không phải là không có hy vọng.

    Với chính sách cai trị bóc lột của thực dân Pháp, khởi nghĩa nổi dậy ở thời này chả có gì là hiếm gặp.

    Nổi dậy ở nhiều nơi, nhưng mỗi nơi có sự khác biệt riêng. Nếu ở miền đồng bằng, hệ thống đồn trú dày đặc, lại nhiều Việt gian, phong trào thường phải tổ chức bí mật. Thì ở những miền rừng núi thế này, đường xá hiểm trở, dân cư thưa thớt, nên phong trào hoạt động dễ dàng hơn nhiều. Vậy nên có thể có ai đó có khả năng lắm chứ!

    Mải nghĩ cô va phải một người đi ngược đường mà chả hay biết. Một gã hôi hám, người đầy mùi rượu, răng xỉn đen sì. Gã va vào Diệu Bình rồi cười hô hố lên, lại lao vào định ôm lấy cô. Nhất thời không làm gì được, chỉ biết chân chân đứng nhìn, may có Tấn can thiệp kịp lúc, anh giằng lấy tay hắn ta rồi lẳng xuống đất, lạnh lùng nói: – Thằng nát rượu, cút đi!

    Xung quanh chả ai thèm để ý đến Tấn và Diệu Bình, cả tên say rượu kia nữa, như thể nó là chuyện bình thường như cơm bữa ở đây vậy…

    Tấn thì thầm với Diệu Bình: – Cô đi đứng kiểu gì đấy, tôi nói phải để ý vào mà.

    Diệu Bình quay đi nói: – Tôi đang mải nghĩ nên không để ý, ta đi tiếp đi, kệ hắn ta. Mà anh không cần phải nói nặng lời với hắn vậy đâu, dù sao cũng là người say rượu.

    Tấn cứng giọng mà đáp: – Đây không phải chỗ cho cô thương người đâu, bọn này mà không rắn là nó bầy nhầy lắm.

    Nói rồi cả đám lại đi. Không khí có phần nặng nề hơn trước. Tấn đi sát lên gần Diệu Bình thì thào hỏi: – Này tiểu thư, đến Cao Bằng rồi, làm gì nữa đây?

    – À, tôi… định đến đền Tam Trung thăm viếng, xong đó ta tính tiếp – Diệu Bình trả lời.

    – Cô tính gì thì tính nhanh lên, chứ sắp tối rồi đấy ạ – Tấn nói, hất đầu lên phía trước. Hướng này thẳng hướng tây, và trời thì có vẻ cũng sắp tối rồi.

    Diệu Bình hơi bối rối, trả lời: – Chúng ta chắc ở lại đây vài ba ngày. Ta đi thăm đền rồi kiếm chỗ nào nghỉ được không anh Tấn?

    – Được rồi, chuyện ăn nghỉ để tôi sắp xếp. Nhưng như cô thấy đấy, nơi này không phải nơi ở lâu được, nên cô có công chuyện gì thì cố gắng mà làm xong cho nhanh đi nhé.

    – Tôi biết rồi, anh… yên tâm.

    Diệu Bình nói Tấn yên tâm mà chính cô cũng chưa thấy yên tâm chút nào cả.

    Đi một lát đã đến ngã ba, rồi đi qua cầu. Mùa này là mùa khô nước sông khá cạn, lại là sông nhỏ nên thuyền bè trên sông không nhiều lắm, chỉ có mấy cái thuyền nan nhỏ của dân ra đánh cá, không còn đám bè buôn gỗ tấp nập như mùa mưa. Qua cầu là đến ngôi đền rồi. Đền nằm trên một ngọn đồi khá cao, được xây cất khá khang trang. Bậc lên lát đá, cây cối xung quanh được phát quang khá gọn gàng. Đầu bậc đá có cánh cổng lớn xây bằng gạch, trang trí khá cầu kỳ, trên có đôi câu thơ vẽ bằng mực đỏ:

    Tuyệt bút một chương trung lẫn hiếu

    Hi sinh ba vị chết như còn

    Dưới chân đền có mấy quán cóc bán nước với đồ đi lễ cho dân đến đây thắp hương khấn bái, Tấn chỉ vào một quán bảo: – Ta vào làm chén nước đã mọi người!

    Diệu Bình lại: – Út Hương à, em ngồi đây với anh Tấn và anh Dương nhé, chị lên đền thăm quan một lát!

    Út Hương đáp: – Thôi cho em đi cùng đi ạ. Em không ngồi đây với hai người này đâu!

    Diệu Bình không nói gì, chỉ gật đầu. Cô và Út Hương bước lên những bậc đá lên đền.

  • Chương 9

    “Sao bọn nó biết chuyện này nhỉ, nó theo dõi mình à?” – Tấn chột dạ. Thôi chuồn khỏi đây thôi!

    – Ha ha, anh bạn thật biết đùa đó – Tấn nhanh nhảu trả lời, toan đứng dậy. Nhưng không kịp rồi. Người vừa hỏi xem một tay nắm lấy cổ tay Tấn, một tay rút trong người ra một khẩu súng ngắn, chĩa vào Tấn nói từng từ một: – Nói cho tao biết, mấy thằng tộc kia đâu rồi?

    Tấn trợn mắt hoảng hồn. Thôi chết rồi gặp phải cướp rồi, làm sao đây! Mấy người kia cũng hoảng hồn không nói được câu gì. Tấn bèn chống chế: – Ấy người anh em bình tĩnh đã nào, có gì từ từ nói chuyện, chắc anh nhầm tôi với ai rồi!

    Tên kia cười khẩy, dần hạ súng xuống, Tấn nghĩ may quá nó tin rồi. Thì bỗng hắn chĩa thẳng khẩu súng vào bà bán nước.

    – Đoàng!

    Bà già không kịp tránh, lãnh nguyên nhát đạn vào giữa ngực, nằm vật ra đất, máu me lênh láng. Út Hương thì hét toáng lên không thôi. Diệu Bình hét to: – Sao lại bắn bà ấy?

    Gã công nhân quát: – Con mẹ mày! Im mồm! Ai cho mày kêu hả, ông bắn nát đầu mày bây giờ! Thằng ranh con này, mày có trả lời ông không, mấy thằng tộc kia đâu?

    Tấn biết mình gặp phải bọn mật thám Việt gian rồi, phen này nói không lại được rồi, tìm đường chuồn thôi, mà làm sao đây? Bèn nói giọng nịnh nọt: – Ối ông ơi con không biết thật mà, ông tha cho con con có biết gì đâu ạ. Ông thương con ông tha cho con!

    – Thương cái con mẹ nhà mày. Ông hỏi mày lần cuối mày có nói không đừng trách ông ác!

    Tấn quỳ xuống, bò sát lại chân hắn, tay run rẩy cầm lấy khẩu súng van nài: “Ông tha cho con, ông tha cho con…”

    Rồi bỗng vùng dậy một tay giữ tay cầm súng, một tay đấm thật mạnh vào mặt tên Việt gian. Không nghĩ Tấn dám làm trò, nên hắn trở tay không kịp, ăn nguyên một đấm vào quai hàm, ngã lăn ra đất không biết gì nữa. Khẩu súng văng vào bụi cây cách đó gần chục mét. Còn ba thằng còn lại nhảy vào đánh đấm tay bo với Tấn. Dương thấy vậy lao vào trợ lực ngay.

    Nhưng mấy thằng khốn này cũng không phải dạng vừa. Tấn bị nó cho một đá vào lưng đau điếng, Dương cũng ăn một đấm, may vẫn tỉnh táo. Thấy khó Tấn cầm mấy cái ghế đẩu quăng mạnh vào mấy thằng tay sai rồi quay lại hét lớn với Diệu Bình và út Hương: – CHẠY VỀ PHÍA BÊN KIA CẦU!!!!

    Diệu Bình tuy có học võ nhưng lại chưa thực chiến bao giờ, lại bị tiếng súng vừa nãy làm cho nhất thời mất hồn, không nhúc nhích được gì. Khi nghe Tấn hét lên như vậy, mới choàng tỉnh, lôi tay út Hương kéo đi, đồng thời vỗ mạnh vào mông con ngựa thúc nó chạy theo. Tấn và Dương thì bọc hậu, tay cầm mấy hòn đá lớn, ném liên tục vào mấy thằng còn lại để làm không cho chúng đuổi kịp. Thằng Việt gian ăn đấm vừa nãy bắt đầu ngóc đầu dậy, tỏ vẻ đau đớn, quát lớn: – Bắt hết bọn chó chết này cho tao, con mẹ chúng nó!

    May mà chỉ có một thằng có súng, bọn kia đỡ nó dậy, không thèm nhặt súng nữa, đuổi theo đám Tấn luôn. Mấy người qua đường thấy có đánh nhau dạt hết vào vệ đường mà tránh, đến chân cầu, vừa chạy vừa ngoái lại, Dương vấp vào cái gờ gỗ trên cầu, ngã lăn ra, đúng lúc một viên đá lớn ném đến nhằm thẳng vào mặt anh. Tấn gào lên: – Anh Dương nằm xuống!!

    Dương không kịp cựa quậy nhắm mắt chịu trận, thì một tiếng “cộc” mạnh. Là Diệu Bình vừa ném một viên đá va vào viên đá đang ném về phía Dương. Hai viên va vào nhau và bật ra hai phía, rồi nhanh như cắt Diệu Bình lao về phía Dương rút một con dao găm ra. Mấy thằng tay sai thấy vậy lao vào giáp chiến, một thằng quát lên: – Cái con mẹ mày dám đỡ ông à!

    Chúng cùng lúc lao về phía Diệu Bình. Nhưng cô bình tĩnh cúi thấp người thủ thế. Một thằng nhảy lên xông phi lao vào, cô cúi thấp người, lựa xuống dưới nó rồi đưa dao lên chém nhanh một nhát vào bắp đùi, nó trúng dao, ngã xuống ôm đùi kêu toáng lên không gượng nổi, thằng nữa giương tay lên định đấm thì Diệu Bình lại né sang phải ngả người xuống rồi đá móc một cái trúng mặt nó. Nó ôm mũi ngã lăn ra. Đang đứng dậy thì một thằng sau lưng cô cầm một cái cây lớn lao đến định đánh sau lưng. Diệu Bình không kịp quay lại thì may quá, có Tấn lao vào xông phi cho tên đó một cước vào ngang ngực, làm nó ngã ra đất rồi nằm im luôn. Tấn quát: – Đánh với đàn bà con gái mà còn đánh lén hả thằng chó chết… ông là ông… CHẠY!!!!!!!!!

    Nói chưa dứt câu thì Tấn thấy toán lính đông đang chạy đến, trên tay giáo mác đầy đủ. Không thể chống cự được đám này! Tấn nói nhanh: – Nhanh lên, chạy vào chợ!!!

    Cả đám vừa chạy vừa xô đẩy người qua đường, nhiều người ngã lăn kềnh ra mà không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Nhưng đường đông người chỉ làm chậm chân thêm đám của Tấn, bọn lính thúc đến nơi rồi! Qua một chỗ ngoặt, chạy qua một nhà bán cây que làm cột kèo, Tấn giằng lấy mấy bó cây que ném xuống đường để cản đường, nhưng cũng không có tác dụng lắm. Chợt Diệu Bình nói: – Để tôi!

    Nói rồi lao về phía con ngựa, cởi một cái bó dài ra. Rồi bấm bấm vào mấy chỗ trên thân con ngựa, con ngựa bỗng hí lên một tiếng, rồi lao thẳng về phía bọn lính đang đến. Vừa qua góc khuất thì cả đám nghe thấy tiếng người kêu oái oái, hòa lẫn tiếng ngựa hí điên cuồng, vậy là chúng dính đòn rồi. Đường chật thế này gặp phải con ngựa đấy thì còn lâu mới đuổi kịp được.

    – Cách gì hay vậy? – Tấn hổn hển hỏi.

    – Tôi điểm vào mấy huyệt trên con ngựa làm nó lồng lộn lên đó! – Diệu Bình thở phổi nói.

    Cả đám đã chạy vào chợ, luồn lách qua mấy cái vách nan, thấy im lìm thì dừng lại nghỉ một chút. Cái chợ này có cổng chợ quay ra phía ngoài, khu mấy hàng quán buôn bán. Còn lưng thì tựa vào một ngọn đồi thấp. Tấn hỏi Diệu Bình: – Sao cô biết mà điểm huyệt con ngựa vậy? Không có cú đó chắc ta bị bắt rồi!

    Diệu Bình thở dốc mà đáp: – Tôi còn chưa hỏi anh đấy, mấy chuyện này đều là do anh mà ra cả đấy!

    Tấn giờ cũng mới ngớ người ra. Quả thực, là do anh. Bọn tay sai này đang lùng sục mấy người dân tộc mà anh giúp vừa nãy. Nếu như anh chả can dự vào việc lúc ở bốt thì bọn nó cũng đã chẳng thèm truy theo anh để mà đến nỗi ra thế này. Mà cũng quái lạ, mọi lần mấy việc như vậy Tấn đều lơ đi, chả can dự vào, vậy mà lần này không hiểu sao anh lại hăng hái giúp người ta đến vậy? Đúng là ma xui quỷ khiến!

    Tấn biết Diệu Bình đang giận anh lắm, nhìn cái ánh mắt kia là biết, chưa bao giờ cô nhìn anh với cái ánh mắt giận dữ đến vậy, như thể sắp nhảy vào đập cho anh một trận ra trò vậy. Anh liền trấn an: – Cô đừng lo, đâu khắc có đó…

    Nói chưa dứt câu thì Diệu Bình tát anh một cái “bốp” rồi trợn trừng nhìn anh: – Tôi mà hỏng việc thì tôi giết anh đấy!

  • Chương 6

    Tấn thấy có cái gì đó dờn dợn sau lưng, tiếng gọi đó quả thật khiến anh giật mình.

    Lấy chút bình tĩnh, Tấn quay đầu lại xem ai gọi mình.

    Một thằng quan Tây đang lù lù đi về phía anh. Thằng này to quá. Tấn đã thuộc dạng to cao rồi nhưng thằng tây kia còn cao hơn Tấn đến gần một cái đầu nữa. Mặt mũi nó thì kỳ dị, mũi lõ, mắt xanh, da lại đầy những nốt như vết chân chim người già. Mắt nó thì đang trợn trừng lên, xong lại đảo liên hồi.

    Thằng này quái dị quá – Tấn nghĩ, nó định làm gì mình đây. Từ nãy đến giờ nó ngồi im có can dự vào đâu? Kệ bọn lính ta đấy chứ! Cả cái bốt không thằng nào có súng, duy nhất có khẩu súng trường cạnh ghế hai thằng tây này, giờ nó đang tiến về phía Tấn tay xách một khẩu rồi. Làm sao đây?

    Giờ có chạy cũng chả thể thoát được từng này người, lại bị dí súng thế này thì chạy đâu cho thoát!

    Thôi thì cứ xem nó định làm gì, nghĩ vậy Tấn giơ tay về phía Dương ra dấu cứ bình thường, rồi tiến lên mấy bước, tay vẫy, đầu cúi lia lịa ra dấu chào. Anh cố cười toe toét cái miệng, mắt nhắm tịt vào luôn.

    Tiếng bước chân càng ngày càng tiến lại gần, có tiếng lạch cạch, rồi có cái gì đó rơi xuống đất. Bỗng nhiên Tấn bị đôi tay to lớn lông lá nhấc bổng lên, người bị ôm lấy chặt cứng không cách nào cựa quậy được, thôi phen này toi đời rồi!

    Thì lại nghe thấy thằng tây đấy nó quát vào mặt: – Oh belle dame, belle dame! (Quý cô xinh đẹp).

    Tấn mở trợn đôi mắt ra mà nhìn nó, thằng tây đang ôm chặt cứng lấy anh và cứ hét liên tục câu đấy, còn ôm anh xoay mấy vòng liền. Mấy thằng lính kia cười rú lên, thằng tây đen còn lại cũng bò lăn ra mà cười. Một thằng vừa cười vừa nói: – Mày sướng nhé thằng dân tộc kia! Được ngài ôm ấp chiều chuộng nhé, haha.

    Ra là thằng tây này vừa hút thuốc phiện xong, nên phê thuốc, tưởng Tấn là gái chạy ra ôm hôn thắm thiết. Đúng là dở khóc dở cười. Mặt anh nghệt cả ra, chục năm trong nghề chưa bao giờ gặp cảnh này. Thằng quái đản này nó ôm cứng lấy anh, giãy không giãy nổi, hết ôm hết lắc, nó lại hôn lại thơm vào hết mặt mày Tấn, mồm nó thì toàn mùi thuốc, hôi không chịu nổi.

    Thế này còn mặt mũi nào đi tán tỉnh các em xinh đẹp nữa! Tấn đau khổ nghĩ. Anh Dương cũng không kìm được, cười khúc khích không thành tiếng.

    Mãi một lúc sau, phải đến khi thằng tây đen còn lại ra bảo thằng tây này một lúc, nó mới tỉnh ra tí, mới biết là mình ôm nhầm đàn ông. Mà biết xong nó cũng không khá hơn là mấy, vẫn cười hềnh hệch, may mà chịu buông Tấn ra. Đến lúc đám của Tấn đi rồi, thằng tây đấy vẫn chưa hết phê, hắn cầm cái khăn mùi xoa mà vẫy đi vẫy lại, chào Tấn, đến tận lúc khuất sau một quả đồi mới thôi.

    Tấn vẫn nóng bừng mặt lên, nói với cả đám: – Từ giờ về sau tôi cấm không ai được nhắc hay kể lại chuyện này đấy!

    – Thế nói thì sao nào – út Hương lúc này mới nói, bắt đầu không nhịn được cười.

    Nói xong cười rống lên, Dương cũng khục khặc cười theo, Tấn tím tái mặt mày mà nói: – Cô còn cười tôi bỏ cô lại ở đây một mình luôn đấy, cũng không mở bao che mặt luôn.

    – Thôi mà ma đam, đừng nổi nóng mà.

    Nói xong thì cười nghiêng ngả, ngã luôn xuống đất, may là bờ cỏ nên không sao, kéo theo Diệu Bình luôn. Dương chạy ra đỡ hai người dậy, cởi dây trói tay ra, còn Tấn tức quá đi ra một góc mà ngồi, chả thèm giúp.

    Đi ra từ một lùm cây, tất nhiên sau khi đã che kín lại khuôn mặt, Diệu Bình mới gọi Tấn: – Thôi mà anh Tấn đừng giận nữa mà. Chuyện đó cũng… chỉ là chuyện chẳng may thôi mà.

    Cô phải cố không cười thành tiếng để Tấn nghe được. Nín được giọng lại lại nói tiếp: – Không có anh thì chúng ta không qua bốt được rồi. Chúng tôi cảm ơn anh nhiều lắm. Út Hương, không cười nữa, em cảm ơn anh Tấn đi!

    Út Hương vẫn cười, thè lưỡi trêu ngươi: – Cảm ơn ma đam nhé, haha!

    – Thôi đủ rồi, Út Hương, không trêu đùa nữa – Diệu Bình nạt.

    Út Hương giờ mới chịu thôi.

    Tấn đang ngồi ở một góc, coi như không nghe thấy, ngoảnh mặt ra chỗ khác nghịch vu vơ. Diệu Bình đi đến gần chỗ anh, nhẹ nhàng nói: – Này anh chàng tốt bụng, tử tế, hiệp nghĩa, anh hùng ơi!!

    Nghe câu này thì đến Tấn dù đang đầy một bụng hậm hực cũng phải nghệt mặt ra không nói nổi, bình thường Diệu Bình rất ít khi khen ai, hay dành lời tâng bốc ai.

    Tấn nói, lấy lại cái giọng hay đùa cợt quen thuộc của anh: – Tiểu thư khen thế tôi không dám nhận, tổn thọ lắm!

    Thấy anh chàng có vẻ đã bình thường trở lại rồi, Diệu Bình lại tiếp: – Tôi có nói gì quá đâu, hì hì. Nãy tôi tuy bị bịt mặt không thấy gì nhưng nghe cũng đủ hiểu hết rồi, anh dũng cảm lắm, không phải ai cũng dám đứng trước mặt toán lính mà…

    – Mà gì? – Giọng Tấn bắt đầu sôi nổi trở lại, thậm chí là đang bắt đầu cười.

    – À thì… nói láo, hì hì hì – Diệu Bình cười nói.

    Tấn đứng dậy, khoa chân múa tay mà nói: – Bản lĩnh đàn ông thể hiện ở những chỗ như vậy. Gặp chuyện bất bình sao có thể bỏ qua, huống hồ trang nam tử đầu đội trời chân đạp đất… à nhầm, đầu đội trời chân đạp đất.

    Tất cả đều cười lên, út Hương trêu chọc: – Thôi anh cứ đội đất cũng được đấy anh ngốc ạ, ha ha, từ giờ anh chồng cậy chuối mà đi nhé!

    Tấn phẩy tay tiếp: – Đơn giản, cái gì tôi chả làm được, chỉ là bình thường tôi không thích thể hiện thôi, ngày xưa ấy…

    – Thôi thôi biết rồi, lại dắt cướp lên quan hả, hahaha – út Hương lại xỏ xiên.

    Tấn vùng chạy đuổi bắt lấy út Hương. Hai người cứ đuổi bắt nhau mãi không chịu thôi. Bỗng đang đuổi thì Tấn va phải một người dân tộc, nãy giờ mấy người họ ngồi quây lại một chỗ, chả nói chả rằng gì, chỉ xì xào với nhau bằng tiếng Tày mà chả ai hiểu hết. Khi Tấn va phải, người đó trừng mắt lên nhìn anh, nhưng không nói gì. Tấn lùi lại mấy bước, hết vẻ đùa cợt, hỏi thăm họ bằng giọng hết sức chân thành: – Tầu chếp dý hâu mí? (Có làm sao không).

    Người Tày đó trả lời, thật bất ngờ, là bằng tiếng Kinh: – Chúng tôi không sao.

    Tất cả đều bất ngờ, Tấn trợn tròn mắt lên, lại hỏi: – Các anh nói được tiếng Kinh sao?

    Người đó không trả lời, chỉ gật đầu.

    – Vậy sao từ đầu không chịu nói? – Tấn lại hỏi.

    Người đó lại nói: – Có hỏi đâu mà nói.

    Tấn chợt nhớ ra chưa hề hỏi họ bằng câu tiếng Kinh nào. Vốn anh nghĩ họ người Tày thì anh hỏi tiếng Tày cho tiện. Đang nghĩ ngợi thì bỗng người Tày đó tiến lại gần Tấn, đưa con dao găm lên, Tấn giật mình tưởng sắp chém mình, giật lại mấy bước, nhưng không phải, người Tày đó đưa dao lên chém vào không khí một nhát, rồi cất dao đi, cúi đầu trước mặt Tấn một cái, rồi nói: – Không nợ nần gì nữa!

    Nói xong ba người họ lại đẩy xe kéo đi về phía trước một đoạn có một cái ngã ba, họ rẽ vào con đường nhỏ đi qua một quả đồi lớn, rồi khuất dạng. Đám Tấn vẫn đang ngạc nhiên, không hiểu chuyện gì, cứ để họ đi mà chả nói được câu gì. Lúc sau Diệu Bình mới hỏi Tấn: – Mấy người đó là như thế nào vậy? Họ nói vậy có nghĩa là gì?

    Tấn lắc đầu trả lời: – Tôi cũng không biết. Nhưng chắc là sau chuyện giúp họ ở cái bốt, thì họ không muốn làm gì chúng ta nữa đâu.

    – Vậy là họ mang đao kiếm nên bị đánh có phải không?

    Tấn trả lời: – Có lẽ vậy, dân bình thường thì mang dao dựa là bình thường, nhưng mấy người này thì lại giấu trong người. Bọn quan quân không để yên đâu. Chúng sợ ta làm loạn, rồi thì khởi nghĩa… đại loại thế.

    – Vậy họ mang đao kiếm qua bốt làm gì nhỉ? Không có anh chắc họ bị đánh chết rồi cũng nên.

    Tấn thành thực trả lời: – Tôi không biết, có trời mới biết được.

  • Chương 4

    – Cô nàng này thật là không ngoan hiền nhu mì chút nào, chả bù cho mấy em mình từng quen – Tấn vừa đi vừa nhìn hai cái dáng ngồi trên ngựa mà nghĩ.

    Trước đến giờ đã có cô nào dám đá mình thế đâu, vậy mà cô ta dám đá mình, mà lại còn bịt mắt nữa chứ! Thế là quá coi thường mình rồi. Nhất định lúc nào phải xỏ lại cô ta một vố mới được. Nghĩ vậy Tấn cười ranh mãnh.

    Quay sang anh Dương, thấy anh đang thẩn thơ vừa đi vừa bứt mấy cái lá, cười nói hỏi: – Sao vậy người anh em, có điều gì làm anh bâng khuâng à?

    Dương không nói gì, chỉ nhoẻn miệng cười. Dương là con trai nhà thím của Tấn, nhưng không được may mắn như Tấn. Bố mẹ đi phu cao su trong Tây Nguyên, cũng vì vất vả mà tìm đường trốn về quê nhưng không may bị trúng sốt rét, hai người ra đi cách nhau có mấy ngày. Ngày anh biết tin, lúc đó mới sáu tuổi, đã khóc liền từ mờ sáng đến đêm khuya, sau hôm đó cấm khẩu luôn không nói được câu nào nữa. Nhà Tấn đưa Dương về nuôi dưỡng, coi như con đẻ trong nhà. Về sau, cho đi theo Tấn để học nghề. Dương bằng tuổi Tấn nhưng có phần hiền lành, chân chất hơn, lại không nói được, ai hỏi cũng chỉ cười. Nhưng anh khá tháo vát, làm được nhiều việc, nên hai anh em đi đâu cũng có nhau, như hình với bóng vậy.

    Chuyến đi này là chuyến đi lâu nhất hai người từng đi, trước đây nhiều nhất là một tháng rồi lại về Huế. Lần này ba tháng liền, lại vất vả cực nhọc hơn những chuyến trước. Nên nếu thỉnh thoảng người ta có “không bình thường” một chút cũng chả sao đâu. Nghĩ vậy Tấn vỗ nhẹ vai người anh em tốt của mình: – Xong chuyến này về tôi khao anh một bữa linh đình say đến tận ba hôm sau luôn, haha, chuyến này khách sộp, anh em mình rủng rỉnh cả năm nữa ấy chứ! – Tấn thì thầm với Dương, hất đầu về phía hai người đang ngồi trên ngựa đi trước.

    Đang nghĩ vu vơ xem sau chuyến đi sẽ ăn chơi thế nào, bỗng có tiếng ồn đằng trước làm Tấn trở về với thực tại. Ra là có ba người đang đẩy một chiếc xe bò kéo, chắc vì cố đẩy cho nhanh, bị bẻ lái ra phía ngoài lề đường, cái xe chới với, sắp lật xe đến nơi. Tấn thấy vậy vội chạy đến, níu lấy cái bánh mà bềnh xe xuống, rồi kéo lại cho khỏi đổ.

    – Không biết xe có cái gì mà nặng khiếp vậy? – Tấn nghĩ bụng, nhìn qua ba người đang phủi vội quần áo vì đã bị ngã dúi dụi trước đấy, chắc là người dân tộc. Nhìn bộ quần áo họ mặc chắc cũng là người Tày, nhưng bộ của họ nhìn có vẻ nhàu nát, cũ hơn. Tấn bèn hỏi thử bằng thứ tiếng Tày mà anh bập bõm học được: – Tầu chếp dý hâu mí? (Có làm sao không?)

    Một người vẫn đang phủi quần áo, nói vội: – Khỏi nắm tầu lăng (Tôi không sao).

    Nói rồi ngẩng đầu lên, nhìn Tấn, rồi nhìn ra phía Diệu Bình và mấy người đang đi đến, được chốc lát bỗng dưng mặt mũi xầm lại, vẻ mặt cau có khó chịu. Tay Tấn đang giữ cái bánh, bị người đó gạt phắt đi. Rồi họ thì thầm to nhỏ gì đó, Tấn không nghe được, rồi quay ra nói với Tấn: – Cút pây hò má!!! (Cút đi thằng chó).

    Chuyện quỷ quái gì thế này – Tấn há hốc mồm, sao lại có chuyện làm ơn mắc oán thế này, mình giúp họ mà họ nói với mình như thế, thật không biết phải trái gì cả!

    Bèn hỏi lại người đó: – Lắng đa câu thêm à!! (Sao lại chửi tôi).

    Người kia thấy vậy càng ra vẻ nổi nóng, rút trong người ra một con dao găm nhỏ. Tấn thấy có biến, giật lùi lại mấy bước, chuẩn bị sẵn sàng… chạy. Thì người kia chỉ đưa con dao lên ngang mặt, trỏ về phía Tấn mà nói: – Cút nao câu khá (Biến đi không tao giết mày).

    Tấn trợn trừng mắt, nhìn mấy người đẩy chiếc xe đi tiếp. Anh chưa gặp cảnh này bao giờ. Người dân tộc đa phần chất phác hiền lành, mà mấy anh chàng này thì… lạ thật!

    Thôi thì mỗi người một tính, kệ họ thôi.

    Vừa nghĩ vừa thất thiểu đi về phía mấy người đang đứng đợi phía sau. Chợt nhìn thấy hai cô gái bị trói và trùm đầu trên ngựa, Tấn chợt hiểu ngay ra vấn đề.

    “Hiểu rồi, họ nghĩ mình là bọn Việt gian đi dâng gái cho Pháp đây mà.”

    Quả là trớ trêu, Tấn chưa lừa được thằng lính nào, nhưng đã lừa được cả người dân tộc xịn rồi!

    Diệu Bình hỏi: – Có chuyện gì thế anh Tấn? Tôi thấy to tiếng, mà không hiểu họ nói gì?

    Tấn nghĩ giấu cũng làm gì đâu, thôi thì kể cho họ nghe vậy, rồi thuật lại câu chuyện. Nói xong thở dài mà nói: – Vốn dĩ người hiền lành tử tế, thế mà giờ thành kẻ như vậy, biết làm thế nào đây!!

    Dương thì chỉ cười cười nhìn Tấn như thể an ủi vậy. Út Hương thì không thế, trêu trọc Tấn luôn: – Haha đáng đời, ai bảo anh nghĩ ra cái cách này, bị người ta chửi là đúng thôi!

    – Không nói được gì tốt đẹp hơn hả cô bé – Tấn ra vẻ sầu não.

    Diệu Bình nhẹ nhàng nói: – Đừng bận tâm anh Tấn ạ, dù sao ta qua cái bốt này là lại trở lại như cũ mà, không ai để ý nữa đâu, anh đừng buồn nhé.

    – Nói như cô còn nghe được, rút cuộc tôi làm thế này cũng vì hai người các cô thôi mà.

    – Tôi thấy dân tình ở đây tính tình khác người Kinh chúng ta, có lẽ từ nay về sau nên cẩn thận lời ăn tiếng nói, chớ có để họ hiểu lầm, thù ghét rồi mang họa vào thân.

    Tấn ngao ngán nói: – Cô chả nói thì tôi cũng biết thế mà!

    Đợi cho hai người dân tộc kia đi cách xa một đoạn rồi, Tấn mới bảo mọi người đi tiếp. Được một lúc, Diệu Bình lại hỏi: – Tối nay thế nào đây anh Tấn, tôi thấy người ta ghét thế này chắc khó kiếm chỗ ăn ngủ đấy nhỉ?

    – Chuyện đấy không đáng lo lắm, trong phủ Cao Bằng có nhiều người Kinh mà, ngoài ra còn có một dãy phố buôn bán của đám Hoa kiều, đều có thể thu xếp được. Với cả trong thành nhiều lính, có muốn làm gì mình thì họ cũng chả dám làm đâu.

    – Nhưng có chuyện đáng lo hơn đang xảy ra đấy hai cô nương ạ – Tấn đổi giọng nghiêm trọng.

    – Có chuyện gì vậy? – Diệu Bình hỏi.

    – Đang có đánh nhau ở cái đồn phía trước – Tấn trả lời.

  • Chương 5

    Từ chỗ bọn họ đang đứng tới cái bốt cách không xa lắm, chỉ hơn trăm mét, nên có thể quan sát thấy mọi diễn biến đang xảy ra. Có vẻ mọi chuyện đã an bài, có ba hay bốn người gì đó đang nằm sõng soài dưới đất, đất cát đầy người, bị dí súng trường vào tận gáy. Cạnh đấy là có một cái xe bò đang đổ chỏng chơ, có rất nhiều bắp ngô bị rơi ra ngoài lăn lông lốc trên đất.

    Tấn không mất nhiều thời gian để nhận ra, chính là ba người vừa nãy vừa rút dao ra dọa Tấn, cái xe kia cũng là của họ, thảo nào mà xe nặng thế. Nhưng không biết họ làm gì mà bị lính bắt thế kia nhỉ?

    Diệu Bình hỏi: – Có đánh nhau sao? Thế giờ tính thế nào đây?

    Tấn nghĩ mình vốn đi đứng đàng hoàng tử tế, lại có cả cái giấy thông hành của tay quan, cũng muốn tới xem mấy người dân tộc kia có làm sao không, liền nói: – Không sao, chúng ta cứ tới đấy xem thế nào, hai người không nói gì nhé, để mình tôi lo liệu, đi nhanh nào!

    Cái bốt này lần trước Tấn đi qua đã có rồi, lần này có vẻ lại mới được xây cất thêm nên nhìn to và kiên cố lắm. Nó được chia thành nhiều lớp bảo vệ, như thế này đúng là con muỗi cũng không lọt qua được. Ngoài cùng và phía trước có hai cái ụ đắp bằng bao tải cát, cao ngang bụng người, mỗi cái một bên. Phía sau đó là hai cái lô cốt xây bằng bê tông, có hai tầng, tầng dưới để hở một cái khe để thò khẩu súng máy ra, còn tầng trên thì có mái bằng lá nứa kết lại làm chòi quan sát luôn. Giữa hai cái lô cốt đó có một cái thanh chắn ngang đường, muốn đi qua lại đều bị lục soát hết.

    Cái bốt này hôm nay có vẻ… hơi vắng. Chắc được điều động bớt đi làm việc khác. Chỉ có hai thằng lính Tây đang ngồi vắt vẻo trên hai cái ghế dựa đằng sau lô cốt, chúng nó còn chả thèm quan tâm là có đánh nhau. Còn lại là lính người Việt, chúng đang quây vào đánh đấm túi bụi mấy người dân tộc kia.

    – “Lũ khốn kiếp, dân mình mà lại nỡ đánh người ta thế kia à” – Tấn nghĩ thầm, phải ra xem có cách gì giúp mấy người kia không mới được.

    Chạy nhanh tới trước, Tấn hô lớn bằng giọng lơ lớ: – Khoan khoan, đừng đánh nữa!!

    Mấy tên lính quay đầu lại, nhìn thấy Tấn đang chạy tới, lại mặc quần áo dân tộc giống mấy người này, liền lăm le cầm đao tiến lại định chém luôn anh.

    – “Được lắm, lần này tao cho chúng mày thành mấy thằng hề hết!” – Tấn nghĩ bụng, đã có mưu kế, liền giơ hai tay ra hiệu dừng lại, rồi nói bằng cái giọng lơ lớ của người Tày lúc nói tiếng Kinh: – Ây ây, mấy người anh em bình tĩnh nào!

    Một thằng lính giơ đao lên quát: – Thằng ôn kia, ai cho mày gọi các ông mày như thế hả!

    Tấn ra điệu bộ gãi đầu gãi tai, cười xoen xoét với bọn chúng, rồi nói tiếp: – Ây ây, tôi đâu có dám làm gì, các anh đánh nhầm người của tôi rồi.

    – Người nào của mày? A mày là đồng đảng của mấy thằng kia có phải không? Cái con mẹ mày, tao chém mày!

    Tấn ra bộ hốt hoảng đáp: – Ây ây, các anh nhầm rồi, tôi là người của quan, tôi là người của quan mà, các anh nhìn đi!

    Nói rồi chỉ tay về phía sau, Dương và hai cô gái đang đi tới. Thấy hai cô gái bị trói và trùm kín mặt. Chúng lại hỏi lại Tấn: – Mày dẫn người đi đâu thế kia, chỗ này cho mày dắt gái đi như thế à? Mày có biết chỉ có người của quan mới được dẫn người đi không?

    Tấn bèn đáp ngay: – Thì tôi là người của quan mà, tôi là người của quan, các anh xem đây này!

    Nói rồi ra bộ móc bên này, móc bên kia, mãi mới lôi ra được mảnh giấy thông hành của tên quan Pháp, rồi giơ giơ trước mặt tụi lính mà nói: – Đây này, đây này, xem đi, quan đây này, quan đây này.

    Bọn lính mới túm lại xem, đúng là con dấu của quan Pháp thật.

    – “Mấy thằng ngu này” – Tấn nghĩ bụng, bọn này chắc gì đã biết chữ ấy, biết mỗi mặt dấu của thằng quan, thảo nào mặt thằng nào thằng đấy đen nhẻm vào, nhìn không thấy tí triển vọng gì.

    Bỗng một thằng lại quát: – Người của mày sao mang gươm đao vào thành làm gì hả, định làm phản à?

    – Kiếm nào? Kiếm nào?

    – Mày nhìn kia kìa, bọn nó giấu dao trong người kia kìa!

    Tấn xua tay phân giải: – Sai rồi, sai rồi. Kiếm cho quan, gươm cho quan!

    Nói rồi Tấn cầm một thanh đao lên, ra bộ múa mấy đường, rồi lại chỉ tay về phía hai cô gái giải thích: – Con gái mua kiếm, cho quan xem, quan thích!

    Nói rồi lại ra bộ múa thêm mấy đường nữa, chả có đường nét gì cả, cứ ra bộ đưa lên hạ xuống thôi, rồi chắp tay đưa thanh đao cho bọn lính, vẫn điệu cười xoen xoét nịnh hót: – Đánh nhầm người rồi, đánh nhầm người rồi.

    Bọn lính cuối cùng cũng có vẻ… hiểu Tấn đang định nói gì. Rốt cuộc thì chúng cũng biết tên quan Pháp háo sắc, tuần nào tháng nào chả dẫn gái về, cho bọn người này đi không lại rách việc. Nói rồi vứt trả lại thanh đao rồi quát: – Đưa mấy thằng đó đi đi, bảo bọn nó lần sau phải biết mở cái mồm ra mà thưa với quan, không là ông chém chết đấy! Con mẹ, mấy thằng ngu. Ha ha ha – Nói xong mấy thằng cười rống lên.

    Tấn chắp tay vái bọn chúng, ra bộ cảm ơn: – Nhớ rồi, nhớ rồi!!

    Nói xong chạy tới đỡ mấy người kia dậy, nhìn họ thê thảm quá. Người nào người nấy máu mồm máu mũi chảy be bét hết mặt, có một người nằm sõng soài dưới đất, chắc bị đánh cho ngất đi rồi, mấy người kia cũng đau mà không nói được gì, vẫn đang trố mắt mà nhìn Tấn. Tấn chạy lại đỡ người vừa nãy cầm dao dọa mình, thì thầm rất nhỏ vào tai: – Mỳ puôi la lắng thang, hất rèo câu nấy à (Đừng nói gì cả, cứ làm theo tôi).

    Anh chàng người dân tộc trố mắt ra nhìn, không hiểu chuyện gì đang xảy ra, vừa nãy người này còn bị mình rút dao ra dọa, giờ lại ra tay cứu mình, thật là khó tin. Nhưng họ cũng gượng dậy, xếp đồ lên xe rồi lại đi tiếp.

    Cứu mấy người dân tộc này quả là việc làm liều lĩnh, vốn dĩ Tấn chả hề quen biết gì bọn họ, không biết họ là người như thế nào, lại giấu một đống đao kiếm nữa, chẳng may có chuyện gì, rồi ảnh hưởng đến mấy cô gái, thì biết ăn nói sao với bà Thanh Mai đây. Có khi cái mạng của chính anh còn chả giữ được ấy.

    Bỗng nghe tiếng ư ư phía sau, quay lại thấy mấy tên lính đang chọc ghẹo hai cô gái. Vốn không dám đụng đến hai cô, chúng chỉ lấy gậy động chạm, chọc lách hai cô gái. Một tên buông lời trêu chọc: – Cô em cũng ngon lành đấy nhỉ, giá mà cô em không bị bắt thì anh xin chiều cô em… cả đêm đấy, ha ha ha.

    Cả đám lính cười hô hố ùa theo, đúng là lũ vô liêm sỉ. Tấn cũng thấy nóng mắt, nhưng không thể làm căng với chúng được, bèn diễn lại cái giọng nịnh bợ vừa nãy: – Ây ây, đừng trêu, đừng trêu, của quan đây, của quan đây!!

    Rồi cố gắng đẩy mấy tên lính tránh xa hai cô gái ra, rồi móc trong túi ra ít bạc lẻ, đưa ra cho bọn lính mà bảo: – Biếu anh em này, đi uống rượu, đi uống rượu!

    Mấy thằng lính quèn, thấy bạc cái là sáng mắt ra ngay, bèn nhận luôn, không gây khó dễ cho bọn Tấn nữa. Tấn chắp tay chào bọn chúng một lần nữa, chúng quát lại: – Lần sau phải biết điều với các ông nghe chưa, các ông thương các ông tha cho, giờ thì biến mẹ đi, ha ha.

    Ra hiệu cho mấy người dân tộc kia đi luôn cùng, Tấn cầm cương con ngựa, thúc nhẹ nó cho đi tiếp, thở phào một tiếng, nghĩ bụng may mà mình nhanh trí, thế là lại có thêm một câu chuyện nữa để sau kể cho mấy cô em nghe rồi, tự mình cảm thấy tự đắc lắm.

    Bỗng sau lưng có tiếng quát lại: – Arrêtez (Dừng lại)!

  • Chương 2

    Diệu Bình hỏi: – Vậy anh đã có phương cách nào chưa?

    Tấn vẫn đang khều mấy tàn than, chắc đang suy nghĩ ghê gớm lắm.

    Vốn dĩ cái đồn này anh đã từng đi qua trước đây, xì cho chúng vài đồng uống nước là qua được thôi. Nhưng mấy năm nay, tình hình thay đổi nhiều. Chúng thi hành chính sách khủng bố kinh khủng hơn. Lại nữa là nhiều nơi đang khởi nghĩa, đánh đồn diệt bốt, nên tụi lính lại càng kinh sợ. Chúng kinh sợ lại càng khủng bố nhiều hơn, vì chúng nghĩ rằng chỉ có khủng bố mới dập tắt được những mầm mống chống đối…

    Cũng có đôi lúc thấy dân mình bị chúng ức hiếp, Tấn cũng muốn can ngăn, nhưng tự nghĩ sức mình có hạn, chân tay cũng không thể chọi lại súng ống, nên làm thinh mà bước qua, cũng rủa thầm lũ lính vài câu, hy vọng có ngày có người sẽ dạy cho chúng một bài học. Nhưng chắc, chả phải là anh đâu!

    Tấn nói: – Hôm nay ta gặp ải này, coi như là khó khăn nhất từ lúc xuất hành đến giờ. Đồn đông lính lắm. Quả là rất khó khăn…

    Đưa tay lên dụi cằm như thể đang xoa râu, Tấn tỏ vẻ nghiêm trọng, nhưng được một chút thì đánh mắt láo liên. Không qua được mắt Diệu Bình, liền nói: – Tôi thấy anh xem chừng có cách rồi đấy. Không cần vuốt râu nữa đâu, không lại không mọc được đâu.

    – Ha ha, cô tinh lắm. Quả là tôi có cách rồi, nhưng phải hơi vất vả cho hai tiểu thư đài các.

    Nói rồi cúi đầu chắp tay, ra bộ lạy hai cô gái. Út Hương che miệng cười, rồi nói: – Chỉ có chị Diệu Bình là tiểu thư lá ngọc cành vàng ở đây thôi, chị nhỉ!

    Diệu Bình không kể đến út Hương, hỏi tiếp Tấn: – Anh nói luôn đi, có gì bày ra luôn, hy vọng là cách nào đó tốt, chứ không phải như mấy chuyện anh kể đâu nhé!

    – Ha ha, cô yên tâm, đảm bảo thành công. Nhưng tôi nhắc lại là mấy tên cướp đấy đều là thật cả đấy.

    – Được rồi, tôi tin anh mà, anh bày cách đi.

    – Cách này hơi vất vả cho hai người, nhưng tôi nghĩ chắc không còn cách nào ngoài cách này.

    Nói rồi lấy trong cái bị đan ra mấy bộ quần áo – là quần áo của người dân tộc. Có 4 bộ tất cả, rồi đưa cho Diệu Bình: – Cô và út Hương thay hai bộ quần áo này vào đi, của người Tày đấy. Hai bộ này của tôi và anh Dương.

    – Sao ta lại phải thay quần áo này? – Diệu Bình hỏi, đưa bộ quần áo lên ngắm thử.

    Cả mấy bộ quần áo đều chỉ có một màu đen, dệt kiểu thổ cẩm bằng sợi bông, khá là dày dặn. Của Diệu Bình và út Hương là một cái áo cánh với váy, dài đến gót chân. Còn Tấn và Dương thì áo cánh cài khuy và quần què đũng rộng, nói chung khá là đơn giản. Tấn lại bày ra mấy đôi giày vải, cho mỗi người một đôi. Tấn nói tiếp: – Có nhớ lúc vừa qua Thái Nguyên, gặp một đoàn người dân tộc đi xuôi ngược đường, tôi quay lại đứng với họ một lúc lâu không? Là tôi mua mấy cái áo này cho mọi người đấy, mất mấy đồng bạc. Dân tộc họ không lấy tiền, chỉ lấy bạc thôi, may mà có sẵn.

    – Tôi đang hỏi anh sao lại phải thay mấy bộ này mà? – Diệu Bình sốt ruột hỏi.

    – À, đây là quần áo của người Tày.

    – Là sao? – Diệu Bình hỏi.

    – Ta mặc quần áo người Tày thì sẽ thành người Tày, vậy thôi. Ta chuẩn bị “tiến vua” ha ha ha.

    – Là sao vậy, vua nào ở đây?

    Tấn lắc đầu, ra vẻ hiểu biết: – Ở đây có những kẻ không phải là vua mà cứ như vua đấy.

    Người ta bảo “đất có thổ công, sông có hà bá”. Hà bá ở đây là tên quan Pháp lãnh trách nhiệm giữ thành. Chúng bắt dân ta phải đào bờ, đắp thành, đào hào cho chúng, rồi bắt người lên núi cao nổ mìn đào đá. Lại phải đi đào quặng, đào vàng cho chúng, không làm thì chúng đánh đập dã man. Chúng còn dùng tiền mua chuộc quan lại triều đình ở địa phương. Tất cả đều răm rắp nghe theo, không ai dám chống lại, và trở thành tay sai đắc lực cho chúng. Những nơi lính Pháp không tới được, sẽ có những tên Việt gian này vươn tới giúp. Dân quanh vùng ghét những kẻ đó cũng ngang ghét lính Pháp vậy.

    Tấn và Dương sẽ vào vai những kẻ Việt gian như vậy. – Tôi và anh Dương sẽ đóng giả là đi dâng gái đẹp cho thằng quan Pháp, còn hai cô sẽ là gái đẹp đó – Tấn nói.

    – Á á, anh có bị làm sao không vậy, tôi không chịu đâu. Chị Diệu Bình nói gì đi, em không chịu nạp mạng cho ai đâu – út Hương há hốc mồm, thảy luôn bộ quần áo xuống đất.

    Diệu Bình nhìn chằm chằm Tấn mà không nói gì. Tấn tỏ vẻ sốt ruột nói tiếp: – Các cô không biết đâu, thằng quan Pháp này vốn hám gái háo sắc, nên cho người đi tìm gái đẹp khắp nơi. Thấy gái là hắn sáng mắt ra rồi. Nên chỉ cần viện cớ dâng gái đẹp lên lão là bọn gác sẽ không gây khó dễ gì đâu, vì chúng đâu có muốn làm phật ý ông vua của chúng.

    – Anh nói láo, thiếu gì cách mà phải làm thế. Ngộ nhỡ chúng lại dẫn ta thẳng đến chỗ tên quan đó thì anh làm thế nào – út Hương lại vặn lại.

    – Cô yên tâm, từ đồn gác đến chỗ tên quan tận mấy dặm liền, chúng sao dám bỏ gác mà đưa các cô đi. Và chúng cũng phân công rõ ràng rồi, có những kẻ chuyên đi săn tìm gái đẹp, không cần những kẻ khác bận tâm.

    – Và quan trọng nhất là tôi có cái này – Tấn nói, lôi ra mảnh giấy nhỏ bằng bàn tay, trên có mấy dòng chữ đánh máy, toàn là tiếng Pháp, và có một vết dấu đỏ ở phía cuối.

    – Cái đó là cái gì vậy? – Diệu Bình hỏi.

    – Đây là giấy thông hành do chính tên quan ban cho, có cái này thì chúng không dám làm gì ta cả.

    – Sao anh lại có tờ giấy đó?

    Tấn trả lời, không giấu nổi vẻ khoái trá: – Hồi năm ngoái, tôi có đi qua vùng này. Lúc đến một chỗ nghỉ, gặp mấy tên Việt gian ở đó, nghe chúng nói chuyện, nói về tờ giấy này. Tôi nghe thấy, thấy đây quả là món đồ hữu ích, bèn lấy cớ gây sự, rồi đánh lộn với chúng một trận. Được vài đường, chúng kéo thêm người đến, tôi tìm đường trốn luôn, ha ha.

    – Có vẻ mấy chuyện anh hay kể cũng có vài phần thật – Diệu Bình trả lại Tấn tờ giấy.

    – Vậy các cô đã tin tôi chưa? Chỉ có cách đó mới đi qua được đồn gác thôi.

    – Nếu anh đã có tờ thông hành này thì còn cần gì chúng tôi phải thay trang phục rồi giả này giả kia?

    – Vì những kẻ được phát tờ giấy này, chỉ để làm một công việc đi lùng gái đẹp. Vậy nếu không giả là bắt được hai cô thì sao mà chúng tin được.

    Có lẽ cũng không còn cách nào khác.

    Diệu Bình thở dài, rồi quay sang út Hương nói: – Thay quần áo đi em, mình sắp đến nơi rồi, sắp xong việc rồi, nốt việc này là xong rồi.

    – Nhưng em sợ lắm chị ơi, chẳng may bị bắt đi thật thì sao – út Hương vẫn không tin là việc này có thể thành công.

    – Đừng lo mà em, có chị ở đây rồi. Anh Tấn và anh Dương nữa, không ai làm gì được em đâu.

    – Em sợ lắm, chị hứa đi, không được xảy ra chuyện gì nhé! – Vừa nói cô bé vừa rơm rớm.

    Ôm lấy cô bé, xoa nhẹ mái tóc, Diệu Bình vỗ về cô bé: – Chị hứa mà, không sao đâu em.

    Vậy hai cô ra đằng kia thay quần áo đi, còn anh em mình ra sau cái cây thay đồ thôi anh Dương – Tấn vỗ vai Dương báo ra thay quần áo. Dương gật đầu lật đật theo.

    – Khoan đã anh Tấn, có chuyện này không được – Diệu Bình chợt nhớ ra một chuyện, gọi giật lại.

    Tấn quay lại hỏi: – Có chuyện gì vậy?

    – Tôi thay quần áo thì che mặt kiểu gì đây?

    Tấn chưa nghĩ đến chuyện này, hai người này thật lắm chuyện, lại còn phải khăn với chả che. Nhưng không sao, có cách rồi. – À quên chưa nói, hai người sẽ làm như bị trói tay và bịt miệng, rồi trùm một cái bao lên đầu, để không cho lên tiếng, vậy là coi như che được mặt rồi. Các cô cố chịu khó chút nhé, như thế mới giống đi bắt người.

    Tấn gãi đầu cười trừ. Quả là hơi bất tiện cho hai cô gái này, nhưng mà đành thế thôi biết làm sao đây.

    Diệu Bình có vẻ hơi trùng xuống một chút, nhưng cũng không nói gì.

    Mấy người lật đật đứng dậy thay đồ. Một lúc sau trở ra, nhìn đã ra dáng dân tộc chính cống rồi. Diệu Bình và út Hương đã tự trùm một cái bao tải lên đầu, và làm như bị trói tay. Tấn thấy hai người kia trong bộ quần áo dân tộc, tặc lưỡi nghĩ, không biết hai công nương này thực ra mặt ngang mũi dọc thế nào, mà cứ che che dấu dấu suốt mấy tháng trời.

    Mấy hôm đầu anh còn chưa quen với kiểu đó, vì thấy không tự nhiên lắm, nhưng sau rồi cũng quen. Dạn dĩ như anh, có chuyện gì mà chưa trải qua.

    Tấn lại nói: – Kể ra kiếm được mấy cái vòng bạc cho hai cô đeo thì mới giống người Tày thật, con gái Tày họ hay đeo vòng lắc bạc lắm. Nhưng mà chả kiếm đâu ra được, thời này kiếm mấy đồ đấy coi bộ hơi khó.

    – Hai bộ này khá vừa vặn đấy, sao mà lại hay vậy? – Diệu Bình hỏi. Cô cao hơn út Hương đến nửa cái đầu. Bộ của hai người giống hệt nhau, chỉ khác ở cái khăn đai quanh bụng. Của Diệu Bình màu hồng nhạt như màu hoa đào phai, còn của út Hương thì là màu vàng.

    Tấn cười ranh mãnh trả lời: – À tôi phải ngắm hai cô thật là kỹ, để chọn được bộ cho đẹp đấy, thấy mắt thẩm mỹ của tôi tốt không?

    – Chả ra gì cả, quần áo xấu mù thế này, đẹp gì mà đẹp chứ, lại còn hôi nữa chứ, hứ! – út Hương chành chọe nói.

    – Quần áo để trong bị lâu nên thế, chịu khó đi. Mà như vậy mới giống bị trói mang đi, chứ cô nghĩ bị trói thế đi bao xa mà người ngợm vẫn thơm tho à. Chịu khó qua được bốt rồi, đến quãng nào kín đáo thì lại thay ra là được mà. Giờ để tôi khoác giúp hai cô cái áo khoác sợi khô này ở ngoài nữa.

    Giúp hai cô gái mặc áo xong, Tấn dắt một con ngựa đến nói: – Giờ hai cô ngồi con ngựa này, nhưng ngồi quay lưng vào nhau, một người quay ra đằng trước, một người quay ra đằng sau, rồi tôi trói tay hai người lại. Yên tâm là tôi buộc hờ thôi, không đau đâu.

    – Giờ lùa ba con ngựa kia đi, tôi và anh Dương đi bộ theo hai cô thôi, khi trở ra ta sẽ kiếm ngựa khác – Nói rồi Tấn cởi bỏ yên cương mấy chú ngựa kia, quất roi mạnh đuổi chúng đi. Cũng muốn để lại ba con ngựa ở đây để khi trở ra đỡ phải kiếm ngựa, nhưng chỗ này gần đồn bốt, làm thế dễ gây chú ý.

    Yên vị trên ngựa rồi, Diệu Bình nói từ trong cái bao chụp đầu nói ra: – Anh nói kiếm ngựa khác, vậy anh đã có cách từ đó đi ra chưa?

    – Ha ha, cứ để đến đâu hay đến đó tiểu thư à – Tấn cười to.

  • Chương 3

    Tối thật, chả nhìn thấy gì – Diệu Bình nghĩ bụng.

    Cái bao trùm đầu này cũng được làm cùng thứ vải với mấy bộ quần áo của họ, nên dày dặn lắm. Mới trèo lên ngựa, bị trùm đầu kín mít, cảm giác khi ngựa bước đi giống như bị bước hụt vậy. Hai cô phải tựa chặt lưng vào nhau cho đỡ bị hẫng. Việc này quả thật khó chịu. Cái anh chàng Tấn này, không còn cách nào khác hay sao mà cứ phải thế này!

    – Chị Diệu Bình ơi, em thấy cứ thế nào ấy – út Hương cằn nhằn.

    – Chịu khó đi em, em ngồi quay ra phía trước còn đỡ hơn chị ngồi phía sau đây! Mấy lần tưởng rơi xuống dưới rồi.

    – Cô yên tâm, cô ngã thì tôi sẽ dang vòng tay ra đỡ cô ngay, ha ha ha! – Giọng Tấn trêu trọc.

    – Không dám phiền anh, để tay anh rảnh mà bắt cướp – Diệu Bình cũng chả chịu thua kém, trả đũa lại ngay.

    – Xem ra từ lúc lên đường đến giờ trời yên bể lặng quá, chưa gặp trắc trở nào để tôi thể hiện bản lĩnh thì cô mới chịu tin tôi nhỉ. Giờ có đám cướp ở đây, tôi xử lý cho mà xem – Tấn lại tiếp lời.

    Im lặng một lúc, Tấn lại hỏi: – À mà tiểu thư này, ta đến phủ Cao Bằng này rồi làm gì tiếp vậy?

    Vốn dĩ từ đầu, Tấn chỉ được cho biết là đưa hai cô đến Cao Bằng. Làm gì thì tuyệt nhiên không được biết. Đồ đạc của hai cô có vài cái hộp, mấy túi quần áo thôi. Tiền bạc thì Tấn được giao cho cầm tiền cho tiện chi tiêu, hai cô không phải động tay chân.

    – Anh ta chả cần biết làm gì cả. Ta cứ đến, xem xét tình hình ở đó rồi tính!

    Chuyện này càng ít người biết càng tốt. Nên Diệu Bình cũng không muốn nói thêm. Dù với cô thì hai anh chàng này đã chứng tỏ là họ là những người đáng tin cậy rồi. Đi cùng nhau mấy tháng, hai người đã giúp Diệu Bình và út Hương rất nhiều. Tấn khôn ngoan láu cá, nhưng là người rất tốt. Còn Dương tuy không nói gì nhưng cũng rất ân cần.

    Diệu Bình lại nói: – À… chẳng phải dì Thanh Mai nói với anh rồi còn gì, còn hỏi lại tôi nữa.

    – Dì của cô có nói với tôi điều gì đâu. Bà ấy chỉ bảo dẫn hai cô tới đây thôi – Giọng nói từ phía bên phải nói.

    – Vậy thì anh cứ biết như vậy thôi là đủ rồi, tôi… đi chơi đó mà – Diệu Bình nói bừa.

    – Ha ha, thế thì đúng là đầu óc cô có vấn đề đấy. Lên cái chốn núi non lạnh lẽo này đi chơi giữa mùa đông.

    – À thì, tôi nghe nói trên này… có tuyết. Tôi mới đọc trong truyện sách chứ chưa thấy tận mắt bao giờ nên muốn đi xem cho biết.

    Tấn nói, với cái giọng rõ ràng tin là cô gái này có vấn đề rồi: – Thế thì cô nhầm to rồi. Ở đây làm gì có tuyết. Rét như bên Tàu còn may ra!

    Diệu Bình bật cười: – Hì hì, vậy khi nào anh lại dẫn tôi sang đó xem tuyết nhé.

    Tấn nói với giọng chưng hửng: – Thôi, tôi vái sống cô luôn đây. Đi với hai cô mấy tháng mà tôi mệt bằng đi làm cả mấy năm đấy, kỳ này về phải xin bà Thanh Mai thêm công xá mới được!

    – Tôi thấy anh có chút ra dáng, vậy mà mới tí đã nói đến tiền, xem ra tôi nghĩ về anh tốt quá rồi, ôi hai tiếng “hảo hán” – Diệu Bình vừa cười vừa nói, rõ là đang trêu tức Tấn.

    – Em đồng ý, ha ha, anh ta là tiểu nhân chứ hảo hán cái gì – út Hương thêm vào.

    Tấn trả lời như không có gì: – Tôi là hảo hán hay tiểu nhân cũng được, miễn là chuyến này làm đầu xuôi đuôi lọt, là đủ tiền về quê lấy vợ. Tôi hứa với mẹ tôi là năm nay mang về cho bà một nàng dâu rồi.

    Út Hương bèn chọc ngoáy thêm: – Thế nếu không thành thì sao, anh hết lấy vợ luôn à? Mà tôi thấy anh không lấy được vợ đâu, hahaha, tiểu nhân sao mà có người thích được.

    Tấn đốp chát lại ngay: – Phủi phui cái mồm cô đi. Đang làm không nói chuyện thành hay không. Mà tôi nói thật, giả sử mà có như thế, tôi không đủ tiền thì tôi bắt hai cô về nhà làm vợ tôi luôn đấy. Đến lúc đấy đừng có than thở nhé, ha ha ha.

    Út Hương chua ngoa trả lời ngay: – Xí, anh mà dám thế, tôi chả tin. Mà chị Diệu Bình có võ đấy, anh mà dám đụng đến chị ấy thì chị ấy cho anh nhừ đòn, chị Diệu Bình nhỉ!

    Diệu Bình cười nói: – Còn phải xem giữa tôi với mấy tên cướp đợt nào đấy thì ai lợi hại hơn nhỉ anh chàng săn cướp.

    – Võ vẽ như cô chắc đến đá gà đá chó là hết chứ gì – Tấn trêu chọc.

    Câu nói làm Diệu Bình cũng hơi nóng mặt chút, liền nói ngay: – Tôi không dám nhận là giỏi nhưng hôm nay cho anh mở rộng tầm mắt nhé, dừng ngựa lại!

    Tấn thấy vậy, cũng cho ngựa dừng lại, hỏi: – Sao vậy tiểu thư, hôm nay tiểu thư cho tiểu nhân tôi đây mở rộng tầm mắt thế nào đây?

    – Anh nhặt giúp tôi một viên sỏi nhỏ, rồi tung lại phía tôi.

    – Để làm gì vậy tiểu thư?

    – Anh cứ tung về phía này, tôi đỡ.

    – Nhưng cô đang bị trói tay, lại che mắt thì thấy gì mà đỡ?

    – Tôi bảo anh tung thì anh cứ tung đi!

    – Được rồi, là cô nói đấy nhé, bên phải này!

    Diệu Bình dùng mu bàn chân nhẹ nhàng đỡ lấy viên sỏi, rồi lại lựa thế hơi nghiêng sang trái hất viên sỏi sang phía chân trái. Nghĩ bụng: “Chắc anh ta đang há hốc mồm ra đây, hihi, trò này lúc ở trên núi, ngày nào sư cô cũng bắt mình làm mà.”

    Đó là khuyết nhãn cước, một trong những bài võ độc đáo của môn phái Bạch Hổ. Sư cô chính là một trong những người cuối cùng của môn phái.

    Bộ khuyết nhãn cước này được sáng tạo ra bởi một trong những vị sáng lập ra môn phái. Nghe kể rằng, mắt ông bị mù từ nhỏ, nhưng ông trời có lấy đi của ai tất cả bao gi. Bị mù nhưng bù lại thính giác của ông lại rất tinh tường, lại thêm tài phán đoán, từ bộ quyền Thần Đồng nổi tiếng của bổn môn mà luyện ra bộ cước pháp này.

    Tính chiến đấu thực tế của nó cũng rất cao, vì nếu chiến đấu ở nơi tối tăm không có ánh sáng, trong khi quân địch còn đang hoang mang chưa biết đường hướng thế nào, thì đã có thể tận dụng để giết sạch địch

    Tập bộ cước pháp này, lúc đầu sư cô bắt Diệu Bình bịt mắt rồi tung hứng với những viên sỏi nhỏ, ban đầu chỉ có một viên, sau rồi thành hai viên, rồi ba viên… Khi thành thục rồi mới thêm lực vào chiêu thức, mạnh – yếu, nhanh – chậm tùy cơ mà tung ra. Nên khi tung với viên sỏi này, dù có là đang bị trói tay, vẫn là quá dễ dàng với Diệu Bình. Dừng viên sỏi trên mũi bàn chân, rồi đưa chân lên cho lăn dần xuống, đến đầu gối lại hất nhẹ lên chuyền sang bên kia, rồi lại tâng qua đầu, từ sau ra trước, từ trước ra sau, tuy có vướng út Hương ngồi trước nhưng vẫn không phải là cái gì quá khó.

    Để kết thúc, Diệu Bình tâng viên sỏi lên thật cao, rồi nghiêng hẳn người sang một bên, đoán chừng phương hướng Tấn đang đứng, đợi viên đá rơi xuống thì tung chân đá, cho anh ta từ nay hết coi thường bản cô nương!

    Lực cú đá cũng nhẹ, vì Diệu Bình chỉ muốn cho anh chàng này bẽ mặt thôi. Chỉ nghe thấy “bộp” một tiếng, rồi Tấn cằn nhằn: – Ai chà, trúng tay tôi rồi đấy bà cô sư tử ạ!

    – Ha ha ha. Cho anh sáng mắt, từ nay hết coi thường nữ nhi chúng tôi đi.

    Út Hương bị buộc với Diệu Bình, lúc cô nghiêng người đá viên sỏi thì út Hương cũng nghiêng theo, tưởng ngã xuống đất, kêu la oái oái lên: – Chị làm em sợ quá đấy chị Diệu Bình, em tưởng ngã rồi cơ.

    Tấn không nói gì, lát sau mới lên tiếng: – Coi như nãy tôi nói sai, tôi xin rút lại lời nói đó, bà cô sư tử ạ!

    – Cho đáng đời anh, hi hi – Diệu Bình vui vẻ nói.

    – Thôi hai người ngồi yên đi, gần đến đồn địch rồi, qua khúc cua này là thấy rồi.

  • Chương 1

    -Chị ơi, chị tỉnh lại đi!

    Diệu Bình choàng tỉnh dậy. Út Hương đang lay hai vai cô. Anh Tấn và Dương cũng đang đứng cạnh đấy.

    -May quá chị tỉnh rồi, em lo quá ! Út Hương ôm lấy Diệu Bình

    -Tôi, Tôi bị làm sao vậy? Diệu Bình lơ mơ hỏi

    -Cô bị ngất đi đó! Tấn trả lời, nhướn mày lên gật đầu. Nãy vừa dừng ngựa, ngồi xuống là cô … ngủ luôn à! Chắc do mấy hôm nay mưa gió mệt nên vậy đó cô nương!

    Diệu Bình không nói gì. Đúng là cô thấy mệt mỏi uể oải thật. Chuyến đi vắt hết sức lực của cô. Trời thì gió rét, còn mưa nữa. Ở đây lạnh hơn trong Huế nhiều.

    -Cô không sao là tốt rồi. Nghỉ ngơi tí là khỏe thôi! Tấn nói.

    Diệu Bình uể oải nhìn xung quanh. Cây cối rậm rạp. trời đang trưa.

    – Vậy rút cuộc, hai cô vẫn không cho chúng tôi biết mặt à? 

    Vẫn là Tấn. Anh đang cời đống lửa, vừa làm vừa hỏi, với cái giọng vừa tò mò, vừa có ý trêu ghẹo. 

    Cuộc phiêu lưu của Diệu Bình tới giờ đã hơn 3 tháng rồi. Cô cùng út Hương đi cùng hai người dẫn đường là Tấn và Dương. 

    Và hai cô gái đã che mặt suốt thời gian đó. 

     

    Diệu Bình đang dỡ đồ trên ngựa của cô xuống, như thường lệ, không trả lời Tấn. Út Hương cũng vậy. 

    Tấn nhún vai, quay ra nói với Dương: 

    – Kiếp độc thân còn dài, người anh em ạ! 

    Dương không nói gì, chỉ nhướn lông mày ra hiệu. 

    Họ đang dừng chân dưới chân một con đèo gần phủ Cao Bằng. Khuất xa đường đi một chút để đảm bảo kín đáo và đỡ gió lạnh. 

    Sắp đến nơi cần đến rồi. 

    Diệu Bình không để bụng mấy câu trêu đùa của Tấn. Chẳng qua hành trình dài, chưa biết khó khăn thế nào, nên cô cũng không muốn nói chuyện quá nhiều về những chuyện bên lề. Nhưng để anh chàng này cứ nói vậy cũng đỡ buồn. 

    Nghĩ vậy, cô tự cười thầm. Thôi thì thoải mái chút vậy. 

    Chợt Diệu Bình lên tiếng, giọng nhẹ nhàng: 

    – Anh kể về nghề của anh đi, có được không anh Tấn? 

    Tấn nghe Diệu Bình hỏi vậy, nhướn lông mày lên, rồi bắt đầu nói với giọng xuề xòa: 

    – Sinh nghề tử nghiệp thôi mà. Chuyện phường chuyển vận chúng tôi, tuy là thật nhưng nói ra chắc mười người thì đến chín người không tin, cho rằng hư cấu. 

    – Không sao, còn một người tin là được rồi – Diệu Bình giục. 

    – Người còn lại ai bảo là tin đâu, người ta bỏ đi chỗ khác, chả thèm nghe luôn ấy chứ. 

    Diệu Bình nghe cũng bật cười theo. Cái anh chàng này, đùa suốt được thôi… 

    – Thôi thì coi như tôi là người thứ mười một đi – Cô lại giục. 

    Tấn thấy vậy, đưa mắt ra xa xa nhìn, như thể hồi tưởng lại những sự kiện hào hùng không để đâu cho hết… 

    – Cô biết lúc vào nghề này, tôi được cha truyền lại cho mấy chữ, bắt phải khắc cốt ghi tâm, không được quên. Biết là những chữ gì không? 

    – Dĩ nhiên là tôi không biết rồi, anh hỏi thừa. 

    Lại trầm ngâm một lúc, rồi mới tiếp: 

    – Cha tôi nói: “Con làm nghề này, nhớ lấy mấy chữ mà làm đạo, cứ thế mà theo: 

     ‘Hàng hóa là sinh mạng’

    Nói về cái nghề này phải kể từ thuở xa xưa. 

    Nước Việt ta, đất đai thiên nhiên đã vốn hoang sơ nhưng cũng đầy kỳ vĩ: sông to, núi lớn, không thiếu gì. Việc đi lại từ xưa đến nay cũng vì vậy không khỏi có nhiều khó khăn. Người Kinh vốn trước đây tập trung chủ yếu ở đồng bằng ven sông trồng lúa chăn nuôi, còn các bộ tộc khác sống trên núi cao, xa xôi cách trở, nên giao tiếp buôn bán cũng ít. Nhưng nước ta có của cải, châu báu nhiều, chim quý thú lạ không ít, nên từ thời các vua Hùng đã có những người chuyên đi săn tìm của ngon vật lạ để dâng lên vua. Họ là những người giỏi nhất, gan dạ nhất, liều lĩnh nhất, mới có thể đến những nơi hang cùng ngõ hẻm, không bỏ sót chân trời góc bể nào, để tìm kiếm những thứ ít ai tìm được. Sự tích vua Hùng kén rể với những “voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao” mà từ xa xưa truyền lại cũng đã cho thấy đã có những con người như vậy từ rất lâu rồi. 

    Đến thời Bắc thuộc, họ được gọi là những truy bảo nhân, hành tung đi lại bí ẩn, nhiều khi còn được gọi là ẩn lộ nhân, không ai biết đường đi nước bước của họ ra sao. 

    Một thời gian dài sau đó, họ vẫn làm những công việc như những ngày đầu tiên. Cho đến thời kỳ Trịnh – Nguyễn phân tranh, rồi Đàng Trong – Đàng Ngoài, việc đi lại, giao lưu buôn bán giữa các địa phương trở nên khó khăn hơn nhiều. Vốn là những người đã đi đến cùng trời cuối đất, không có con đường nào mà họ không đặt chân đến, nên những truy bảo nhân lại kiêm thêm công việc mới: đó là chuyển vận hàng hóa, hộ tống đoàn người đi khắp từ Bắc chí Nam, đảm bảo an toàn tối đa cho người và hàng hóa. Những người này về sau được gọi là bảo tiêu, cũng gần giống như bảo tiêu bên Tàu vậy, nhưng cái đặc sắc hơn là những nơi không có đường đi được thì họ sẽ tạo ra được đường mà đi, do kinh nghiệm kiến thức cả ngàn năm truyền lại. 

    Thời đó, Đàng Ngoài có Bắc Lộ Bảo Tiêu Cục, Đàng Trong lại có Nam Giao Bảo Tiêu Cục, uy thế ngang nhau. Đều là nơi tụ họp những người giỏi nhất. Thanh thế quyền lực của họ lúc đó rất lớn, đến quan lại cũng phải nể vài phần. Điều giúp họ thành công chính là cái sự “nửa chính – nửa tà” của họ: chỉ cần khách trả đủ tiền, họ sẽ chuyển hàng đến nơi đến chốn, cho dù hàng đó là người, là vật, hay những thứ kim cổ hiếm gặp. 

    Khi nhà Nguyễn thống nhất giang sơn, những người đứng đầu các cục đã hợp lại với nhau thành một tổ chức duy nhất, gọi là Việt Nam Bảo Tiêu Cục, với tên lấy theo quốc hiệu nhà Nguyễn lúc bấy giờ. 

    Đến thời Pháp thuộc, tiêu cục vẫn hoạt động bình thường, không can hệ đến người Pháp, vì nhiều khi chính người Pháp cũng phải nhờ những người này vận chuyển giúp. Bước ngoặt chỉ đến khi xảy ra sự biến cụ Tôn Thất Thuyết tấn công Pháp ở Huế, rồi phong trào Cần Vương nổ ra, những người của Việt Nam Bảo Tiêu Cục đã quyết định đứng về phía nhà vua và nghĩa quân – việc vốn chả liên quan đến họ. 

    Kết cục là binh biến thất bại, phong trào bị đàn áp dã man, tiêu cục cũng không tránh khỏi họa diệt thân. Cơ sở bị phá bỏ hoàn toàn, những người liên quan: người bị giết, người bị đi đày, không ai thoát. Cơ sở chính ở Hà Nội bị phá bỏ. Quân Pháp đã xây nhà tù Hỏa Lò khét tiếng ngay trên đấy, như để thể hiện sự thống trị của mình. Chúng cũng mở những công ty vận tải, sử dụng ô tô, tàu hỏa để vận chuyển hàng hóa, nhằm nắm hết con đường mưu sinh của dân ta. Việc làm ăn càng thêm khó khăn. 

    Về sau đó, những bảo tiêu ở những tiêu cục nhỏ hơn, hay những người trốn thoát được khỏi cuộc truy quét đó, dần đi vào bóng tối. Có người giải nghệ, có người vẫn làm nhưng kín tiếng hơn, hoạt động âm thầm hơn, chỉ làm việc và giao dịch với những người thân quen mà thôi. 

    Tấn và cha là những người hiếm hoi vẫn còn làm nghề này. Vất vả, bạc bẽo, nguy hiểm nên càng ngày càng ít người làm. Cha anh tuổi cao cũng đã nghỉ, không làm ba bốn năm nay, ở nhà làm phụ nghề gốm, làm chén bát với mẹ anh. Tấn theo cha đi theo hàng từ lúc mới mười bốn, đến năm nay đã được mười mấy năm có lẻ, tuổi nghề không phải là nhiều nhưng được cái gan dạ, máu liều lĩnh, lại khôn ngoan trải đời, nên việc giao cho anh đều làm đến nơi đến chốn. Cả năm chỉ về nhà vài bận. Cũng may Tấn là con thứ, trên đã có anh cả lo việc nhà nên cha mẹ cũng không lo lắng lắm, chỉ giục anh kiếm cô vợ sinh thằng cu cho cha mẹ mừng. Nhưng mỗi lần như vậy anh chỉ cười xuề xòa, không nói gì. 

    Tấn to cao, người săn chắc vì đi lại nhiều, nhưng không phải là gầy gò ốm yếu, thân hình chắc nịch như khúc gỗ. Nước da ngăm ngăm đen – là vì có nước da giống mẹ anh vốn rất trắng, nếu không thì anh đã phải đen như cái cột nhà cháy rồi. Chân tay sẹo đếm không xuể, chiến tích những chuyến đi mà thi thoảng anh vẫn lôi ra đếm mà khoe với mọi người, nhưng khuôn mặt thì tuyệt nhiên nhẵn nhụi lành lặn. Có lần hỏi thì Tấn nói: “Giữ cái mặt lành lặn, sau lấy vợ đêm đỡ dọa cho vợ sợ!” 

    Ngồi nghe Tấn thao thao bất tuyệt, Diệu Bình không nói gì, chỉ nghe và gật đầu tán thành. Cô biết chuyện anh nói mười phần thì chín phần là nói khoác rồi, nhưng cứ kệ cho anh chàng kể thôi, coi như là cảm ơn vì mấy lần giúp đỡ trên đường. Không chỉ Tấn, anh Dương cũng không nề hà mà rất nhiệt tình giúp đỡ. Diệu Bình rất cảm kích điều này. 

    – …Lúc đám cướp đó lao đến, tôi liền thủ thế, cầm gậy mà quét một lượt, tất cả chúng trở tay không kịp, té ngã sõng soài ra. Tôi lại gõ cho mỗi tên một cái vào đầu, chúng lăn kềnh ra luôn, vậy là cha tôi chỉ việc lấy sợi dây thừng trói hết cả thể lại là xong. 

    – Có phải sau đó anh dẫn chúng lên quan lĩnh thưởng, nhưng ra đến nơi thì quan đi vắng nên anh lại thả chúng về, bắt chúng hứa không làm ăn cướp nữa đúng không? – Út Hương đang lim dim bỗng chen vào câu chuyện của Tấn. 

    – Ủa sao cô biết hay vậy? – Tấn ngạc nhiên. 

    – Vì câu chuyện này anh đã kể đến lần thứ năm rồi, anh chàng ngốc ạ! – Út Hương chỉ đợi đến câu này để bộc phát ra. 

    Diệu Bình cười khúc khích, còn út Hương thì bò ra mà cười. Tấn thấy mình làm oai mà cuối cùng thành trò cười, ngượng không để đâu cho hết, phải chữa thẹn: 

    – Cô nhóc này, ai bảo vậy. Ta gặp nhiều đám cướp lắm, mỗi lần kể là đám khác nhau. Chỉ là ta vốn rộng lượng thương người, tha cho chúng nên hôm nào cũng nói giống nhau, thực ra là khác nhau đấy! 

    – Eo ôi, chả tin anh đâu, anh nói khoác lên tận ngọn cây rồi ấy chứ, ha ha ha. 

    – Không tin thì tùy cô nhóc, mà ta có kể cho cô nghe đâu, ta kể cho chị của cô cơ mà. Chị cô không nói gì nghĩa là chuyện ta kể rất là hay đấy chứ. 

    Út Hương “xì” một tiếng, không nói nữa, chạy đến cái lá to mà Tấn bày ra từ nãy để đặt thức ăn lên, thò tay nhúp một miếng ăn ngon lành rồi: 

    – Đợi anh Dương về rồi ăn cả thể đi em, đừng nhúp nhặt trước như thế là xấu đấy em – Diệu Bình bảo em. 

    – Nhưng em đói chị ơi, hì hì, em là em út, cho em được ưu tiên đi mà – cô bé lại làm nũng. 

    Cũng vừa lúc anh Dương xin được nước về, mọi người đã khá đói nên tập trung mà ăn, chả nói nửa câu. 

    Nhưng vì đang che mặt mà cứ đeo khăn thì vướng, không ăn được, nên cứ đến bữa, Diệu Bình và út Hương mang đồ ra một chỗ ăn riêng, ăn xong mới trở lại chỗ cũ. Có đồ ăn vào bụng, sắc mặt mới có chút thần thái trở lại. Đúng là có thực mới vực được đạo! 

    Tấn lấy trong túi áo chẽn ra cái đồng hồ quả lắc – món đồ anh có được của một tay buôn sứ người Hoa trong một lần giúp hắn đi con đường mòn qua cửa khẩu để trốn quan đánh thuế. Đưa lên xem giờ, đã 3 giờ chiều rồi, bèn nói tiếp: 

    – Chúng ta nghỉ ngơi thêm chút rồi lên đường nhé, cũng gần đến rồi. 

    Diệu Bình lại hỏi: 

    – Ta đi qua ba con đèo, chí ít cũng ba chục dặm đường rồi, mà sao không gặp bóng quan quân nào nhỉ? Ta nghĩ những địa thế hiểm trở trọng yếu thế này phải có lính đồn trú chứ nhỉ? 

    Vốn là từ khi từ đất Lào về lại đất mình, Tấn đều dẫn đoàn tránh những đồn trú của quan quân. Những chỗ đó không chỉ có lính Việt ta, còn có cả lính Pháp nữa. Bọn chúng được trang bị súng đầy đủ, đi qua quả rất ngặt nghèo, cũng may là không phải qua trạm nào. Cũng có khi đang đi thì có những toán lính đang hành quân đi qua, nhưng tụi này thì không chú ý đến dân bên đường lắm, chỉ cần đi tránh ra, dẹp

    vào bên đường cho chúng đi qua là xong. Họ ăn mặc cố ý rách nát, quần áo nhàu nát để chúng khỏi để ý, mặc nhiên là người đang đi đào cây lấy củ về làm thuốc Bắc, nên không ai nghi ngờ gì cả. 

    Tấn đang nói chuyện với Dương, có vẻ tươi tắn lắm. Nghe Diệu Bình hỏi vậy, thì mắt nheo lại, im lặng một lúc, rồi nói: 

    – Cô nói đúng lắm, qua thung lũng này là đến đồn to đầu phủ Cao Bằng, lính coi rất ngặt, và đây là đường độc đạo, không còn con đường nào khác. Ta chuẩn bị tinh thần đi nhé.

  • Chương 8

    Sáng nay tôi thức dậy và biết rằng có điều gì đó không đúng. Tôi không nghe âm thanh lục đục dưới bếp của mẹ như thường ngày. Chiếc quạt máy dưới chân tôi cũng tắt ngấm. Tôi mở cửa bước ra ngoài, ánh nắng là thứ duy nhất có mặt trong gian bếp. Có lẽ bà đã đi tiệc, hoặc thăm một người bạn. Dù sao thì hẳn đó là việc mà tôi không cần biết, vì nếu có thì bà đã cho tôi biết vào hôm trước. 

    Trước khi quay về phòng mình, tôi quét mắt qua bàn ăn. Bên trong cái lồng bàn trống trơn. Khả năng mẹ tôi không để đồ ăn sáng cho tôi là rất thấp, bởi bà biết tôi sẽ không rời khỏi nhà chỉ để đi ăn sáng. Thế nhưng hôm nay là một ngày như vậy. Tôi tự nhủ có lẽ bà có việc đi gấp. Điều này giải đáp cho việc vì sao bà lại không báo trước với tôi, và cũng không chuẩn bị đồ ăn sáng trên bàn. Tôi cũng không thấy bóng dáng của ba tôi đâu. Sự yên tĩnh này giống như một chiếc bao nilon được cột kín, phồng lên và trống rỗng. Bên trong nó, tôi không còn bị giữ chân bởi trọng lực, đầu óc bắt đầu tự do tung tẩy và bay lượn. 

    Rõ ràng là đêm qua đã để lại trong tôi một bài tập lớn mà tôi cần phải dùng tất cả vốn liếng ít ỏi mà tôi có trong một vài năm đầu đời để lý giải. Tôi thấy như bị bước hụt chân trong một ngôi nhà có những hàng cầu thang lớn, trải dài tít tắp. Tôi rõ ràng đã rơi xuống nhưng cuối cùng lại thấy mình nằm đúng ở vị trí ban đầu, giống hệt những giấc mơ mà tôi thường mơ. Rồi cảm giác mơ màng bắt đầu được thay thế bởi những mảnh hồi ức sống động. Màn mưa dày cộp trước mặt hiện ra, và bên cạnh tôi, chị đang thu người lại, hai bàn chân run rẩy bên dưới hai bàn tay tôi. Khi tôi nhìn sang chị, đôi môi chị đang mấp máy một nụ cười. Nó không tinh nghịch như trẻ nít mà tôi hằng tưởng tượng. Nó rất nhẹ và hầu như không chính xác là một cái gì. Mọi phản ứng của chị đều rất chừng mực, kèm theo những ranh giới không thể phân định rạch ròi. 

    Tôi xâu chuỗi những tín hiệu được phát đi vào đêm qua. Chị đã để tôi sưởi ấm dưới mái hiên. Chị để tôi đưa về nhà. Và dù hết sức bẽn lẽn, tôi biết chị đã chạm vào tôi bằng ánh mắt của mình. Giờ thì tôi hiểu mục đích của giấc mơ tối qua là để giải thích cho những cảm giác không thể gọi tên mà tôi có ngoài đời thực. Một con côn trùng bay đến và khai phá cơ thể tôi hẳn là biểu trưng cho ánh mắt ý nhị của chị. Những điều này không thể không liên quan đến việc chị đã mở cửa lòng cho tôi. Nó không phải là lời nói trực tiếp, và nếu có một cái gì đó xảy ra giữa chúng tôi, nó cũng không nên quá trực tiếp. 

    Tôi nhận ra, trong vô thức mình cũng đã tỏ bày với chị theo một cách gián tiếp như vậy. Tôi đã kể cho chị về hình ảnh con mèo. Việc con mèo rời khỏi nhà để đi tìm tình yêu vào phút lâm chung chính là giả định tôi đặt ra sau khi xem một bộ phim. Bộ phim đó được kể với góc nhìn của một con mèo. Khi chủ nó nhốt mình trong nhà vì trầm cảm và rốt cuộc chết đi như một cái cây bị bứng gốc nhưng không một ai mảy may phát hiện, nó cũng bị bỏ đói trong một thời gian dài. Đến một lúc, nó cảm thấy bản thân đã yếu dần và những ký ức của nó được trải ra và nhìn ngắm, nó bị một nỗi sợ hãi bao trùm. Cả cuộc đời nó chưa gặp được ai ngoài người chủ hiện giờ đang nằm bất động và rục ra giữa nhà. Nó chưa bao giờ muốn được nhìn thấy bởi một con người hay một con mèo nhiều như lúc này. 

    Còn tôi đã được chị nhìn thấy. Tôi không còn sợ mình sẽ chết đi như một cái cây bị bật gốc. 


    Cành hoa hồng vẫn nằm gọn lỏn trong cặp tôi, nở rộ hơn cả lúc tôi vừa mua nó. Ngay cả với một việc tưởng chừng đơn giản nhất, tôi cũng không thể hoàn thành khi đối diện với chị. Những năm tháng tuổi hai mươi chị đã trải qua và sự thật rằng chị đã đáp lại tất cả những trách nhiệm mà cuộc đời này trao phó làm tôi cảm thấy mình như một thằng nít ranh vẫn còn trong bọc điều. Điều duy nhất mà tôi biết mình có thừa khả năng để làm tốt chính là ngồi chết một chỗ ngắm nhìn chị. Tôi có thể dành tất cả hai mươi tư tiếng trong một ngày để ngắm chị, và đó chắc hẳn là hai mươi tư giờ đáng sống nhất cuộc đời tôi. Tôi chợt nảy ra ý tưởng có lẽ bông hoa hồng là thế thân của chị, vì tôi không thể nào bám lấy chị hai mươi tư trên bảy. Nhưng trước tiên, tôi cần tìm một chiếc bình vừa vặn, châm nước rồi đặt nó vào đó.

    Tôi bước ra lại gian bếp. Đó là một khu bếp vốn đã khá nhỏ, càng chật hẹp hơn với mớ đồ đạc chồng chất nghẹt cứng bên trên. Những bức tường đã bị khói tô dậm một màu xám xịt đến tận trần nhà. Bình thường tôi không để ý, nhưng cái quạt thông gió âm tường đặt trên bếp không hiểu vì sao lại trắng sáng một cách lạ lùng. Tôi cũng không nghe tiếng rù rù quen thuộc của chiếc tủ lạnh. Dường như nhà tôi đã mất điện. Trừ tôi ra, dòng chảy của mọi vật chất trong nhà đã bị gián đoạn. Dù vậy, da tôi mát lạnh như được ướp trong một thùng đá. Giống như toàn bộ sinh khí của căn nhà đã bị rút cạn, còn tôi thì bất đắc dĩ trở thành một linh hồn dạo chơi ở cõi chết. 

    Cành hoa trên tay tôi lúc này là thứ duy nhất mang màu sắc của sự sống. Tôi lục tủ bếp tìm chiếc bình gốm thắt eo màu trắng có hoạ tiết hoa sen, nhưng nó đã biến đi đâu mất. Thay vào đó, tôi thấy một cái ly thuỷ tinh nhỏ bị cất sâu trong kẹt tủ. Cái ly có màu xanh đùng đục giống màu vỏ chai thuỷ tinh. Nó thật không phù hợp với một cành hoa hồng cao nghệu và mỏng manh. Tôi lại nghĩ về tình thế của mình khi tiếp cận chị, cũng khập khiễng như bông hoa cắm vào cái ly kia, rồi tôi thấy nhẹ nhõm khi trông chúng cũng có một nét đẹp riêng, dù không giống gì với một sự kết hợp điển hình. Tôi định bụng sẽ đem nó vào phòng ngủ, nhưng rồi quyết định nán lại mở tủ lạnh ra vì cơn đói đã bắt đầu rên rỉ từ đáy dạ dày tôi. 

    Từ phòng ngủ phát ra âm thanh rọt rẹt, tôi im lặng lắng nghe vài giây để biết chắc đây không phải là hoang tưởng vì đói. Tôi không nhầm. Điện thoại di động của tôi rung lên một cách khẩn khoản, cứ như sẽ có chuyện kinh khủng xảy ra nếu tôi không nhấc máy ngay lập tức. Tôi chạy nhanh vào phòng, dòng chữ hiện lên màn hình điện thoại kéo tôi quay trở về mặt đất nơi hai chân mình đang đặt lên. Lẫn trong tiếng léo xéo không rõ của những ai là âm thanh đứt quãng của ba tôi. Ông nói như không thở nổi, chỉ thốt ra được một vài từ trước khi cổ họng bị bít tắc một quãng lâu. Tôi nghe được loáng thoáng mẹ tôi bị cơn đau dạ dày hành hạ khiến bà choáng váng khi vừa ngủ dậy, và cơn choáng một lần nữa mai phục làm bà ngã xe trên đường đi chợ một mình.  

    Tôi thấy mọi thứ xung quanh chao đảo tầm một giây. Sau một giây đó, mọi thứ bỗng trở nên khác lạ. Giống như tôi vừa có được toàn bộ ý thức của mình. Như trước giờ tôi chỉ sống với một nửa sự tỉnh thức, và chỉ sau cuộc điện thoại đó tôi mới được đánh thức hoàn toàn. Tôi nhận thức được sự tồn tại của mình ở ngôi nhà này. Sự hiện diện của một khối gọi là gia đình đang bị đe doạ. Tôi nhận ra những cá thể này khi bị tách rời sẽ náo loạn và mất phương hướng biết chừng nào.

    Mẹ tôi nằm trong bệnh viện năm ngày sau đó. Bà ăn uống khó khăn, cứ như có một sinh vật nào đó phát triển trong bà, ra sức đẩy tất cả những thứ bà chật vật nuốt vào ra ngoài. Suốt khoảng thời gian đó, tôi thay ba chăm sóc bà, còn ba tôi thay bà chăm sóc trại gà của gia đình. Ông chưa bao giờ phải làm mọi thứ một mình, và hẳn ông đã từng ít nhất một lần có suy nghĩ thoáng qua rằng sẽ thật tốt nếu được làm mọi thứ một mình. Thế nhưng khi gọi điện thoại cho tôi, ông nói rằng cuộc sống không giống như cuộc sống khi thiếu đi tiếng càm ràm của mẹ tôi. Ông cảm thấy như trên đời này chỉ còn mỗi ông, và điều đó thực sự đáng sợ như chính ông đang đối diện với cái chết. 

    Tôi là người duy nhất giữ phiếu thăm nuôi bệnh nhân. Mỗi khi có người đến thăm mẹ tôi, tôi lại lầm lũi men theo con đường nhỏ bên hông bệnh viện, đi qua bãi gửi xe phụ, trình thẻ ở một cánh cổng hẹp được rào lại bằng dây xích rồi dẫn người đó vào trong theo một hành trình ngược lại. Khi buổi thăm nom kết thúc, tôi lại dẫn người đó ra ngoài rồi một mình trở về phòng bệnh của mẹ tôi. Tuy ngắn ngủi nhưng đó là những giây phút tôi yêu thích nhất suốt những ngày đằng đẵng bị vây quanh bởi những nỗi lo lắng sực nức khắp cùng nơi đây. Con đường đó cho phép tôi tạm ngưng đối diện với sự thật xót xa rằng mẹ tôi đang phải chịu đau đớn một mình dù bình thường bà là người luôn tìm cách tạo ra sự thoải mái cho gia đình tôi. Đi hết con đường đó, cảm giác tội lỗi và đau xót đè nặng trái tim tôi khiến tôi thấy như dành toàn bộ cuộc sống của mình để bù đắp cho người phụ nữ này dường như vẫn là không đủ.  

    Trong thời gian bị giam lỏng ở bệnh viện, tôi vẫn thường xuyên nghĩ về chị. Tôi nghĩ đến chị hầu như ở mọi ngóc ngách mà tôi có mặt. Tôi không còn ngại ngùng với chính suy nghĩ của mình dù ở trong một không gian đông kín người. Tôi cho rằng nếu tôi liên tục nhớ về chị, chị sẽ phần nào cảm nhận được điều đó. Tôi có một niềm tin rằng những xúc cảm này sẽ được truyền đến chị theo nhiều dạng – đôi khi là một chiếc lá khô sượt ngang qua tay chị khi rơi xuống, hay cũng có thể là những hạt mưa trượt dài trên khuôn mặt chị. Dù là bằng hình thức nào, tôi gần như chắc chắn rằng chị sẽ cảm nhận được tôi vẫn đang ở đây với chị, dù không xuất hiện trước mặt chị. 

    Ngày thứ năm kể từ khi mẹ tôi nhập viện, thần sắc của bà đã tốt lên kha khá. Bà đã bắt đầu nằn nì tôi đi mua những món bên ngoài vì không còn chịu nổi đồ ăn của bệnh viện. Bà cũng gọi hỏi ba tôi kỹ lưỡng từng người đặt gà và số lượng bán trong suốt thời gian bà đi vắng. Ba tôi dù vô cùng vui mừng khi nghe tin mẹ tôi được xuất viện vào ngày mai, ông cũng không khỏi lo lắng về việc nhà cửa đã chưa được lau dọn từ thời điểm cuối cùng mẹ tôi ở nhà. Ông cuống cuồng hỏi về chỗ để nước lau sàn, tấm ga giường mới cất ở đâu. Lần đầu tiên ông tự quyết định những việc cần thiết phải làm đối với căn nhà mà mình đã ở từng ấy năm. 

    Tôi như lại rơi vào trạng thái tỉnh thức một nửa trong đêm cuối cùng ở bệnh viện. Tôi không khỏi mường tượng ra thời khắc tôi được chạm mắt với chị. Khuôn mặt nhỏ nhắn và sắc lạnh đó khiến tôi chỉ muốn áp hai tay lên, làm cho tan chảy ra ngay lập tức. Đây là lần-không-gặp lâu nhất kể từ khi tôi biết chị đến nay. Tôi không muốn chị quên đi sự hiện diện của tôi. Tôi còn tham lam hy vọng chị sẽ mừng rỡ khi lại bắt gặp tôi. Tôi muốn ánh sáng từ đáy mắt chị bị lấp đầy bởi hình ảnh của tôi. Tôi muốn mình là một vết hằn trên vỏ não của chị. Tôi muốn mình bất chợt hiện ra trong tâm tưởng của chị vào một thời điểm mà chị không ngờ tới nhất, khiến chị phải tự hỏi điều đó mang ý nghĩa gì. 

    Khi màn đêm đã buông xuống dày cộp, tôi choàng lấy giấc ngủ của mình bằng một tấm vải lớn kết bởi những ký ức về chị. Sự êm ái nhanh chóng kéo tôi vào giấc ngủ, nhưng không được bao lâu thì tôi bị tấn công bởi những tiếng lách tách nhột nhạt bên tai. Cái nóng đã lẻm gọn những tấm màn vải và cái tủ gỗ trong phòng khi tôi vừa mở mắt. Trước khi nhận ra mình đang ở đâu, tôi đã dịch chuyển tức thời đến giữa một cái gian gần như không thấy được bất cứ thứ gì ngoài ánh lửa phập phồng và khói ngồn ngộn. Tôi quay lại phía sau, căn phòng ngủ quen thuộc của mẹ tôi vẫn đóng cửa im ỉm. Tôi đập mạnh mà chẳng thấy hề hấn gì nên dùng mũi chân đá vào chiếc cửa nhôm. Mặc cho âm thanh đinh tai của chiếc cửa bị đá đến móp méo, không có động tĩnh gì từ phòng ngủ của mẹ tôi. Bên ngoài cửa sổ là tiếng mưa rơi đồm độp. Nó thật đối nghịch với sự nóng rát bên trong nhà nơi tôi đang đứng – hoặc lơ lửng. Tôi vào nhà tắm và múc một gáo nước đầy từ xô nước lạnh. Nhìn dòng nước sóng sánh, tôi chợt thấy khát khô cổ rồi giật mình tỉnh giấc. Mưa vẫn rơi lâm thâm bên ngoài màn đêm xám đen. 

    Ba tôi thuê một chiếc ô tô bốn chỗ đậu ở một bãi xe gần bệnh viện, yêu cầu tài xế chờ ông làm thủ tục xuất viện xong thì đến trước cổng. Dường như hài lòng với sự sắp xếp chu đáo này, trán mẹ tôi không còn thấy hằn những nếp nhăn vì cau có như mọi khi. Mẹ tôi có một thói quen khó sửa – hoặc theo mẹ tôi thì không cần sửa – là tìm ra điểm bất cập trong những thứ mà ba tôi làm. Dường như những ngày mẹ tôi không thể làm gì ngoài chôn chân trên chiếc giường bệnh đã khiến bà có một niềm tin sâu sắc hơn vào ba tôi, nếu không muốn nói là bà bị buộc phải như thế. 

    Sau giấc mơ đêm qua, tôi thức dậy với cơ thể đầm đìa mồ hôi. Cái nóng vẫn bám riết lấy tôi như một con vắt đã cắm phập hàm răng dày vào khối thịt tươi. Nhưng tôi không phải loay hoay quá nhiều về những hình ảnh trong giấc mơ. Tôi chỉ biết mình sẽ được giải thoát khỏi đây, nơi chỉ có mùi của nỗi khổ sở bị lên men lâu ngày. Niềm vui sướng đến nghẹn ngào này là một trong những thứ tôi chưa từng hình dung trước đây. Cơ thể tôi phản ứng với mọi dòng chảy xung quanh. Giống như tấm pin năng lượng mặt trời tự sản sinh ra dòng điện, chỉ cần ánh nắng chiếu vào cũng đủ làm tôi râm ran khắp cùng cơ thể. Tôi sẽ bắt đầu quay trở lại trường học vào ngày mai, nhưng đó không phải là việc tôi quan tâm hàng đầu. 

    Giờ đây, tôi sẽ đến trước chỗ chị và đường hoàng đứng bên cạnh chị. Tôi sẽ hỏi chị từng câu một, về chị và về từng chi tiết trong cuộc sống của chị. Tôi không muốn hoài phí thời gian vào sự do dự. Tôi biết chị đã chấp nhận tôi. Tôi biết con côn trùng đó đã lặng lẽ vẽ một chỉ dấu lên người tôi, cho phép tôi hành động cả quyết hơn nếu tôi thực lòng muốn đập tan bức tường định kiến. Tôi đương nhiên muốn đến gần hơn với chị. Mọi thứ sẽ dễ dàng chìm xuống đáy sâu của một con sông lớn và nằm im lìm ở đó nếu tôi còn chần chừ không với tay ra bắt lấy. 

    Tôi nhớ về cơn mưa phùn vào một ngày cuối tháng Mười. Trừ những toà nhà phía xa xa đã nhợt màu đi dưới màn mưa, hình ảnh của vạn vật đều nguyên xi như nó vốn là. Ấy vậy mà tôi không khỏi có cảm giác xa rời thực tế. 

    Ở bên cạnh, người phụ nữ đẹp nhất trên đời đang dịu dàng tựa đầu lên vai tôi.

    Lúc này, nó gần giống như một cơn mơ. Một cơn mơ mát rượi và êm ái.

  • Chương 1

    Tiểu thuyết:

    CHO THUÊ HẠNH PHÚC

    Tác giả: Huỳnh Mẫn Chi

    1.

    Thành phố khác lạ, tĩnh lặng trong tiết xuân ấm áp. Ngoại thành mỗi sáng vẫn một sắc diện, mơ hồ chìm trong làn sương mỏng manh. Ngày mưa hay ngày nắng, đêm cũng như ngày, khu đô thị mới dù khá khang trang nhưng lại rất vắng lặng. Thục Mỹ tự lái xe hơi đến cơ quan. Cuộc sống người dân nơi đây phần đông khá an nhàn và thanh bình. Họ đã quen thuộc hình ảnh của Thục Mỹ. Một cô gái ấn tượng mọi người là rất đẹp, lại là nữ giám đốc còn khá trẻ. Công việc chính của Thục Mỹ là điều hành công ty kinh doanh dụng cụ y khoa và thiết bị y tế.

    Nét mặt căng thẳng, Thục Mỹ bước vào công ty với đôi chân uể oải. Gương mặt cô mệt mỏi, hằn sâu chằng chịt nỗi lo toan đã xuất hiện nhiều tháng nay. Người thân nhìn Thục Mỹ với ánh mắt khó hiểu, lo lắng.