Category: Uncategorized

  • Thời Đại Biến Mất

    Lớp học Lịch sử hôm nay của các tân sinh Học viện Pháp thuật Levart đang khá náo nhiệt. Lí do đơn giản là vì giáo sư đứng lớp có việc đột xuất không thể đến. Thay vào đó, người sẽ dạy cho các tân sinh về lịch sử của lục địa Manteiv trong buổi học này là ngài Cố vấn Chánh. Ngài ấy vừa là viện trưởng của Học viện Pháp thuật Levart, cũng đồng thời là cố vấn của Hoàng gia DAS, đang cai trị vương quốc Souast hiện tại.

    – Tao nghe nói hôm nay ngài cố vấn sẽ dạy cho chúng ta. Nghe là biết thú vị hơn ông giáo sư chán òm kia rồi. Trước khi đi học, tao cũng dò hỏi các đàn anh khác về các giáo sư ở đây.

    Một tân sinh vừa cười vừa vỗ tay đôm đốp với đứa bạn ngồi cạnh bên.

    – Chứ sao nữa! Đâu phải lúc nào cũng có cơ hội được học từ ngài viện trưởng đâu. Chỉ tiếc là hôm nay lại học lịch sử chứ không phải các môn về ma thuật.

    Một tân sinh khác tỏ vẻ tiếc nuối, nằm ườn ra trên bàn học. Cũng không thể nào trách hoàn toàn suy nghĩ của cậu tân sinh này. Hiện tại, Cố vấn Chánh chính là vị pháp sư hàng đầu của vương quốc Souast nói riêng và là một trong năm pháp sư bậc chín của cả lục địa Manteiv nói chung. Ngoài ra, Cố vấn Chánh còn là Hội trưởng Hội nghiên cứu Lịch sử Manteiv và lượng kiến thức của ngài ấy là không cần bàn cãi.

    – Đáng lẽ chúng ta đã được gặp ngài viện trưởng lúc khai giảng rồi ấy! Nghe đâu ngài ấy có bộ râu trắng dài đến thắt lưng, luôn đội cái mũ chóp nhọn cao thiệt cao cùng tông với chiếc áo choàng pháp sư màu xanh nước biển. Nghe thôi là toát lên khí chất của một pháp sư bậc chín rồi.

    – Chỉ từ năm hai trở đi chúng ta mới được học với ngài viện trưởng thôi. Mà chúng ta thật sự may mắn khi được học với ngài ấy ngay ở năm nhất… dù chỉ là một buổi. Còn hôm khai giảng, nghe đâu là do ngài ấy đang bận bàn bạc với Nữ hoàng đó.

    Cánh cửa lớp học mở ra. Tiếng xì xào bàn tán như tiếng ong vỡ tổ bỗng chốc im lặng ngay lập tức. Một người đàn ông bước vào chậm rãi.

    Ông mặc chiếc áo sơ mi trắng đã ngả nhẹ theo thời gian, cổ áo cài kín, thắt một chiếc cà vạt đơn giản sáng màu. Bên ngoài là áo khoác dài màu tối, kiểu dáng gần với một học giả hơn là một pháp sư. Trên tay ông là một quyển sổ đen dày cộm không có tên, bìa sổ bằng da đã sờn cũ theo vết thời gian. Lơ lửng quanh ông là một cây trượng đen dài, bề mặt nhẵn lì sáng bóng, đối nghịch rõ rệt với quyển sổ trên tay.

    Không hào nhoáng, không lấp lánh, không có mũ chóp cao hay áo choàng màu xanh nước biển như các tân sinh đã tưởng tượng về vị viện trưởng. Chỉ có một sự giản dị bình thường nhưng chính sự giản dị đó lại khiến người khác khó mà rời mắt.

    Gương mặt ông hiện rõ dưới ánh sáng đầu ngày hắt qua ô cửa sổ. Không sắc sảo nhưng cũng không dữ dằn. Ngược lại, đó là một gương mặt tròn vừa phải cùng với làn da đã hiện hữu dấu hiệu của tuổi tác. Những nếp nhăn mảnh tụ lại nơi khóe mắt và hai bên miệng. Lạ lùng thay, những nếp nhăn ấy lại không làm ông già đi mà khiến nụ cười của ông có vẻ gì đó khá kì lạ. Nhưng đó là một nụ cười hiền từ.

    Vầng tráng cao, sống mũi thẳng, gò má đầy đặn tạo nên một cảm giác của người từng trải nhưng cũng không quá khắc khổ. Đôi môi mỏng, luôn giữ một độ cong nhẹ như thể ông đang lắng nghe một điều gì đó mà người khác không thể nghe thấy.

    Nhưng thứ khiến người ta tránh phải nhìn lâu lại là đôi mắt. Ẩn sau cặp kính mỏng, mắt ông không hề sắc. Rất bình lặng tựa như mặt hồ không chút gợn sóng. Chính vì quá bình lặng lại tạo ra một cảm giác như đang nhìn vào mặt hồ sâu không thấy đáy.

    Không để lộ bất kì cảm xúc nào, ông nhẹ nhàng dừng lại trước bục giảng. Một vài tân sinh vô thức rùng mình khi nhận ra bản thân vừa cố đoán xem ông đang nghĩ gì và thất bại. Dường như họ đã đụng trúng một bức tường chắn vô hình và bị phản đòn, khiến họ hơi tê dại một chút. Phải biết rằng, để được vào Học viện Pháp thuật Levart này, các tân sinh năm thứ nhất đã trải qua một khoảng thời gian học tập kiến thức lâu dài cùng ba cuộc thi lớn. Những ai hoàn thành cuộc thi lần thứ ba còn phải vượt qua khảo nghiệm đầu vào của Levart mới được trở thành tân sinh tại đây. Về cơ bản mà nói, thì những tân sinh này cũng có chút ít năng khiếu về ma pháp. Ở nơi nào cũng vậy, luôn có những người tài giỏi hơn người khác một chút và họ luôn nghĩ rằng, mình sẽ làm được những điều mà người khác không làm được. Chẳng hạn như việc dám dò xét ý nghĩ của người đàn ông đối diện. Nhưng người đang đứng trên bục giảng này vừa là Viện trưởng vừa là Cố vấn Hoàng gia và là pháp sư tầng chín.

    Cố vấn Chánh đưa tay nắm lấy cây trượng đen đang lơ lửng, gõ nhẹ xuống nền đất. Một tiếng “cộc” rất khẽ vang lên. Tất cả tân sinh, không ai bảo ai, đều đồng loạt ngồi thẳng lưng. Ngài cố vấn đưa tay chỉnh nhẹ gọng kính. Ánh mắt lướt qua từng người, chậm rãi, chính xác như thể đang đọc từng trang sách trước mặt.

    – Lịch sử… không phải là thứ để học thuộc như một con vẹt. – Ông nói, giọng trầm ấm, rõ ràng và vang vọng khắp cả khán phòng.

    – Lịch sử là thứ mà các con phải biết, luôn hiện hữu mọi lúc mọi nơi trong não bộ của mình. – Ông bước tới bàn giáo viên, đặt quyển sổ đen lên bàn và vẫn tiếp tục lời mở đầu.

    – Lịch sử phải được hiểu rõ như chính cách mà các con hiểu về gốc năng lượng ma pháp của bản thân… nếu không muốn lặp lại sai lầm như người đi trước.

    Ngài cố vấn ngừng lại, nhìn quanh một lượt các tân sinh đang còn ngơ ngác bên dưới một lần nữa. Sau đó, ông lật giở quyển sổ đen mà mình đem theo rồi ngừng lại ở một trang đã được đánh dấu từ trước.

    – Ngày hôm nay, ta sẽ không dạy các con với những kiến thức có trong sách hướng dẫn, việc này là của giáo sư Noat. Buổi học này sẽ xem như là một buổi chia sẻ đặc biệt với riêng các con thay cho lời xin lỗi của ta vì đã vắng mặt trong ngày khai giảng.

    Ngài cố vấn đứng lên rồi nhẹ nhàng cúi người về phía các tân sinh. Hành động này khiến tất cả tân sinh đang còn ngơ ngác về lời nói vừa nghe, chuyển sang bất ngờ về hành động vừa thấy. Vài em còn đang bối rối không biết phải cư xử ra sao thì một tiếng vỗ tay không biết từ đâu vang lên, rồi kéo theo hàng loạt tiếng vỗ tay khác, cuối cùng là cả khán phòng đều đứng lên vỗ tay cho hành động của ngài cố vấn.

    Ngài ấy cũng khá bất ngờ trước việc này, khuôn miệng nở một nụ cười nhẹ nhàng rồi ra hiệu cho khán phòng dừng lại và ngồi xuống. Tiếng vỗ tay vừa dứt thì ngài cố vấn vẫy nhẹ tay trái, một làn khói mờ xuất hiện cạnh bên, từ từ lan rộng che phủ hoàn toàn tấm bảng đen phía sau, dàn trải dần thành một hình chữ nhật to lớn. Đường viền của hình chữ nhật dần cô đọng lại, bên trong thì trở nên phẳng lặng như mặt nước hồ và hình ảnh dần dần xuất hiện.

    – Ngoại trừ Hoàng gia DAS và các giáo sư của học viện Levart… – Ngài cố vấn dừng lại một chút, – thì các con chính là nhóm thứ ba sẽ được biết thông tin này cho đến hiện tại. Và dĩ nhiên, những tin này sẽ được phổ biến rộng rãi sau đó không lâu, ít nhất cũng là khoảng nửa tháng nữa nên các con hãy tự hào về điều này so với các đàn anh, đàn chị năm hai trở lên nhé.

    Tiếng ồn ào bàn tán lại xuất hiện vì những gì được nghe từ ngài viện trưởng.

    – Rồi! Im lặng nào! Trước tiên thì cho ta hỏi, ở đây, có ai biết rõ về lục địa chúng ta không?

    Ngài cố vấn nhìn quanh khán phòng một lượt, trông chờ vào một cánh tay nào đó giơ lên trả lời câu hỏi của mình. Trên màn hình nước lơ lửng hình chữ nhật, hiện lên một tấm bản đồ về lục địa Manteiv – một lục địa có hình dáng của một chữ S mềm mại.

    – Dạ, thưa… – Một giọng nói ấp úng vang lên khe khẽ từ hàng ghế đầu.

    – Đừng câu nệ hình thức, con cứ gọi ta là thầy. – Dường như hiểu được suy nghĩ của nữ tân sinh cuối lớp, ngài cố vấn nhẹ nhàng đáp lời. – Con trả lời ta biết xem nào.

    – Dạ, thưa thầy! – Sau khi được ra hiệu trả lời, cô bé liền đứng lên phát biểu ngay. – Dạ, lục địa chúng ta tên là Manteiv, bao gồm sáu vương quốc khác nhau. Nơi chúng ta đang sinh sống là vương quốc Souast, thủ đô là thành phố Nogias. Nằm ở vùng hạ lưu sông Nogias trù phú, Souast của chúng ta là điểm dừng chân cuối cùng của mọi dòng chảy tinh hoa trước khi tiến vào vùng sương mù Meridel. Chúng ta sở hữu những bến cảng không bao giờ ngủ, nơi tài lộc từ khắp các nơi đổ về theo những dòng phù sa màu mỡ nhất.

    Cố vấn Chánh khẽ gật đầu nhưng ánh mắt của ông lại sâu thăm thẳm. Dường như ông đang che giấu một sự thật nào đó mà những tân sinh bên dưới chưa bao giờ được biết đến.

    – Nhưng thưa thầy, điều khiến Souast vĩ đại không chỉ là vàng bạc mà là sự bảo hộ của vương triều DAS. Nhờ sự giàu có và quyền năng che chở, chúng ta là vương quốc duy nhất mà người dân có thể ngủ yên giữa những lớp tường thành kiên cố, không phải lo sợ bão cát hay thú dữ. Souast là trung tâm của văn minh, nơi mọi thứ tốt đẹp nhất của lục địa đều khao khát được quy tụ về! Lâu đài Hoàng gia DAS đang ở trung tâm của Nogias và nơi này được gọi là Quận Hoàng Gia, hay Quận DAS hoặc một cái tên khác là… – Nữ sinh ngập ngừng đôi chút.

    – Không sao! Con cứ trả lời tự nhiên theo con biết. Ta sẽ không trách mắng hay la rầy con điều gì đâu. – Ngài cố vấn nhẹ nhàng trả lời cùng cái nhìn trìu mến.

    – Dạ vâng ạ! Cái tên này con cũng được nghe khi đang đi loanh quanh dưới phố. Không riêng gì những người bán hàng mà gần như đa số người dân đều sử dụng là Quận Phú Nhuận…

    – Con cứ tiếp tục. – Trong một thoáng chốc, dường như không ai để ý, gương mặt của ngài cố vấn khẽ chau mày khi nghe thấy cụm từ “Quận Phú Nhuận”. Tuy nhiên, không để gián đoạn lớp học, ông lại thay đổi thái độ rất nhanh chóng.

    – Dạ! Từ lâu đài, di chuyển về hướng tây khoảng bốn cây số chính là Học viện Pháp thuật Levart của chúng ta. Cũng từ lâu đài nhưng đi về hướng ngược lại tức là hướng đông, khoảng gần ba cây số sẽ là khu rừng nổi tiếng – Rừng Tịch Mịch.

    – Tuyệt vời con gái ạ! Tổng thể thì con có một góc nhìn về Souast rất đáng tự hào. – Ông khẽ nhận xét, rồi đột ngột xoay người, ánh mắt nhìn quanh một lượt sau khi ra hiệu cho cô bé ngồi xuống. – Có ai cho ta thấy một góc nhìn ở nơi khác không?

     Từ phía cuối lớp học, nơi ánh nắng ban mai chỉ chiếu rọi được chút ít, một nữ tân sinh giơ tay xin phép. Trên cổ tay cô là một chiếc nanh lợn lồi chạm khắc cổ tự và làn da bánh mật dường như vẫn còn vương mùi nắng của những thảo nguyên đất đỏ.

    – Thưa thầy, – cô tân sinh Highcoast bắt đầu, giọng nói không dịu dàng, rụt rè như nữ sinh ban nãy mà vang vọng, khỏe và có đôi chút hoang dã. – Nếu người Souast tự coi mình như trái tim, thì Highcoast chúng con chính là xương sống và lá phổi của lục địa này.

    Cô vung tay về phía bản đồ, chỉ vào vùng cao nguyên rộng lớn phía Tây.

    – Hạ lưu sông Nogias trù phú mà bạn vừa nhắc tới, từng giọt nước phù sa đó đều bắt nguồn từ những đỉnh núi mờ sương của vương quốc chúng con. Người Highcoast không ngủ trong những lớp tường thành san sát vì chúng con có đại ngàn bao bọc. Chúng con không tích trữ vàng bạc vì báu vật của chúng con nằm ở những đàn voi chiến hùng mạnh, có thể nghiền nát đá tảng và những hạm đội tàu rồng lướt đi nhanh hơn cả gió biển phía Đông.

    Cô gái khẽ hất cằm, ánh mắt rực lửa nhìn về phía hàng ghế đầu.

    – Ba con bảo, vàng bạc có thể bị đánh cắp nhưng sự tự do của đại ngàn và bản lĩnh của những thợ săn biển cả thì không. Chúng con không cần sự che chở của ai cả. Highcoast đứng ở nơi cao nhất để canh giữ bờ cõi, cung cấp từ gỗ quý, voi chiến đến những viên hồng ngọc đỏ nhất cho vương quốc này. Nếu Souast là biểu tượng của văn minh, thì Highcoast chính là nguồn sức mạnh nguyên thủy nhất giữ cho lục địa này không sụp đổ!

    Một sự im lặng bao trùm lớp học. Sự đối lập giữa vẻ đài các của Souast và sự phóng khoáng của Highcoast tạo nên một sự căng thẳng trong khán phòng. Cố vấn Chánh khẽ nhếch môi, một tia sáng thú vị lướt qua đôi mắt ông.

    – Sức mạnh nguyên thủy… – Ông lặp lại, âm thanh như tiếng gió rít qua khe đá. – Ta bổ sung thêm một chút về Highcoast. Đây là nơi cung cấp một thứ nguyên liệu, tạo ra thức uống mà ta yêu thích, đó là “Cà phê”, một thức uống giúp chúng ta tỉnh táo và… giải quyết sự chất chứa lâu ngày.

    Ngài cố vấn khẽ mỉm cười, tay xoa xoa vào bụng của mình.

    – Vậy còn “Bức tường thép” ngăn cách các con với phương Bắc lạnh lẽo thì sao? Các cậu con trai của đất Norcenco, các con thấy mình nằm ở đâu trong cán cân này?

    – Thưa thầy, lời của hai bạn nghe thật hào hùng, – cậu thiếu niên đứng dậy, thanh âm khô khốc như tiếng gươm tuốt ra khỏi vỏ. – Nhưng với tư cách là con của một thương đoàn thường xuyên phải đánh cược mạng sống trên các con lộ, con thấy cả vàng bạc lẫn voi chiến đều sẽ trở nên vô nghĩa nếu không vượt qua được cái “eo thắt cổ chai” mang tên Norcenco.

    Cậu chỉ tay vào dải đất hẹp nhất trên bản đồ. 

    – Norcenco không có đại ngàn vô tận, cũng chẳng có bến cảng vàng son. Đây là vùng đất của nắng cháy da và bão tố to lớn vô ngần. Chính sự khắc nghiệt đó đã rèn nên thứ Thép Lam cứng nhất lục địa mà quân đội hoàng gia DAS đang dùng. Ông con bảo, Norcenco là “Bức tường thép”. Chúng con kiểm soát những con đèo hiểm trở đến mức chỉ cần một toán nhỏ lính kỵ binh cũng đủ chặn đứng cả một vương quốc. Nếu Highcoast là đôi cánh thì Norcenco chính là bộ giáp. Không có bộ giáp này, phương Nam từ lâu đã bị cái lạnh lẽo của phương Bắc nuốt chửng.

    Cố vấn Chánh khẽ gật đầu, ánh mắt ông dời lên phía trên, nơi dải đồng bằng rộng lớn hiện ra.

    – Một bộ giáp kiên cố. Vậy còn Reverdel? Vùng đất của những con đê vĩ đại và những thành phủ uy nghiêm?

    Một tân sinh khác đứng dậy, giọng nói mang âm hưởng của tầng lớp học giả.

    – Dạ thưa thầy, Reverdel không chỉ là đồng bằng. Đó là vương quốc của những “Đại đô thị liên minh”. Khác với Souast có Nogias, Highcoast có Danan, Norcenco có Hue thì Reverdel là sự hợp lực của hai thành phủ khổng lồ – một nằm sâu trong đất liền để giữ gìn đạo học – Ionah, một nằm sát biển để canh giữ cửa ngõ đại lục – Hafon. Mẹ con gọi đó là “Song trụ của Reverdel”. Nơi đây, phù sa sông Rever kết lại thành những con đê vững chãi như núi, nuôi dưỡng đội quân chính quy thiện chiến nhất, những kẻ biết biến lúa gạo thành sức mạnh và biến kiến thức thành vũ khí.

    – Rất tốt! Nhưng ta tiếp tục bổ sung, ở vùng Reverdel, rất nổi tiếng về một loại rượu được làm từ “gạo hoa vàng”.

    Ngài cố vấn khẽ mỉm cười, rồi ông nhìn về phía cực Bắc xa xôi, nơi sương mù dày đặc bao phủ những đỉnh núi cao nhất.

    – Cuối cùng, là Nortains, – giọng ông thấp xuống, đầy vẻ tôn kính. – Nơi mà không một vương triều nào có thể đặt nền móng cai trị trực tiếp. Nortains không có một kinh đô duy nhất, mà là sự quần tụ của các “Thành bang ẩn sĩ”. Mỗi thung lũng, mỗi dãy núi đá vôi là một lãnh địa tự trị, giống như những viên ngọc rời rạc nhưng bền bỉ. Họ không cần hoàng đế vì “Sương mù” và “Tứ đại đỉnh đèo” đã là những vị thần bảo hộ tối cao của họ rồi. Ở đó, người ta không gọi mình là dân của một vương quốc nào đó, họ là những “Chúa tể sơn cước”, tự do và bất trị như chính những cơn gió tuyết trên đỉnh Mapile.

    Sự im lặng bao trùm lớp học sau lời đúc kết của ngài cố vấn. Những tân sinh trẻ tuổi vẫn còn đang chìm trong sự kiêu hãnh về vùng đất của riêng mình. Nhưng rồi, ở hàng ghế giữa, một tân sinh có vẻ ngoài điềm tĩnh – có lẽ là một kẻ nghiện sách – giơ tay lên.

    – Thưa thầy, – cậu tân sinh ngập ngừng, – chúng ta đều đã nói về năm vương quốc, nhưng trên bản đồ, ngay dưới chân vương quốc Souast, vẫn còn một vùng đất nữa – Meridel. Ba con nói đó là nơi dòng sông Nogias đổ về nhưng không bao giờ thoát ra biển được nữa. Tại sao trong lịch sử và quân sự, Meridel lại… không có tiếng nói nào? Hay đúng hơn là phải nói nơi ấy tách biệt hoàn toàn?

    Cố vấn Chánh khựng lại. Nụ cười nhàn nhạt trên môi ông tan biến, thay vào đó là một vẻ nghiêm nghị đến lạnh người. Ông ra hiệu cho cậu tân sinh ngồi xuống, rồi ông tiến lại gần bản đồ, che khuất phần hạ lưu trù phú của Souast bằng bóng lưng mình.

    – Ở đây có ai là con cháu trong các thương đoàn Souast giao thương với Meridel không?

    – Dạ, thưa thầy, – một cậu tân sinh ngồi gần cửa sổ đứng dậy, chỉnh lại cổ áo một cách tự tin. – Mỗi tháng chỉ có hai lần vào ngày Trăng Non – ngày đầu tháng và Trăng Rằm – ngày giữa tháng, bến cảng nổi tại biên giới Souast và Meridel mới mở cửa. Phía vương quốc chúng ta gọi nơi đó là “Thành phố Sương Mù” – quanh năm luôn có sương mù che kín cho đến khi mở cửa, hay “Thành phố Nổi” – tất cả giao dịch đều thực hiện trên xuồng ba lá hoặc các căn nhà nổi trên mặt nước. Nhưng những kẻ trùm kín mít từ phía bên kia lại gọi nơi đó bằng cái tên: Cái Răng. Ba con kể rằng, cái tên đó là ngôn ngữ cổ của họ, mang một ý nghĩa mà chúng ta không bao giờ hiểu hết.

    Cậu thiếu niên hạ thấp giọng, vẻ huyền bí bao trùm lấy những dãy bàn học trong khán phòng.

    – Thành phố Sương Mù là một thành phố không chân, toàn bộ là những bè nổi khổng lồ nằm ngay trên đường biên giới mặt nước. Khi sương mù sông Nogias dày đến mức nuốt chửng cả ánh đuốc, họ sẽ xuất hiện từ trong màn sương trên những chiếc xuồng ba lá lướt đi không tiếng động. Điều kỳ lạ là khi giao dịch với các thương đoàn, họ vẫn sử dụng ngôn ngữ của chúng ta nhưng mang một âm hưởng lành lạnh mà rành mạch đến đáng sợ. Nhưng ngay khi quay sang nhìn nhau, họ lại trao đổi bằng một thứ ngôn ngữ kỳ lạ như tiếng nước cuộn dưới mạn thuyền hay…

    – Họ nói chuyện mà như thể đang hát với nhau đúng không? – Ngài cố vấn đáp lời cậu thanh niên khi trông thấy cậu đang ấp úng tìm những từ ngữ miêu tả được ba cậu kể lại.

    Ánh mắt cậu đầy vẻ thắc mắc nhưng vẫn gật đầu lia lịa vì đồng ý.

    – Ba con kể rằng, có một lần tình cờ, một kẻ trùm choàng xám đã vô tình tiết lộ rằng Meridel vốn không phải là tên vương quốc của họ, mà chỉ là cái danh xưng do năm vương quốc chúng ta tự đặt ra. Khi ba con hỏi tên thật của vùng đất đó là gì, kẻ ấy chỉ im lặng rồi quay người rời đi.

    Cố vấn Chánh im lặng, đôi mắt ông lóe lên một tia nhìn thấu suốt nhưng không đáp lời. Ông biết rõ cái tên bí mật đó và ông hiểu rằng sự thờ ơ của họ chính là nỗi kiêu hãnh của một chủng tộc chưa bao giờ coi mình thuộc về thế giới này. Họ chẳng quan tâm người khác gọi họ là gì, bởi vì trong mắt họ, mọi sự định danh của con người đều vô nghĩa trước sự vĩnh cửu của sương mù hay một thứ gì đó khác.

    Ông khẽ xoay người, tà áo choàng lướt qua sàn đá tạo nên một âm thanh sột soạt nhẹ nhàng nhưng đầy quyền uy. Ông nhìn sâu vào mắt cậu tân sinh vừa phát biểu, rồi chậm rãi bước đến bên bệ cửa sổ, nơi có thể nhìn thấy dòng sông Nogias lững lờ trôi về phía Nam.

    – Cảm ơn con. Lời con vừa kể… chính là những gì các thương đoàn đã truyền tai nhau suốt hàng thế kỷ qua, – giọng ngài cố vấn trầm thấp, mang theo một sắc thái mà đám tân sinh không thể gọi tên. – Sự thờ ơ của họ không phải vì khinh miệt mà vì thế giới của họ vốn dĩ vận hành theo một quy luật hoàn toàn khác với chúng ta.

    Ông ngập ngừng một lát, dường như đang cân nhắc xem nên tiết lộ bao nhiêu phần sự thật cho những đứa trẻ này.

    – Về Meridel… hay bất cứ tên gọi nào khác mà họ dùng, các con chỉ cần biết vài điều cơ bản để… giữ mạng mình nếu có cơ hội đến đó. Thứ nhất, đó là vùng đất của sự cộng sinh. Ở đó, ranh giới giữa hơi thở và thiên nhiên là một. Những “người” – ông nhấn mạnh – trùm choàng xám mà các con thấy ở Thành phố Sương Mù, thực chất… họ chỉ là những sứ giả cấp thấp nhất được cử ra để giao tiếp với chúng ta. Họ có thể nói ngôn ngữ của chúng ta vì họ có khả năng mô phỏng… nhưng đó không phải là tiếng lòng của họ.

    Ngài cố vấn khẽ nắm chặt cây trượng đen của mình, ánh mắt đăm chiêu nhìn về một nơi nào đó ở phía đường chân trời rồi lại tiếp tục.

    – Thứ hai, thời gian ở Meridel không chảy theo cách chúng ta đếm bằng đồng hồ cát. Một ngày ở trong lòng những rặng đước sương mù đó có thể dài bằng cả một mùa lúa của Souast. Chỉ riêng ngày Trăng Rằm và Trăng Non là chúng ta có cùng thời gian với họ hoặc đôi khi, chính họ cho phép chúng ta có cùng thời gian vào hai ngày ấy không chừng. Đó là lý do tại sao họ không quan tâm chúng ta gọi họ là gì. Với họ, sự tồn tại của chúng ta chỉ như một cái chớp mắt của dòng sông.

    Ông dừng lại, đôi môi khẽ mím chặt.

    – Và điều cuối cùng, tuyệt đối đừng bao giờ tò mò về hình dáng thật sự ẩn dưới lớp choàng xám ấy. Có những bí mật mà một khi đã thấy bằng mắt, linh hồn các con sẽ mãi mãi thuộc về sương mù, không bao giờ có thể quay lại Nogias để kể lại một lần nào nữa.

    Cả lớp học như bị hút vào không gian tĩnh mịch mà lời kể của ngài cố vấn tạo ra. Ngay cả những tân sinh Nortains lầm lì nhất cũng phải nheo mắt đầy cảnh giác, còn cô gái Highcoast thì nắm chặt chiếc nanh thú trên cổ tay mình, cảm nhận một luồng hơi lạnh mơ hồ từ phía Nam đang len lỏi vào căn phòng.

    Sau khi ánh mắt đã quét qua một lượt những gương mặt tân sinh viên vẫn còn đang ngẩn ngơ vì những câu chuyện về Meridel, ngài cố vấn khẽ hắng giọng. Ông gõ nhẹ đầu quyền trượng xuống nền, âm thanh khô khốc thu hút mọi sự chú ý.

    – Bây giờ, – giọng ông trở nên nghiêm trọng lạ thường, – ta sẽ nói cho các con nghe về thông tin mới nhất mà ta đã hứa ở đầu buổi học. Những điều này, ít nhất phải nửa tháng nữa mới được công bố rộng rãi trên toàn lục địa.

    Ông dừng lại một nhịp, nhìn vào bản đồ Manteiv rồi nói tiếp.

    – Chúng ta đều biết, sáu vương quốc hiện nay được hình thành cách đây tròn 257 năm. Lịch sử các con học đều bắt đầu từ giai đoạn thời kỳ đồ đá, khi nhân loại còn trong sự mông muội. Nhưng gần đây, những cuộc nghiên cứu xuyên suốt lục địa Manteiv đã khai quật được vài hiện vật mà ta không tiện đưa ra ở đây, nhưng chúng đã chứng minh một sự thật chấn động: Trước cả thời kỳ mà chúng ta từng biết, đã tồn tại một kỷ nguyên phát triển rực rỡ theo một hướng hoàn toàn khác. Chúng ta gọi đó là “Thời đại biến mất”.

    Cả lớp học nín thở. Ngài cố vấn tiếp tục, đôi mắt ông sáng lên một vẻ kỳ bí.

    – Vào thời đại đó, con người dường như không có khái niệm về ma pháp hoặc chỉ có một thiểu số cực kỳ ít ỏi biết đến nó. Thay vào đó, họ điều khiển những sinh vật khổng lồ không phải con người, bắt chúng lao động ngày đêm không mệt mỏi. Có những sinh vật gần như bằng kim khí đưa họ đi khắp đất liền, băng qua đại dương và thậm chí chiếm lĩnh cả bầu trời từ năm này qua năm khác. Tốc độ của chúng… thực lòng mà nói, có thể ngay cả những chiến thuyền nhanh nhất của Highcoast, xe ngựa của Souast hay khinh khí cầu của chúng ta cũng không thể sánh bằng.

    Căn phòng học vốn tĩnh lặng bỗng chốc vỡ òa. Tiếng xì xào bàn tán nổi lên dồn dập như những cơn sóng thủy triều.

    – Sinh vật kim khí bay trên bầu trời? Làm sao có thể chứ? – Một sinh viên từ Ionah giơ tay, giọng run rẩy vì sự hoài nghi của một học giả. – Thưa thầy, nếu họ mạnh mẽ đến thế, tại sao lại… biến mất không tì vết? Và những sinh vật đó, chúng là ma thú bị thuần hóa hay là thứ gì khác?

    Một nữ sinh từ Nogias cũng vội vàng đứng lên.

    – Thưa thầy, liệu “Thời đại biến mất” đó có liên quan gì đến sự bí ẩn của Meridel hiện nay không? Có phải họ đã trốn vào sương mù? Và chính là dân cư Meridel hiện tại?

    Cố vấn Chánh giơ tay ra hiệu giữ trật tự.

    – Ta cũng đã từng có suy nghĩ như con. Tuy nhiên, các hiện vật khai quật được cho thấy dân cư của “Thời đại biến mất” phụ thuộc hoàn toàn vào những cỗ máy vô hồn. Trong khi đó, dựa vào quan hệ cá nhân, ta có được chút ít thông tin từ nguồn bí mật thì Meridel dường như là nơi mà quyền năng tự nhiên đạt đến mức thuần khiết nhất. Có thể họ đã chạm mặt nhau, nhưng để nói họ là một thì vẫn còn là một khoảng trống quá lớn mà sương mù chưa chịu hé lộ.

    Căn phòng lại một lần nữa xôn xao, nhưng lần này không phải là tiếng bàn tán, mà là sự tò mò đến nghẹt thở. Một nam sinh vùng Nortains, nãy giờ vẫn im lặng như một tảng đá trong sương mù, bỗng cất giọng trầm đục.

    – Thưa thầy, nếu họ sở hữu những sinh vật kim khí bay nhanh hơn cả khinh khí cầu và những cỗ máy lao động không biết mệt mỏi… tức là họ đã đứng trên đỉnh cao của quyền lực. Một chủng tộc có thể thống trị cả bầu trời và đại dương như thế, liệu có thứ sức mạnh nào trên lục địa này đủ sức quét sạch họ chỉ trong một đêm để biến họ thành “Thời đại biến mất”? Hay chính những sinh vật kim khí đó đã… phản bội lại chủ nhân của chúng?

    Cố vấn Chánh nhìn thẳng vào mắt người sinh viên miền núi, một nụ cười nhàn nhạt và đầy vẻ ưu tư hiện trên môi. Ông chậm rãi bước về phía cửa sổ, tay vẫn nắm chặt cây quyền trượng.

    – Câu hỏi rất hay. Về việc tại sao họ biến mất, chúng ta vẫn đang…

    ĐOÀNG!

    Một tiếng nổ vang trời xé toạc bầu không khí yên bình của buổi sáng. Nó không giống tiếng sét, mà giống như lòng đất vừa bị một bàn tay khổng lồ vặn nát. Ngay lập tức, một luồng dư chấn dữ dội ập đến. Ngoài sân, sàn đá học viện Levart chao đảo, trong lớp học thì bàn ghế rung lắc, các chồng sách vở trên bàn rớt xuống liên hồi, bụi văng tứ tung.

    Cửa phòng bật mở, một sĩ quan vệ binh hoàng gia hớt hải lao vào, bộ giáp còn vương bụi đá.

    – Ngài Cố vấn! Hoàng gia DAS đang liên hệ khẩn cấp qua kênh truyền tin tối mật. Có động tĩnh cực lớn từ hướng rừng Tịch Mịch!

    Cố vấn Chánh không hề nao núng, ông quay sang đám tân sinh viên đang hoảng loạn.

    – Tất cả giữ bình tĩnh! Lớp học kết thúc tại đây. Các đội trưởng sinh viên hãy dẫn các bạn di chuyển theo hành lang phía Đông, dưới sự chỉ dẫn của các giáo sư trong trường, nhớ tránh xa các tháp cao, quay về ký túc xá và ở yên đó cho đến khi có lệnh mới. Học viện sẽ kích hoạt màn chắn bảo vệ ngay lập tức.

    Với tư cách là một Pháp sư Tầng Chín, ông không cần dùng đến các vòng tròn ma pháp rườm rà mà đã sáng tạo ra một loại giấy có thể lưu trữ ma pháp dùng một lần. Ông rút từ trong ống tay áo ra một cuộn giấy truyền tống, loại pháp khí quý hiếm cho phép dịch chuyển tức thời qua những khoảng cách lớn mà không bị ảnh hưởng bởi địa chấn.

    Ông liền xé toạc cuộn giấy. Một luồng sáng xanh thẫm bao bọc lấy thân hình ông, không gian xung quanh vặn xoắn lại rồi biến mất trong nháy mắt. Ngài cố vấn đã dịch chuyển thẳng về lâu đài Hoàng gia DAS để hội quân, để lại đám tân sinh vừa di chuyển theo sự hướng dẫn vừa bàng hoàng nhìn về phía cửa sổ, nơi khu rừng Tịch Mịch vốn im lìm ngàn năm giờ đang bốc lên những cột bụi khổng lồ.

  • PHẦN MỘT: ÂM BINH CHƯƠNG 1: KHU VƯỜN XƯA

    CHƯƠNG 1: KHU VƯỜN XƯA

    Níu vào cánh tay cô cháu gái, bà bước từng bước thận trọng. Ngay từ rất sớm bà đã thức giấc và không thể nào ngủ tiếp được. Đầu óc bà cứ nghĩ mãi về lần đi này. Bà đã lần nữa, lần nữa hết lần này đến lần khác. Vèo cái mà đã qua tận 80 năm. Khi quyết định sẽ trở lại, bà đã nói ý định với các con. Chúng đã sắp xếp cho bà về thăm quê và cắt cử cô cháu gái đi cùng. Chuyến đi này mục đích là thăm lại ngôi nhà xưa. 

    Ngay từ chiều qua, lúc xe vừa đến khách sạn bà đã thấy hồi hộp. Một đêm ngủ không ngon. Sáng ra, xe đã đến đón hai bà cháu từ khá sớm. Mất gần một tiếng, cuối cùng thì bà và cô cháu gái đã sắp đến nơi cần đến. Xe chờ hai bà cháu ở đầu làng. Bà và cô cháu gái đi bộ vào. Ngôi nhà mà theo bà nhớ là nằm giữa đám cây cối rậm rạp. Sau mấy lần hỏi thăm, hai bà cháu đã đứng trước khu vườn. Men theo khoảng trống nhỏ giữa các lùm cây cả hai bà cháu tiến dần vào trong. Ngôi nhà ngày một gần lại trong tầm mắt.

    Cũng đã lâu lắm bà mới trở lại nơi này. Ký ức của hơn 80 năm trước dường như chưa bao giờ phai nhạt dù gần đây trí nhớ của bà đã sa sút. Trong những câu chuyện về thời thơ ấu, quãng thời gian 3 năm sống với ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại với chồng, với các con và giờ là các cháu của mình. Ba năm đó kéo dài từ khi bà mới 7 tuổi đến khi bà lên 10. Ba năm với không biết bao ngày phải chịu đói, chịu rét, bị đánh đập, hành hạ, bị bán đi bởi sự tai quái, những hận thù tích tụ từ người vợ ba của ông ngoại. Bà vẫn nhớ như in những trận đánh thừa sống thiếu chết với lời rít lên từ miệng của bà Ba: 

    – Con bà, con mẹ, con dì mày đã hành hạ bà. Giờ thì bà hành lại!

    Những ngày đó, cứ cách vài ngày trên người bà lại in hằn thêm những lằn roi mới. Nhớ những ngày vào đông, bà co ro tê tái trong cái rét cắt da cắt thịt khi trên người chỉ có một bộ quần áo cộc. Rồi những bữa bà bị bà Ba đuổi phải lủi thủi nấu ăn một mình khi ông không có nhà. Nhiều khoảng thời gian trong năm bà theo mọi người trong làng đi hái chè, mót lạc, mót lúa để tự lo cái ăn. Ông ngoại cứ vắng nhà suốt. Bà Ba lại ghét bỏ nên một đứa trẻ mới 7 tuổi như bà bị ném cho tự sinh, tự diệt. Nhưng tất cả nỗi cơ cực đó cũng không đáng sợ bằng việc phải đối mặt với những hồn ma lẩn khuất trong khu vườn ấy. Chúng cứ rủ rỉ rủ bà đi với chúng mỗi khi ông ngoại vắng nhà hay khi bà ốm phải nằm còng queo một mình trên chiếc phản gỗ. Ông ngoại bà làm nghề thầy cúng, thầy thuốc và thầy phù thuỷ. Cuộc đời ông xê dịch kiếm ăn tại nhiều nơi, nhiều tỉnh thành. Nó cũng là duyên cớ để ông có nhiều vợ, lắm con. Ngoài bà cả mất sớm vì bạo bệnh, ông còn có bà hai cùng năm người con. Bà Ba thì còn khá trẻ.

    Bà ngoại của bà là vợ hai và bà là cháu ngoại của ông. Chỉ vì lời thầy phán số khắc cha khắc mẹ mà bà bị bố mẹ đẩy cho ông ngoại nuôi. Họ hy vọng ông là thầy cao tay sẽ giải được ách nạn mà bà đang mang. Bảy tuổi, bà lếch thếch tay nải quần áo đi theo ông ngoại về quê, sống cùng bà Ba, người vợ trẻ của ông. Bảy tuổi, bà không biết mình đã bước vào địa ngục khi phải sống xa cha mẹ, quê quán và phải ở với bà trẻ – một người chất đầy hận thù vì những màn ghen tuông, chèn ép giữa các bà vợ. 

    Thoáng đó mà đã 80 năm kể từ ngày bà rời khỏi khu vườn. Bà đã lấy chồng, sinh con rồi có cháu nội, cháu ngoại. Trong những câu chuyện bất tận kể lại cho lũ cháu ký ức 3 năm ở cùng ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại nhiều lần. Có lẽ bởi 3 năm đó có quá nhiều bi kịch, những nỗi sợ đi theo bà suốt cả đời người. Đã nhiều lần, bố mẹ rồi họ hàng, các anh chị em nhắc bà về lại nơi cũ. Họ muốn bà hoà giải với bà Ba. Cũng muốn bà nhận các cậu, các dì do bà Ba sinh ra nhưng bà đều từ chối. Nỗi đau bị đánh đập, bị bán rồi những nỗi sợ mơ hồ khiến bà luôn có lý do để từ chối trở lại nơi này. Cho đến cả khi ông ngoại rồi bà Ba mất bà cũng biện nhiều lý do để không phải trở về. Lâu dần, họ hàng cũng không còn thúc giục khi biết bà không buông bỏ được quá khứ, không quên được 3 năm địa ngục khi sống ở đó. Vậy mà giờ đây, ở tuổi 90 khi trí nhớ bắt đầu lẫn lộn bà lại muốn một lần được trở lại nơi này. Bà còn chủ động dẫn theo cô cháu nội, đứa trẻ gần gũi với bà nhất để cùng trở lại khu vườn xưa. Bà chỉ cho cô cháu gái ngôi nhà đã cũ nát của ông ngoại. Một ngôi nhà 5 gian xập xệ nằm lọt thỏm giữa khu vườn rộng với mái ngói âm dương đã sạt xuống ở một góc chứng tỏ lâu rồi không có người qua lại. Phía ngoài tường, nấm mốc đã kéo lên quá nửa với những mảng rêu vừa xanh vừa xám xen lẫn những đám sần sùi sủi lên từ lớp vôi tường. Xung quanh ngôi nhà, đám cây dại mọc lung tung, phía xa là một hồ nước nhỏ. Giọng bà xa xăm: Cũng tám chục năm rồi, gần một thế kỷ chứ có ít đâu!

    Thấy bà đứng ngẩn ra trước ngôi nhà cũ, cô cháu gái ngây thơ hỏi: 

    – Bà ơi, thế mấy con ma bà kể liệu có còn sống ở đây không ạ?

    Một thoáng rùng mình chạy dọc khắp thân hình già nua. Trên gương mặt đầy nếp nhăn của bà thoáng một vẻ sợ hãi. Bà thì thầm: Bà cháu mình rời khỏi đây thôi! Bà thấy mệt rồi. 

    Bước chân hơi run do tuổi tác, do sợ hãi vẫn cố tỏ ra mạnh mẽ. Bà cố đi thật nhanh trong khi tay vẫn níu chặt lấy cánh tay đứa cháu gái. Cô cháu gái có vẻ như bị sự tò mò lấn át nên dù bị bà kéo đi vẫn nhớn nhác nhìn khắp khu vườn. Một khu vườn bị bỏ hoang với cây cối um tùm, không người chăm sóc. Bóng của hai bà cháu nhỏ dần ra phía ngoài. Cả hai không biết rằng ngay từ khi họ bước chân vào khu vườn đã có những ánh mắt thấp thoáng dõi theo họ. Và khi bà đứng lặng nhìn vào ngôi nhà cũ thì những ánh mắt dường như cũng dần nhận ra bà lão đã gần 90 kia chính là cô bé mà hơn 80 năm trước đã từng sống cùng ông ngoại tại nơi đây. Một con bé bị bứt khỏi gia đình, bố mẹ, anh em, quê quán để theo chân ông ngoại là một thầy thuốc, thầy cúng, thầy phù thuỷ về lại với quê xưa. Trong khi ông ngoại vắng nhà suốt vì đi cúng, đi bốc thuốc, chữa bệnh thì tại khu vườn này chỉ còn lại hai bà cháu. Bà Ba còn rất trẻ và cô cháu ngoại của bà vợ hai. Hai con người không cùng máu mủ nhưng có chung một mối liên hệ gắn bó với ông thầy. Bà Ba còn trẻ, lại hay phiền lòng khi phải sống vắng chồng. Bao khó chịu, bực dọc rồi những uất ức khi bị bà Hai cùng đám con hành hạ khi trước bà đem trút hết vào đứa cháu vô tội. Cứ nhìn nó là bà nhớ lại quãng thời gian bà mới theo ông. Ngày đó bà còn trẻ, lại có nhan sắc. Bà cũng vì ham ông tài, ông giỏi lại kiếm tiền tốt nên mới đi theo. Nhưng cái thói chung chồng khiến bà nếm đủ những đòn ghen khi trực diện, lúc giấu mặt từ bà Hai và đám con của bà. Cũng chính vì những mâu thuẫn liên miên giữa hai bà vợ mà ông quyết chuyển về đây. Bà Ba còn trẻ, lại chưa có con. Ông với bà về quê cũ vừa giúp bà Ba tránh xa đòn thù từ bà Hai lại khiến ông đỡ phải đau đầu khi cứ phải phân xử, phải đứng giữa hai bà vợ. Con bé là thành viên duy nhất của gia đình bà Hai. Vì nó mệnh cao, số sát cha sát mẹ nên con gái và con rể muốn ông mang theo để trừ tai ách. Công việc khiến ông cứ đi suốt. Lúc thì khám bệnh, lúc cúng bái, khi làm lễ cho các gia đình. Khu vườn rộng nên ông trồng nhiều loại cây thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh. Những lúc ông ở nhà, nhiều gia đình cũng hay mang người ốm đến để nhờ ông chữa trị. Một số người khỏi bệnh. Một số khác thì mất ngay tại nhà thầy. Ngoài chữa bệnh, ông còn học được nghề thầy cúng, thầy phù thuỷ. Ông biết, nhiều bệnh nhân mất tại nhà mình đã không muốn rời khỏi khu vườn. Một số đã gia nhập vào đội âm binh mà ông vẫn nuôi giấu. Một số thành những hồn ma vất vưởng.

    Là thầy cao tay, làm việc với cả phần dương lẫn cõi âm nên ông biết khu vườn nhìn bề ngoài chỉ có hai bà cháu nhưng thật ra bên trong có khá nhiều linh hồn cùng trú ngụ. Ngoài đội quân âm binh do ông thu nạp, còn có những bệnh nhân được người nhà đưa đến cho ông chữa trị và đã mất tại đây. Linh hồn họ đã không về lại nhà mà vương vấn mãi với khu vườn. Nhiều người trong số họ đã chứng kiến tất cả. Một người đàn bà trẻ với mối thù hận dai dẳng lại luôn sống vắng chồng. Một con bé bị vứt bỏ vì có số sát cha sát mẹ. Họ đã chứng kiến con bé bị đánh đập, bị ghẻ lạnh, hắt hủi bởi bà trẻ. Vài kẻ trong số đó đã muốn mang con bé theo cùng. Là thầy, ông cũng có biết những việc đó. Nhưng con bé cao số. Nó đã không đi theo những lời rủ rê. Nó đã cầu cứu sự giúp đỡ và rồi nó theo bố đi biệt về tận một làng quê ngoài Bắc. Thoáng chốc đã 80 năm, đã gần một thế kỷ. Những linh hồn ở đây đã ngỡ như quên hẳn hình bóng đó. Nhưng hôm nay, con bé ngày đó đã trở lại. 80 năm đã biến con bé gày gò ngày nào thành một bà lão 90, cái tuổi dường như cũng sắp đi về cùng một cõi với họ. 80 năm biền biệt đến hôm nay mới trở lại. Một cuộc trở lại cũng không có lý do khi cả ông ngoại và bà Ba đều đã mất từ lâu. Bà lão ấy đã đứng đó một lúc rồi rời đi cùng cô cháu gái. Bước chân đi vội như cảm nhận được điều gì đó. Hai bà cháu đi rồi nhưng vẫn có những ánh mắt ẩn nấp đâu đó trong khu vườn dõi theo họ. 80 năm quá dài nhưng lại như quá ngắn với sự trở về này.

  • CHƯƠNG I, PHẦN 1: KHU VƯỜN XƯA

    Tiểu thuyết: 

         GIẢI THOÁT

    PHẦN I: ÂM BINH

    Chương I: Khu vườn xưa

    Níu vào cánh tay cô cháu gái, bà bước từng bước thận trọng. Ngay từ rất sớm bà đã thức giấc và không thể nào ngủ tiếp được. Đầu óc bà cứ nghĩ mãi về lần đi này. Bà đã lần nữa, lần nữa hết lần này đến lần khác. Vèo cái mà đã qua tận 80 năm. Khi quyết định sẽ trở lại, bà đã nói ý định với các con. Chúng đã sắp xếp cho bà về thăm quê và cắt cử cô cháu gái đi cùng. Chuyến đi này mục đích là thăm lại ngôi nhà xưa. 

    Ngay từ chiều qua, lúc xe vừa đến khách sạn bà đã thấy hồi hộp. Một đêm ngủ không ngon. Sáng ra, xe đã đến đón hai bà cháu từ khá sớm. Mất gần một tiếng, cuối cùng thì bà và cô cháu gái đã sắp đến nơi cần đến. Xe chờ hai bà cháu ở đầu làng. Bà và cô cháu gái đi bộ vào. Ngôi nhà mà theo bà nhớ là nằm giữa đám cây cối rậm rạp. Sau mấy lần hỏi thăm, hai bà cháu đã đứng trước khu vườn. Men theo khoảng trống nhỏ giữa các lùm cây cả hai bà cháu tiến dần vào trong. Ngôi nhà ngày một gần lại trong tầm mắt.

    Cũng đã lâu lắm bà mới trở lại nơi này. Ký ức của hơn 80 năm trước dường như chưa bao giờ phai nhạt dù gần đây trí nhớ của bà đã sa sút. Trong những câu chuyện về thời thơ ấu, quãng thời gian 3 năm sống với ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại với chồng, với các con và giờ là các cháu của mình. Ba năm đó kéo dài từ khi bà mới 7 tuổi đến khi bà lên 10. Ba năm với không biết bao ngày phải chịu đói, chịu rét, bị đánh đập, hành hạ, bị bán đi bởi sự tai quái, những hận thù tích tụ từ người vợ ba của ông ngoại. Bà vẫn nhớ như in những trận đánh thừa sống thiếu chết với lời rít lên từ miệng của bà Ba: 

    – Con bà, con mẹ, con dì mày đã hành hạ bà. Giờ thì bà hành lại!

    Những ngày đó, cứ cách vài ngày trên người bà lại in hằn thêm những lằn roi mới. Nhớ những ngày vào đông, bà co ro tê tái trong cái rét cắt da cắt thịt khi trên người chỉ có một bộ quần áo cộc. Rồi những bữa bà bị bà Ba đuổi phải lủi thủi nấu ăn một mình khi ông không có nhà. Nhiều khoảng thời gian trong năm bà theo mọi người trong làng đi hái chè, mót lạc, mót lúa để tự lo cái ăn. Ông ngoại cứ vắng nhà suốt. Bà Ba lại ghét bỏ nên một đứa trẻ mới 7 tuổi như bà bị ném cho tự sinh, tự diệt. Nhưng tất cả nỗi cơ cực đó cũng không đáng sợ bằng việc phải đối mặt với những hồn ma lẩn khuất trong khu vườn ấy. Chúng cứ rủ rỉ rủ bà đi với chúng mỗi khi ông ngoại vắng nhà hay khi bà ốm phải nằm còng queo một mình trên chiếc phản gỗ. Ông ngoại bà làm nghề thầy cúng, thầy thuốc và thầy phù thuỷ. Cuộc đời ông xê dịch kiếm ăn tại nhiều nơi, nhiều tỉnh thành. Nó cũng là duyên cớ để ông có nhiều vợ, lắm con. Ngoài bà cả mất sớm vì bạo bệnh, ông còn có bà hai cùng năm người con. Bà Ba thì còn khá trẻ.

    Bà ngoại của bà là vợ hai và bà là cháu ngoại của ông. Chỉ vì lời thầy phán số khắc cha khắc mẹ mà bà bị bố mẹ đẩy cho ông ngoại nuôi. Họ hy vọng ông là thầy cao tay sẽ giải được ách nạn mà bà đang mang. Bảy tuổi, bà lếch thếch tay nải quần áo đi theo ông ngoại về quê, sống cùng bà Ba, người vợ trẻ của ông. Bảy tuổi, bà không biết mình đã bước vào địa ngục khi phải sống xa cha mẹ, quê quán và phải ở với bà trẻ – một người chất đầy hận thù vì những màn ghen tuông, chèn ép giữa các bà vợ. 

    Thoáng đó mà đã 80 năm kể từ ngày bà rời khỏi khu vườn. Bà đã lấy chồng, sinh con rồi có cháu nội, cháu ngoại. Trong những câu chuyện bất tận kể lại cho lũ cháu ký ức 3 năm ở cùng ông ngoại luôn được bà kể đi kể lại nhiều lần. Có lẽ bởi 3 năm đó có quá nhiều bi kịch, những nỗi sợ đi theo bà suốt cả đời người. Đã nhiều lần, bố mẹ rồi họ hàng, các anh chị em nhắc bà về lại nơi cũ. Họ muốn bà hoà giải với bà Ba. Cũng muốn bà nhận các cậu, các dì do bà Ba sinh ra nhưng bà đều từ chối. Nỗi đau bị đánh đập, bị bán rồi những nỗi sợ mơ hồ khiến bà luôn có lý do để từ chối trở lại nơi này. Cho đến cả khi ông ngoại rồi bà Ba mất bà cũng biện nhiều lý do để không phải trở về. Lâu dần, họ hàng cũng không còn thúc giục khi biết bà không buông bỏ được quá khứ, không quên được 3 năm địa ngục khi sống ở đó. Vậy mà giờ đây, ở tuổi 90 khi trí nhớ bắt đầu lẫn lộn bà lại muốn một lần được trở lại nơi này. Bà còn chủ động dẫn theo cô cháu nội, đứa trẻ gần gũi với bà nhất để cùng trở lại khu vườn xưa. Bà chỉ cho cô cháu gái ngôi nhà đã cũ nát của ông ngoại. Một ngôi nhà 5 gian xập xệ nằm lọt thỏm giữa khu vườn rộng với mái ngói âm dương đã sạt xuống ở một góc chứng tỏ lâu rồi không có người qua lại. Phía ngoài tường, nấm mốc đã kéo lên quá nửa với những mảng rêu vừa xanh vừa xám xen lẫn những đám sần sùi sủi lên từ lớp vôi tường. Xung quanh ngôi nhà, đám cây dại mọc lung tung, phía xa là một hồ nước nhỏ. Giọng bà xa xăm: Cũng tám chục năm rồi, gần một thế kỷ chứ có ít đâu!

    Thấy bà đứng ngẩn ra trước ngôi nhà cũ, cô cháu gái ngây thơ hỏi: 

    – Bà ơi, thế mấy con ma bà kể liệu có còn sống ở đây không ạ?

    Một thoáng rùng mình chạy dọc khắp thân hình già nua. Trên gương mặt đầy nếp nhăn của bà thoáng một vẻ sợ hãi. Bà thì thầm: Bà cháu mình rời khỏi đây thôi! Bà thấy mệt rồi. 

    Bước chân hơi run do tuổi tác, do sợ hãi vẫn cố tỏ ra mạnh mẽ. Bà cố đi thật nhanh trong khi tay vẫn níu chặt lấy cánh tay đứa cháu gái. Cô cháu gái có vẻ như bị sự tò mò lấn át nên dù bị bà kéo đi vẫn nhớn nhác nhìn khắp khu vườn. Một khu vườn bị bỏ hoang với cây cối um tùm, không người chăm sóc. Bóng của hai bà cháu nhỏ dần ra phía ngoài. Cả hai không biết rằng ngay từ khi họ bước chân vào khu vườn đã có những ánh mắt thấp thoáng dõi theo họ. Và khi bà đứng lặng nhìn vào ngôi nhà cũ thì những ánh mắt dường như cũng dần nhận ra bà lão đã gần 90 kia chính là cô bé mà hơn 80 năm trước đã từng sống cùng ông ngoại tại nơi đây. Một con bé bị bứt khỏi gia đình, bố mẹ, anh em, quê quán để theo chân ông ngoại là một thầy thuốc, thầy cúng, thầy phù thuỷ về lại với quê xưa. Trong khi ông ngoại vắng nhà suốt vì đi cúng, đi bốc thuốc, chữa bệnh thì tại khu vườn này chỉ còn lại hai bà cháu. Bà Ba còn rất trẻ và cô cháu ngoại của bà vợ hai. Hai con người không cùng máu mủ nhưng có chung một mối liên hệ gắn bó với ông thầy. Bà Ba còn trẻ, lại hay phiền lòng khi phải sống vắng chồng. Bao khó chịu, bực dọc rồi những uất ức khi bị bà Hai cùng đám con hành hạ khi trước bà đem trút hết vào đứa cháu vô tội. Cứ nhìn nó là bà nhớ lại quãng thời gian bà mới theo ông. Ngày đó bà còn trẻ, lại có nhan sắc. Bà cũng vì ham ông tài, ông giỏi lại kiếm tiền tốt nên mới đi theo. Nhưng cái thói chung chồng khiến bà nếm đủ những đòn ghen khi trực diện, lúc giấu mặt từ bà Hai và đám con của bà. Cũng chính vì những mâu thuẫn liên miên giữa hai bà vợ mà ông quyết chuyển về đây. Bà Ba còn trẻ, lại chưa có con. Ông với bà về quê cũ vừa giúp bà Ba tránh xa đòn thù từ bà Hai lại khiến ông đỡ phải đau đầu khi cứ phải phân xử, phải đứng giữa hai bà vợ. Con bé là thành viên duy nhất của gia đình bà Hai. Vì nó mệnh cao, số sát cha sát mẹ nên con gái và con rể muốn ông mang theo để trừ tai ách. Công việc khiến ông cứ đi suốt. Lúc thì khám bệnh, lúc cúng bái, khi làm lễ cho các gia đình. Khu vườn rộng nên ông trồng nhiều loại cây thuốc phục vụ cho việc chữa bệnh. Những lúc ông ở nhà, nhiều gia đình cũng hay mang người ốm đến để nhờ ông chữa trị. Một số người khỏi bệnh. Một số khác thì mất ngay tại nhà thầy. Ngoài chữa bệnh, ông còn học được nghề thầy cúng, thầy phù thuỷ. Ông biết, nhiều bệnh nhân mất tại nhà mình đã không muốn rời khỏi khu vườn. Một số đã gia nhập vào đội âm binh mà ông vẫn nuôi giấu. Một số thành những hồn ma vất vưởng.

    Là thầy cao tay, làm việc với cả phần dương lẫn cõi âm nên ông biết khu vườn nhìn bề ngoài chỉ có hai bà cháu nhưng thật ra bên trong có khá nhiều linh hồn cùng trú ngụ. Ngoài đội quân âm binh do ông thu nạp, còn có những bệnh nhân được người nhà đưa đến cho ông chữa trị và đã mất tại đây. Linh hồn họ đã không về lại nhà mà vương vấn mãi với khu vườn. Nhiều người trong số họ đã chứng kiến tất cả. Một người đàn bà trẻ với mối thù hận dai dẳng lại luôn sống vắng chồng. Một con bé bị vứt bỏ vì có số sát cha sát mẹ. Họ đã chứng kiến con bé bị đánh đập, bị ghẻ lạnh, hắt hủi bởi bà trẻ. Vài kẻ trong số đó đã muốn mang con bé theo cùng. Là thầy, ông cũng có biết những việc đó. Nhưng con bé cao số. Nó đã không đi theo những lời rủ rê. Nó đã cầu cứu sự giúp đỡ và rồi nó theo bố đi biệt về tận một làng quê ngoài Bắc. Thoáng chốc đã 80 năm, đã gần một thế kỷ. Những linh hồn ở đây đã ngỡ như quên hẳn hình bóng đó. Nhưng hôm nay, con bé ngày đó đã trở lại. 80 năm đã biến con bé gày gò ngày nào thành một bà lão 90, cái tuổi dường như cũng sắp đi về cùng một cõi với họ. 80 năm biền biệt đến hôm nay mới trở lại. Một cuộc trở lại cũng không có lý do khi cả ông ngoại và bà Ba đều đã mất từ lâu. Bà lão ấy đã đứng đó một lúc rồi rời đi cùng cô cháu gái. Bước chân đi vội như cảm nhận được điều gì đó. Hai bà cháu đi rồi nhưng vẫn có những ánh mắt ẩn nấp đâu đó trong khu vườn dõi theo họ. 80 năm quá dài nhưng lại như quá ngắn với sự trở về này.

  • Đoàn kịch Thuỷ Tiên

    Trung Khúc đang trên đường đến tiệm trà Nguyên Sơ, là một người Hoa xuất thân từ khu Chợ Lớn mọi người sẽ nghĩ rằng đây chỉ là một khu phố buôn bán xầm uất và chỉ đông đúc nhộn nhịp vào những dịp tết âm nguyên tiêu hay những ngày lễ đặc trưng người Hoa ư? Không có đâu, ở đây vẫn có một nhà thờ của người Công giáo và vào những dịp gần giáng sinh như thế này, mọi người vẫn nô nức trang trí nhà thờ lớn nhỏ ở đây. Dù không phải là một người Công giáo nhưng Trung Khúc vẫn thấy rạo rực mong chờ khi thấy mọi người tấp nập đi lại. Hoà vào dòng người hối hả ấy, cậu cũng đang chuận bị cho kế hoạch lưu diễn của đoàn kịch Thuỷ Tiên của mình. Nếu mọi người hỏi cậu có yêu thích kinh kịch không hay chỉ vì gia đình có truyền thống thì chắc sẽ nghiên về vế sau. Trung Khúc là một trong những đứa trẻ lớn lên ở trong đoàn kịch. Dù được lớn lên với những điền tích cổ điển như Bá Vương biệt Cơ , Quý phi say rượu nhưng cậu vẫn chưa từng thật sự yêu thích chiếc mặt nạ mà ông và ba vẫn luôn đeo trên mặt khi ở trong đoàn kịch. Dù mọi người trong đoàn kịch luôn nói rằng tất cả là gia đình nhưng có một quy tắc ngầm trong đoàn kịch đó là không được phát sinh quan hệ yêu đương giữa những thành viên đòan kịch với nhau với lý do để giữ mọi người làm việc năng xuất và hiệu quả hơn.Có vẻ như cậu không thể chấp nhận việc người trong gia đình nhưng mọi người luôn đeo mặt nạ với nhau từ trên sân khấu cho đến sau cánh gà.. nhưng chỉ duy nhất một người không bao giờ đeo chiếc mặt nạ dối lừa ấy đó là Diệu Linh người được xem như là linh hồn của đoàn kịch. Cô có khả năng kéo sự chú ý của tất cả mọi người vào kỹ năng chơi đàn của mình, những khúc nhạc mà cô chơi có thể khơi gợi cảm xúc và làm cho một diễn viên không chuyên cho đến lão luyện có thể theo mạch cảm xúc và hoàn thành vai diễn của mình. Sau những khúc nhạc ấy, cô vẫn là cô một người nghệ sĩ chăm chỉ luyện tập và cực kỳ kĩ lưỡng trong việc đào tạo những thế hệ tiếp theo của mình. Trung Khúc đã bị sốc tinh thần rất nhiều hồi bé khi được đào tạo dưới sự dẫn dắt của Diệu Linh. Thứ giúp Trung Khúc vượt qua những ngày tháng khốc liệt ấy đó là sự xuất hiện của Duật Vân- con gái của Diệu Linh và Thuỵ Vũ-ông chủ tiệm trà Nguyên Sơ. Dù không có ý định đầu quân cho đoàn kịch Thuỷ Tiên nhưng Duật Vân vẫn phải trải qua khoá huấn luyện như tra tấn của Diệu Linh. Khi trải qua tất cả khổ cực cùng nhau, Trung Khúc dần quen thuộc với Duật Vân, cả hai vẫn dành thời gian cho đoàn kịch và lén thưởng thức vở diễn của mọi người phía sau cánh gà.Lâu dần cảm giác quen thuộc ấy dần nảy nở thành một thứ tình cảm đặc biệt mà Trung Khúc không thể nào định nghĩa được nó là gì. Dù đang ở độ tuổi chuẩn bị nhận trọng trách là một thành viên chính thức của đoàn kịch nhưng thứ làm cho Trung Khúc hạnh phúc khi nghĩ đến không phải là đoàn kịch Thuỷ Tiên mà là sự xuất hiện của Duật Vân. Duật Vân không chọn kế nghiệp Diệu Linh mà lại tiếp tục công việc của ba mình, là trà chủ của Nguyên Sơ và chỉ đến phụ giúp đoàn kịch trong những vở diễn lớn vào dịp tết nguyên tiêu.

    Tiệm trà Nguyên Sơ có hai tầng, bên dưới lầu có một vài vị khách đến uống trà , mùi trà và trầm hương quyện vào nhau xua đi cái lạnh của mùa đông bên ngoài. Khung cảnh ồn ã bên ngoài như đứng lại sau cánh cửa lớn. Dù bên trên ồn ào náo nhiệt bàn tán chuẩn bị của gánh hát cũng không ảnh hưởng đến không gian ở đây. Duật Vân đang pha trà và hầu truyện với những vị khách. Khi thấy Trung Khúc đến cô đon đả mời anh thưởng loại trà mới mà ba cô mới làm thử đó là trà Thuỷ Tiên.

    Sau khi thấy được sự hài lòng của Trung Khúc với chén trà Thuỷ Tiên mới này cô bắt đầu hỏi Trung Khúc:

    “ Anh có biết hoa Thuỷ Tiên này cũng có một câu chuyện đi kèm với nó không?” Trung Khúc đang say sưa thưởng trà và mỹ nhân trước mặt bất ngờ với câu hỏi này. Đang lúng túng chưa biết trả lời người đẹp của mình như thế nào thì một ông chú đã hào hứng đáp lại “ Tôi có tìm tòi về ngôn ngữ các loài hoa và biết được câu truyện gắn với thần thoại Hy Lạp của loại hoa này , để tôi kể cho mọi người nghe nhé.” Ông chú với đôi kính dày và tác phong chậm rãi như một nhà nghiên cứu đã cứu nguy cho Trung Khúc. Trung Khúc cũng không ngờ rằng câu chuyện này sẽ làm thay đổi cuộc đời và suy nghĩ của anh mãi về sau này. 

    Narcissus là con trai của Cepphisus, là một chàng trai được cho là có vẻ đẹp khiến cả nam thần và nữ thần đều yêu thích nhưng lại là người có lời tiên tri về cái chết sẽ rất bi thảm nếu như gặp nước và những thứ liên quan đến nước. Sau khi Cepphisus biết được lời tiên tri này lại càng thêm bảo vệ đứa con này của mình. Dưới sự bảo vệ của Cepphisus, Narcissus có một cuộc sống an phận và chưa từng kết giao với một người bạn hay đi ra ngoài phạm vi quan sát của Cepphisus. Echo là một vị thần nhỏ không có được giọng nói của chính mình mà chỉ có thể lặp lại lời của người hay vật khác. Một lần vô tình gặp được Narcissus đã bị trúng tiếng sét ái tình và lén đi theo chàng. Do không thể tự nói lên tiếng nói của lòng mình nên nàng Echo đã không thể tự tin đến và bày tỏ tình cảm của mình và bị Narcissus phớt lờ không quan tâm nàng đã tự tan biến. Không biết đến việc đã làm tổn thương Echo Narcissus tiếp tục chuyến đi săn của mình và vô tình gặp một hồ nước ở trong rừng sâu. Đây là lần đầu tiên cậu thấy được hình ảnh phản chiếu của mình dưới mặt nước và cậu đã phải lòng chính hình ảnh của mình. Nỗi đau của Narcissus bắt đầu khi không thể chạm vào hình ảnh phản chiếu của mình, không thể thổ lộ tình cảm của mình với người mình yêu, Narcisuss tuyệt vọng không còn thiết tha cuộc sống nữa và đã tìm đến cái chết. Nơi mà xác Narcisuss nằm lại bắt đầu mọc lên những bông hoa đủ màu sắc và sặc sỡ mọi sinh linh và thần linh đều tiếc thương cho chàng trai Narcissus và gọi loài hoa đó là Narcisuss nghĩa là hoa Thuỷ Tiên.

    Khi mọi người còn đang đắm chìm trong câu chuyện của nhà nghiên cứu, Duật Vân đã nói với mọi người rằng đoàn kịch mà Diệu Linh đang làm việc trước đây tên là Lăng Gia , sau khi rời khỏi đoàn để lập gia đình thì Lăng Vân đã tìm đến và mong muốn mẹ cô quay lại. Dù suy nghĩ đắn đo rất nhiều nhưng mẹ cô vẫn quyết định quay lại và đổi tên đoàn kịch thành đoàn kịch Thuỷ Tiên. Với mẹ cô, hạnh phúc là được nhìn thấy hình ảnh bản thân trong những ánh mắt cổ vũ của khán giả . Hoa Thuỷ Tiên còn có ý nghĩa là một sự khởi đầu mới, Diệu Linh hy vọng lần khởi đầu mới này sẽ kéo đoàn kịch ra khỏi khó khăn trước đó. 

    Sau khi thành công gợi sự tò mò cho vị học giả và những vị khách còn lại về đoàn kịch Thuỷ Tiên, Duật Vân đã ngỏ lời mời mọi người đến xem biểu diễn của cô và đoàn kịch vào dịp vía bà năm tới tại rạp hát. Sau khi tiếp đãi những vị khách đặc biệt của ngày hôm nay xong, Duật Vân trao lại công việc dọn dẹp và coi tiệm trà lại cho bạn trà nô và cùng Trung Khúc lên tầng họp mặt.

  • Chương 14

    Lại một thằng phê thuốc nữa. Mẹ nó! Sống không được, chết không xong với bọn này – Tấn đang đau thấu xương mà cũng phải lắc đầu ngao ngán khi thấy lão Bằng quỳ xuống nói lảm nhảm cái gì đấy mà anh cũng chả nghe rõ. Thì lại thấy Diệu Bình quát: – Câm mồm cẩu quan! Ngươi ngàn lần đáng chết có biết không!

    – Thần không dám! Công chúa tha mạng, xin công chúa tha mạng!

    Im lặng một lúc, Diệu Bình lại nói: – Lấy cái gì băng tạm cho anh Tấn ngay. Không ta không tha cho ngươi đâu!

    Diệu Bình có vấn đề à? Còn hùa theo với lão già, chết đến nơi rồi còn đùa được à?

    Nhưng kìa, lão Bằng loạt xoạt đứng dậy, quay lại phía cái bàn vơ vội mảnh vải nhỏ tiến về phía Tấn, tay lão run rẩy, mồ hôi toát đầy trán, rồi lại phía Tấn, bắt đầu băng ngón tay của anh mà chính lão vừa mới rút móng ra.

    Tấn không tin vào mắt mình nữa. “Chuyện quái quỷ gì thế này, phê thuốc đến mức này rồi sao?”

    Liền quay sang hỏi Diệu Bình: – Thế này là thế nào?

    Diệu Bình nói: – Anh… không cần biết. Cứ để im cho hắn băng cho anh!

    Tấn trợn mắt, nói qua kẽ răng: – Cô cũng phê thuốc sao?

    – Anh im đi! – Diệu Bình nạt lại, tuy vậy cô không nhìn thẳng Tấn mà nói, phải quay mặt ra chỗ khác. Tấn thấy vậy, bực mình, cũng mặc kệ luôn.

    Thấy băng xong rồi, Diệu Bình lại nói: – Mau cởi trói cho ta và anh Tấn.

    – Công chúa, việc này…

    – Ngươi không nghe lệnh ta ư?

    – Thần… thần không dám.

    Trước con mắt mở to ngạc nhiên của Tấn, lão Bằng lại lật đật lấy dao cắt dây trói cho Diệu Bình, sau đó là cho Tấn. Nhưng vì bị trói ở tư thế quỳ quá lâu, nên cả hai nhất thời không đứng dậy nổi, ngồi duỗi chân sõng soài ra nền nhà, còn lão già kia đứng lại một góc phòng, người vẫn run rẩy. Tấn giờ gần như cả người chả còn chỗ nào chưa ăn đòn, nên ê ẩm toàn thân, tựa luôn vào cái cột vừa trói mình, nhìn sang bên cạnh, Diệu Bình lê đến chỗ cái hộp vừa nãy, chộp lấy rồi đưa lên xem xét, xem có bị làm sao không.

    – Vậy là sống rồi sao? – Tấn nghĩ bụng, liệu lợi dụng cơ hội này trốn được không? Cơn phê thuốc của lão già này không biết đến bao giờ nhỉ, mà còn cả Diệu Bình nữa, sao cô ta cũng phê thuốc được? – Tấn hết nhìn Diệu Bình rồi lại nhìn lão già đang đứng thu lu một góc, không biết làm thế nào. Đứng dậy thì không đứng nổi. Lão Bằng lại nói, giọng vẫn run rẩy: – Thưa… công chúa, sao người lại ở đây? Sao người lại bị bắt?

    Diệu Bình dửng dưng đáp: – Cũng không phải việc của ông. May cho ông là vẫn còn biết thân phận, biết… ơn vua đấy!

    Lão cúi đầu thật thấp, hai tay chắp lại: – Thần chưa bao giờ dám quên ân đức thánh thượng! Dù có thịt nát xương tan cũng nguyện báo đáp ơn người!

    Nghe hai người nói càng ngày càng thấy tào lao lung tung, Tấn bực mình nói: – Các người thôi đi, vua chúa cái gì.

    – Anh biết gì mà nói – Diệu Bình giận dữ nói, còn lão Bằng nghe thấy thế cũng giận đùng đùng định lao đến đánh Tấn, Diệu Bình thấy vậy bình tĩnh lại, quát: – Ông đứng đấy, không được làm gì anh ấy. Anh ấy không cố tình nói thế!

    Tấn trợn mắt thách thức lão Bằng. Còn lão ta thì nói bé tí: – Mày mà còn nói như thế nữa đừng trách tao ác đấy thằng ranh con.

    Diệu Bình nói với Tấn: – Anh không cần hỏi nhiều, cứ làm theo tôi bảo thì có thể thoát khỏi đây.

    Rồi lại quay sang nói với lão Bằng, giọng đầy nghiêm nghị: – Lão có muốn đền đáp ơn vua không?

    – Bề tôi dẫu chết cũng không từ.

    – Lão có sẵn sàng giúp ta thực hiện sứ mệnh của đức vua giao cho không?

    – Thần… thần luôn sẵn sàng.

    – Vậy thì tốt. Ta hỏi ngươi: còn hai người nữa đi cùng bọn ta cũng bị bắt giam. Ngươi có biết ở đâu không?

    – Có… có thưa công chúa!

    Diệu Bình nghe vậy rồi chống tay cố gắng đứng dậy. Tấn thì thấy việc này điên rồ quá, tiến lại chỗ Diệu Bình thì thầm: – Cô tin theo lão già này à? Lão vừa đánh tôi với cô ra bã đấy! Cô có làm sao không đấy hả Diệu Bình?

    Rõ ràng là làm sao lại đi theo một lão già vừa mới toan nhổ móng, lột da đầu mình được. Phải nói lão này cực kỳ tàn ác. Tấn gặp nhiều thằng độc ác dã man, nhưng lão Bằng này thì kẻ hung ác nhất. Những chiêu trò của hắn thì tàn độc tưởng như chỉ gặp ở thời ngày xưa mà thôi. Và cái kiểu hành động mà không hề gớm tay của lão đủ biết là lão đã hành hạ bao nhiêu người rồi. Sao đời nay vẫn tồn tại những kẻ gian ác thế này chứ!

    Thế mà Diệu Bình định giao mạng sống vào tay lão!

    Diệu Bình nhìn Tấn, rồi thì thầm nhỏ: – Anh yên tâm, mọi chuyện đều có nguyên do. Tôi không phê thuốc hay làm sao đâu. Tin tôi đi!

    Giọng thì thầm ấm áp ngay cạnh tai làm Tấn bất chợt nhận ra Diệu Bình thật xinh đẹp mà cũng đầy sắc sảo, thấy lòng bỗng nhẹ nhàng ngay, anh nhìn cô hỏi: – Thực ra cô là ai vậy hả Diệu Bình?

    Diệu Bình cúi đầu, nở một nụ cười nhẹ: – Tôi là công chúa, anh không nghe nãy giờ à. Thôi đi thôi kẻo không kịp.

    Tấn không nói gì, chỉ gật đầu đồng ý.

    Đứng vững rồi, Diệu Bình hỏi lão Bằng: – Mấy người kia bị giam ở đâu?

    – Thưa công chúa, đi về cuối hành lang này rồi rẽ trái. Nhưng ở chỗ đó có người đang canh, giờ bước ra ngoài là nó hô ầm lên, sao mà đi qua được.

     Diệu Bình chống tay lên đầu gối đứng dậy. Cô tiến lại cái bàn, cầm lấy thanh kiếm, đưa lên nhìn trong bóng tối chỉ le lói ánh nến. Rồi tiến bước ra cửa buồng giam, thì bỗng lại có tiếng cửa sắt mở ra, rồi rầm rập tiếng bước chân lại gần. Diệu Bình hốt hoảng chưa biết làm gì thì Tấn đã nói:

    -Quay lại đây, giả vờ bị trói đi!

    Diệu Bình quay lại, gật đầu rồi ngồi quỳ xuống cạnh cái cột, tay để ra đằng sau lưng như ban đầu, đồng thời nói với lão Bằng đang đứng một góc:

    -Ông mà nói gì ta không tha cho ông đâu!

    Dứt lời thì có mấy bóng người đi vào phòng. Là Chỉ, hai tên lính, một thằng tây còn khá trẻ,tóc xoăn, cao loi choi, và ba người mặc đồ dân tộc màu đen. Buồng giam vốn chật chội ngột ngạt giờ còn chật hơn nữa.

    Chỉ chỉ tay vào thanh kiếm rồi nói :

    -Thưa ngài Đốc lý! Đây là thanh kiếm ngài đang tìm!

    Gã Đốc lý mở to mắt ra nhìn ,gật đầu, rồi tiến lại gần thanh kiếm. Nó cầm thanh kiếm lên ngắm. Diệu Bình quát:

    -Trả kiếm cho ta!

    Câu nói làm tất cả giật mình. Nhưng rồi mấy người kia bắt đầu điệu cười nhếch mép. Còn Tấn thì đang nghĩ làm thế nào để thoát được. Cứ ngồi thì kiểu gì sớm muộn bọn nó cũng biết mình đã được cởi trói. Mà đánh lại thì chưa biết ra sao. Thằng chỉ có súng lục dắt lưng, 2 thằng lính đi cùng cũng có súng trường. Chưa kể không biết mấy tên áo đen và tên Đốc lý thế nào.

    Diệu Bình có vẻ muốn lao vào lắm rồi. Thì bỗng tên Đốc lý lôi trong túi áo ra một vật tròn nhẵn sáng bóng. Trong bóng tối căn phòng này thì cái đó thực sự phát ra thứ ánh sáng mê hoặc.Nó là một viên ngọc . Diệu Bình thấy thế lập tức sững người lại , lắp bắp nói:

    -Nó… Nó là…

    Tên Đốc lý không để ý đến cô. Đưa viên ngọc giơ lên cao, rồi hạ xuống, tra vào cái lỗ lớn trên đốc kiếm thanh kiếm của Diệu Bình.

    Nó vừa như in. Và kì lạ hơn, khi hai thứ vừa lắp vào nhau, ánh sáng từ viên ngọc hắt xuống đất thành một hình thù cụ thể, ngoằn ngoèo

    Là một tấm bản đồ!

    Cùng lúc đó, có cái gì đó lăn trên nền đá ở hành lang bên ngoài. Một tên lính ngó ra ngoài cửa , rồi hét lớn: có lựu đạn!

  • Chương 15

    Vừa nói xong, tất cả chưa kịp nhúc nhích thì “ầm” một tiếng. Lựu đạn nổ. Tất cả bị sức ép từ vụ nổ làm cho ngã văng xuống nền. Tất cả tối đen không thấy được gì, tiếng kêu la khắp nơi. Diệu Bình bị một tên lính đè lên người, thì ngay lúc đó cánh cửa bị mở bung ra. Có ánh sáng bên ngoài chiếu vào, chói không thấy được gì cả, chỉ lờ mờ có mấy bóng người. Rồi tiếng người bên ngoài nói vào: – Vô hiệu hóa mấy thằng lính đi anh em! Mở buồng giam cứu luôn những người bị giam!

    Mấy bóng người vụt chạy vào trong. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, Diệu Bình lờ mờ thấy họ trói hết đám lính lại.

    – Là ai vậy? – Diệu Bình nheo mắt vào nhưng vẫn không thể nhìn ra ai vì vẫn còn thấy choáng vì áp lực vụ nổ. Thì lại nghe bên cạnh có tiếng nói, giọng đàn ông miền Trung!

    – À anh bạn, anh bị bắt vào đây rồi hả, vậy đi luôn với chúng tôi!

    Ánh đèn không còn chiếu vào mặt nữa mà chiếu vào phía sau lưng Diệu Bình, lúc này cô mới thấy hết được xung quanh. Mấy tên lính nằm im dưới đất, kẻ thì bị giết bởi quả lựu đạn, kẻ thì bị mấy người kia xông vào trói gô lại lúc chưa kịp định thần. Chỉ nằm bất động không cựa quậy gì, lão Bằng thì nằm thu lu một góc nhưng tay đưa lên che đầu, mồm lảm nhảm cái gì đấy. Tay Đốc lý với ba người mặc áo đen kia cũng đang quỳ khom lưng xuống đất.Tấn ú ớ nói:

    -Cứu với! cho bọn tôi ra ngoài!

    Một người đàn ông đang đỡ Tấn ngồi dậy. Tấn đứng gần đám lính nhất nên có vẻ hơi choáng.

    – Nhận ra tôi chứ anh bạn, là tôi lúc ở chợ đây mà!

    Tấn ú ớ trả lời: – Là anh ăn xin đấy hả?

    – Phải rồi, là tôi đây, đi thôi anh bạn, ra khỏi đây rồi nói chuyện tiếp. Chúng tôi nợ ơn anh nhiều lắm đấy!

    Nói rồi đỡ Tấn dậy. Anh chàng vẫn có vẻ hơi choáng, nhưng đã có thể đi lại được.

    – Nhưng các anh là ai, sao lại vào đây cứu chúng tôi? – Tấn lờ đờ hỏi.

    Người kia trả lời: – Không phải chỉ có mình anh đâu, bạn bè chúng tôi trong đây nhiều lắm, chúng tôi là quân khởi nghĩa.

    Nghe mấy tiếng quân khởi nghĩa mà tất cả như trút được một nỗi lo lớn lắm. Diệu Bình hổn hết nói:

    -Cứu em gái tôi nữa! Cả anh Dương nữa! Ở buồng giam bên cạnh!

    -Còn những người này thì sao? Người đó chỉ về phía tay Đốc lý và ba người áo đen. Thì bỗng “Bùm!” Một tiếng nổ nữa làm mọi người đều bất ngờ , không kịp phản ứng. Nhưng lần này không phải lựu đạn. Cả phòng toàn khói. Một quả pháo khói vừa nổ. Mọi người chạy ùa ra hành lang, rồi chạy ra cửa, ra hẳn khỏi cái nhà giam. Khói vẫn theo các ô cửa sổ thoát ra ngoài. Ở ngoài này hóa ra cũng không phải yên ả gì. Lửa bắt đầu cháy xung quanh, kèm theo những tiếng đạn từ chỗ khác vọng lại.

    -Kiểm tra lại quân số! Bom khói ở đâu ra vậy? Người vừa nói chuyện với Tấn tay vẫn đang phe phẩy đẩy khói ra khỏi mặt mình quát lớn. Diệu Bình chạy ra ngay sau người này. Nhưng không thấy Tấn đâu. Đang định chạy lại phòng giam thì Tấn, Út Hương, anh Dương chạy ra. Tấn còn cầm cả thanh kiếm cùng viên ngọc ra nữa. Diệu Bình ôm lấy Út Hương hỏi:

    -Em có sao không? Bọn nó làm gì em không?

    Út Hương lắc đầu, thút thít.vậy là ổn. Anh Dương có vẻ cũng không sao. Tấn lấy một cái áo rách gần đó cuốn lại thanh kiếm, rồi đưa cho Diệu Bình,mồm vừa nói vừa nhả ra khói:

    -Của cô phải không!

    Diệu Bình thấy hơi xấu hổ. Tự nhiên cô quên luôn hai người này. Chỉ lo chạy ra ngoài. May có Tấn. Mặt cô đỏ ửng lên:

    -Cảm ơn anh

    Một người chạy sau Tấn ra hô to:

    -Báo cáo anh Kỳ!Tôi đã tiêu diệt thằng Chỉ và hai thằng lính. Còn gã Đốc lý và mấy người mặc áo đen thì không thấy đâu!

    Anh Kỳ đó đảo mắt nhìn nhanh xung quanh rồi nói:

    -Tốt, chúng ta rút thôi! Bom khói chắc bọn áo đen đó ném để chạy rồi. Ta không cần đuổi theo nữa!

    Mọi chuyện diễn ra quá nhanh, quả thật không còn có thời giờ cho Diệu Bình suy nghĩ điều gì. Từ lúc ở buồng giam, ra đến ngoài này.

    – Giờ làm thế nào nữa? – Diệu Bình buột miệng hỏi.

    – Tôi sẽ đưa mọi người ra khỏi đây. Sau đó tùy sắp xếp… – Anh chàng giọng miền Trung trả lời nhanh.

    – Anh sắp tôi đi đâu cũng được nhưng mà cho tôi ra khỏi đây đã, suýt chết đây này! – Tấn lắc đầu giọng thều thào vẻ khổ sở lắm. Mọi người bật cười. Anh chàng kia nói: – Được rồi. Mọi người theo tôi!

    Xung quanh lửa đang cháy ngày càng to, chiếu sáng khắp cả cái khoảnh sân trước buồng giam. Trại giam này bố trí từng dãy nhà dọc nằm song song với nhau, xung quanh có tường cao với dây thép gai. Có bốn cái chòi canh ở bốn góc, trên đó có đèn pha rất sáng chiếu qua chiếu lại, nhưng giờ thì có vẻ đã bị những người này kiểm soát hết rồi. Có mấy xác lính ở góc tường. Đám bọn họ chạy ra ngoài rồi ngoặt ra bên phải, chạy đến bờ tường bao, có một lỗ thủng to trên tường, có mấy người cũng mặc áo dân tộc cầm súng đứng đấy canh. Thấy đám bọn họ chạy tới, một người nói: – Anh Kỳ, cứu mọi người ra hết chưa?

    Người vừa nãy trả lời gấp: – Xong hết rồi. Nhóm của Bát với nhóm Cơ đến chưa?

    – Anh Cơ qua rồi, cứu được hơn chục người. Anh Bát chưa thấy. Các anh đi luôn đi, đằng sau trời tối cẩn thận ngã đấy!

    – Vậy chúng tôi đi trước. Các anh em đi sau nhé, nhớ cẩn thận đấy!

    Nói rồi anh Kỳ đó dẫn toán người chạy qua cái lỗ ở bức tường, ra phía sau của cái trại giam. Đằng sau tối thui, anh nói: – Mọi người cẩn thận, đi sát vào, vách núi sâu lắm đấy!

    Từng người một trèo ra ngoài rồi đi men theo bờ tường. Phía bên này, hóa ra là một cái vực sâu, trời tối nữa nên không nhìn thấy đáy. Chỉ thấy gió rít khá mạnh.

    – Giờ ta đi đâu… – Diệu Bình chưa kịp nói hết câu thì bị giật ngược lại sau. Tấn kịp đỡ Diệu Bình. Là lão Bằng. Lão ta giật thanh kiếm sau lưng Diệu Bình rồi đẩy ngã Út Hương, dí chặt một con dao găm vào cổ con bé. Mọi người mải chạy trốn mà quên mất lão già cũng lần theo họ.

    – Chúng mày tránh ra! Để tao đi thì con bé này được sống!

    Nói rồi lôi Út Hương trở lại phía trại giam. Con bé kêu lên: – Chị Diệu Bình ơi cứu em!

    Tấn gào lên: – Thả Út Hương ra ngay!

    – Thả cái con mẹ mày ấy à! Mày lại gần tao giết nó đấy!

    – Thả Út Hương ra, ngươi có nghe lời ta không? – Diệu Bình gào lên.

    Lão Bằng cười sằng sặc trả lời: – Nghe lời của cô hả? Xin lỗi nhé công chúa. Ta là người của đức vua thôi, sao ta phải nghe lời của cô chứ!

    – Câm mồm lại, ngươi đã nói là sẽ giúp ta thực hiện sứ mệnh của nhà vua cơ mà!

    – Hahaha, sứ mệnh ư? Sứ mệnh chết dẫm của cô ta cóc cần biết nữa. Bảo kiếm này là của đức vua. Cô mang đi lung tung thì ta phải có trách nhiệm thu hồi lại cho đức vua!

    – Nhưng đó chính là lệnh của đức vua!

    – Cô im đi, ta cóc cần biết! Đã là bảo vật của vua thì phải ở trong cung vua, sao lại có thể mang đi lung tung được. Ta đã chờ đợi giây phút này lâu lắm rồi. Ta mang bảo kiếm về cho đức vua, ngài sẽ trọng vọng, tưởng thưởng cho ta, chính ta đây. Ha ha ha.

    – Lão điên rồi! Trả lại cho ta ngay, không ta giết lão đấy!

    – Cô giết ta? Có giỏi thì giết ta đi, xem con bé này ra sao?

    Nói rồi lão Bằng xiết mạnh thêm lưỡi dao vào cổ Út Hương, có chút máu đã rỉ ra. Út Hương kêu lên đau đớn. Lão Bằng lại quát lên: – Chúng mày cút ra, tránh đường cho tao! Cút hết ra!

    Rồi lão lôi Út Hương đi theo, men theo bờ tường về gần cái lỗ vừa nãy. Không ai dám đến gần lão, đều phải tránh cho lão đi. Đến cái lỗ lão cười ranh mãnh một cái rồi đẩy Út Hương ngã lăn xuống đất, rồi chạy biến đi trong ánh sáng lập lòe tranh tối tranh sáng, trở lại khu trại giam. Diệu Bình chạy lại tới chỗ Út Hương đỡ cô bé dậy hỏi: – Em có sao không?

    – Hu hu, em không sao, hơi rát cổ thôi ạ!

    Phải lấy lại bảo kiếm, bằng mọi giá phải lấy lại nó!

    Diệu Bình nói với Út Hương: – Em ở đây chị quay lại lấy bảo kiếm!

    Nói rồi liền đứng dậy toan lao qua cái lỗ, thì có cánh tay kéo cô lại, là Tấn. Anh rắn rỏi nói: – Tôi đi với cô!

    Diệu Bình cảm thấy biết ơn lắm, muốn nói thành lời nhưng giờ không phải lúc. Cô chỉ gật đầu. Anh tên Kỳ nói to: – Làm gì thì làm nhanh lên, lính tiếp viện sắp đến rồi đấy. Xong việc cứ đi thẳng hướng tây, chúng tôi ở đó!

    Nói rồi vứt cho Tấn một con dao găm. Tấn gật đầu rồi hai người lao qua cái lỗ trở lại trại giam.

  • Chương 13

    Diệu Bình có ngay câu trả lời. Ông ta đứng dậy, bước từ từ tới chỗ Tấn, rồi tát anh một cái thẳng tay.

    -Mày nghĩ mày là ai mà mua chuộc được tao!- Lão thì thầm bằng cái giọng bằng bằng không cảm xúc. Rồi cười khẩy một cái, rồi rút trong túi ra một cái kìm, nói giọng sắc lạnh: – Để tao cho mày tỉnh ngủ nhé con!

    -Đừng hành hạ người khác nữa, đồ việt gian ! Diệu Bình hét lên

    Lão Bằng quay lại nhìn Diệu Bình bằng cái ánh cực kỳ nguy hiểm. Nhưng rồi lão cười. Không phải điệu cười sằng sặc phê thuốc của tên Chỉ kia, nó là điệu cười vô hồn, điệu cười không có âm sắc. Lão nhìn lên trần nhà, rồi ra cái ghế ngồi, thở dài, im lặng không nói gì. Được một lúc mới nói: – Chúng mày thì biết thế nào là Việt gian hả các con. Chúng mày có biết cái đéo gì về tao đâu mà bảo tao là VIỆT GIAN!!!

    Mấy tiếng “Việt gian” lão Bằng gào to đến nỗi làm Tấn và Diệu Bình cũng giật mình. Rồi lão lại cười, nhưng dường như có mùi chua chát, lão như tự nói với mình: – Mẹ nó chứ! Bọn trẻ ranh nó gọi lão là Việt gian đấy lão Bằng già ạ. Sống đến từng này tuổi bị gọi thế có nhục không!

    -Từng đứa một sẽ được nếm mùi đau đớn ! Lão già rít lên, rồi bước tới chỗ Tấn nói tiếp: Hôm nay tao sẽ kể chuyện cho chúng mày nghe. Nhưng cái gì cũng có cái giá của nó. Muốn nghe chuyện của tao thì phải trả công cho tao. Mà mày biết trả công thế nào không?

    Nói rồi cầm lấy bàn tay của Tấn, đưa cái kìm vào ngón út rồi giật mạnh một cái. Móng tay Tấn rời ra với cái kìm. Anh kêu lên đau đớn, máu chảy ra ướt đẫm bàn tay.

    – Đồ khốn nạn, dừng lại ngay! – Diệu Bình gào lên, lão Bằng cũng không vừa, quát lại: – Câm mồm vào con ranh con, rồi sẽ đến lượt mày thôi. Mẹ chúng mày, chúng mày có biết tao là ai không hả? Tao, chính tao, từng là tổng đốc cả cái tỉnh Cao Bằng này đấy!

    – Phải rồi, chính là tao, ba mươi năm trước, được đích thân vua Duy Tân phong làm tiến sĩ và ban cho chức tổng đốc. Chúng mày có hiểu không? Tao, tao là quan, tao là người của vua đấy, TAO KHÔNG PHẢI LÀ VIỆT GIAN!!

    Lão gào lên, rồi lại cười: – Chúng mày sao hiểu được cái vinh dự đó. Được đức vua khen ngợi, được thấy hào quang xung quanh ngài. Có một ngàn đời chúng mày cũng không thấy được đâu!!

    Diệu Bình và Tấn hiển nhiên là không thể chen vào mạch hồi tưởng của lão được, im lặng mà chịu đựng.

    -Ta đã ở đó, quỳ dưới chân thiên tử. Được chạm vào bàn tay ngài. Bàn tay lấp lánh. Ánh mắt ngài hiền từ mà cương nghị…

    – Phải rồi, ngài tiến sĩ, ngài tổng đốc, ta được làm quan.Được đích thân vua Duy Tân sắc phong. Không uổng công bao năm đèn sách, tương lai của ta, tương lai gia đình tao là quá tuyệt vời, là những thứ mà trước đấy không bao giờ dám mơ tới tiền đồ đó!

    – Ta đem theo hoài bão đó, ước mơ đó, mong được bỏ công lao ra để đền đáp ơn vua. Thế rồi, khi ta đến đây nhận chức…

    Giọng lão Bằng trùng xuống dần theo từng từ. Mặt lão bỗng nhăn nheo lại, hai mắt nhắm nghiền. Cái vẻ hiểm ác biến đi, rồi, lão khóc. Thật kỳ lạ, đúng là lão đang khóc, khóc thành tiếng. Lão ngửa cổ lên trần nhà, nói mấy chữ:

    “Thời loạn quân vương lo ngàn nỗi

    Bề tôi vô dụng, nhục khôn cùng”

    Không nói gì một lát, lão mới nói tiếp: – Ta đến đây với cái đống đổ nát này. Ta không thể làm gì được. Ta không có gì cả. Ta không có quyền trong tay, nói không ai hay, gọi không ai thưa. Cái lũ bạch tạng mũi lõ đó, nó không coi ta ra gì. Chúng cười ta, chúng chả thèm đếm xỉa gì tới ta…

    Giọng lão nói nghe mà chất chứa cay đắng lắm. Có vẻ như lão ta bị chèn ép quá lâu rồi mà chưa được nói ra.

    – Ta thất vọng lắm, ta tuyệt vọng, ta mất phương hướng. Ta không biết phải làm gì, ta đã nghĩ đến việc tuẫn tiết để tỏ lòng trung vua ái quốc. Nhưng như thế thì liệu được gì? Người đời sau sẽ nhớ đến ta như một kẻ hèn nhát yếu đuối. Vậy có đáng không?

    – Không! Ta phải sống, ta nhất định phải sống. Ta sẽ chờ cho đến ngày cái bọn mũi lõ bị đuổi hết ra khỏi bờ cõi, để ta lại có thể được một lần nữa dùng tài sức giúp vua giúp nước…

    Diệu Bình bỗng cười to. Lão Bằng quay lại gằn giọng: – Mày cười cái gì? Ai cho mày cười hả?

    Diệu Bình cứng cỏi đáp: – Ta cười lão đấy lão già. Lão cứ mở mồm trung vua báo quốc mà những cái việc lão đây thì gọi là cái gì hả? Lão giết người thì có!

    Lão Bằng tiến tới tát Diệu Bình một cái, gầm gừ: – Mày thì biết cái chó gì. Tao không làm thế này, không nghe lời bọn nó thì sao bọn nó tin ta, sao ta có thể đợi đến ngày chúng cút hết được?

    – Đừng có bao biện cho những việc xấu xa lão làm. Có giỏi thì lão đi mà đâm mà chém mấy thằng tây ấy, ở đây hành hạ bọn ta thì gọi là gì hả? Đồ cặn bã!

    Lão Bằng trừng trừng nhìn Diệu Bình, nghiến răng kèn kẹt. Nhưng rồi, lão lại cười, lại là cái điệu cười nham hiểm, lão chậm rãi nói: – Ta mải kể chuyện mà quên mất phần công lao của ta rồi. Có phải ta nói kể chuyện phải được trả công không? Giờ đến lượt mày nhé con bé xinh xắn. Khà khà khà.

    Nói rồi cầm con dao lên nói với cái giọng cực kỳ nguy hiểm: – Tao sẽ cho mày thưởng thức một trong những hình phạt mà tao thích thú nhất. Khà khà! Tao sẽ cứa một vết nhỏ trên cái cổ xinh xắn của mày, chỉ đủ cho máu chảy ra nhỏ giọt. Mày sẽ chết dần chết mòn trong đau đớn. Khà khà!

    Nói rồi đưa tay giật lấy tóc Diệu Bình kéo ngửa đầu cô lên, mặc kệ cho Tấn gào thét, lão vẫn đưa dao lên

    -Còn đeo cả dây chuyền nữa. Mày khá lắm con nhóc!- Lão bằng dung mũi dao gạt cổ áo Diệu Bình ra. Có một cái dây chuyền lồng vào một cái nhẫn vàng. Lão Bằng cầm cái nhẫn lên ngắm nghía.

    Nhưng, bỗng nhiên lão giật lùi lại mấy bước, đánh rơi cả con dao, mắt trố ra nhìn, nói không thành lời: – Mày… mày là ai? Sao mày lại có cái nhẫn này?

    Diệu Bình ngẩng dần đầu lên, nhìn thẳng vào mặt lão Bằng, lão kinh hãi biến sắc, không nói được gì, bước lùi lại mấy bước, rồi bỗng sụp xuống, hai tay đưa ra trước, đầu cúi sát đất.

    – Cô… cô… công chúa!

  • Chương 12

    – Khà khà, đừng nóng mà cô em. Đêm còn dài, còn nhiều thứ để vui đùa lắm, khà khà – Chỉ lại cười, giọng hắn càng ngày càng lè nhè.

    Diệu Bình thấy mắt cay cay, rồi hai khóe mắt ướt dần. Cô thất vọng về chính bản thân mình, cả về cái sự đen đủi của mình. Kế hoạch đổ xuống sông xuống biển hết rồi…

    Giờ người thì bị bắt, bảo vật rơi vào tay giặc, thử hỏi còn điều gì tệ hơn nữa.

    Khi Tấn bị bờ tường đè trúng, ngất đi, Diệu Bình và hai người còn lại cũng không kịp trở tay. Một toán lính đông nữa chạy đến. Mọi con đường đều đã bị bịt kín. Lại thấy người phe mình, người thì nằm bất động, người thì co quắp đau đớn, dường như cô cũng rụng rời chân tay, buông lơi luôn. Đầu óc quay cuồng, cô ngã ra đất ngất đi… Một lúc sau tỉnh lại thấy mình đang bị trói mà khiêng đi, đến thẳng cái khám này rồi bị trói lại cùng với Tấn. Dương và Út Hương chắc bị đưa sang một căn phòng cũng gần đấy. Rồi tên đại gian ác kia đến. Hắn lột khăn che mặt của Diệu Bình ra. Và khi nhìn thấy khuôn mặt kiều diễm của cô, hắn rú lên như điên dại. Hắn đã toan chiếm lấy cô. Đó là giây phút kinh khủng nhất mà Diệu Bình từng trải qua. Thật ghê tởm khi nhớ lại bàn tay hắn sờ soạng khắp người, vuốt ve khuôn mặt. Cô hết sức chống cự, đẩy hắn ra xa. Hắn thấy cô làm dữ quá, lại sợ cô làm liều, tự vẫn nên thôi không dám đụng đến cô nữa, nhưng cũng đồng thời quay sang hành hạ Tấn.

    Rồi hắn lục đến đồ đạc của cô. Chiếc hộp đựng bảo vật hắn đập vỡ nát , vứt vào một góc. Còn vật bên trong , hắn để lên cái bàn đặt ở góc phòng.

    Là một thanh kiếm.

    Diệu Bình chứng kiến tất cả. Nhưng cô thấy mình cứ trơ trơ ra vậy. Khuôn mặt không còn chút cảm xúc. Có lẽ đó là sự pha trộn của nỗi tuyệt vọng, đắng cay, sự tức giận, căm thù trào dâng, đến nỗi cô mím miệng chặt mà rách cả môi, máu chảy ra lúc nào không biết…

    Thấy cô khóc, Chỉ trố mắt ra nhìn, rồi chạy lại xuýt xoa: – Ôi người đẹp làm sao vậy, nàng đau ở đâu à, hay để ta cởi trói cho nàng nhé.

    Diệu Bình nhìn thẳng vào mắt hắn, cái nhìn chiếu tướng, đến nỗi hắn phải nhìn ra hướng khác, cô cười nhạt nói: – Ngươi mà cởi trói cho ta thì ta giết ngươi luôn đấy có tin không?

    Tên Chỉ ngớ người ra, rồi thần mặt ra vì cái sự ngu dốt của mình. Cởi trói cho Diệu Bình chắc cô làm cỏ cả bốn năm tên như hắn cũng nên. Hắn lại ra giọng ngọt ngào mà nói: – Người đẹp nói chí phải. Vậy ta phải đắc lỗi với nàng, không cởi trói cho nàng được rồi.

    – Ta không cần ngươi thương hại. Muốn giết thì giết đi!

    Tấn bất ngờ lên tiếng: – Diệu Bình, cô điên à. Ta sẽ thoát ra khỏi đây! Cô yên tâm, tôi sẽ cứu cô!

    Chỉ thấy Tấn chen vào, liền quay lại đạp cho anh mấy cái: – Câm mồm ngay! Cứu con mẹ mày ấy à!

    Diệu Bình thấy vậy quát lên: – Để anh ấy yên, không được đánh nữa!

    Chỉ thôi không đạp nữa, nhổ nước bọt vào mặt Tấn nói: – Mày còn lải nhải nữa tao bẻ răng đấy con ạ!

    Lại quay ngay sang Diệu Bình nịnh nọt: – Vậy ra nàng tên là Diệu Bình à. Quả là một cái tên đẹp đấy, thật xứng đáng với vẻ đẹp của nàng, khà khà.

    – Im đi! Ta không muốn nghe nữa – Diệu Bình quát lên, cô lại không kìm được nước mắt. Bình thường cô mạnh mẽ cứng rắn lắm, mà sao giờ đây lại yếu đuối như vậy.

    Chỉ lại giở giọng nịnh nọt: – Được được, ta câm, ta câm. Nàng đừng có giận ta nhé, khà khà khà.

    Rồi hắn lại quay lại cái ghế đẩu ngồi, trợn mắt lên rồi nói:

    -Đùa vậy đủ rồi. Hôm nay các ngươi khá lắm, làm tao tổn thất không ít đâu. Nhưng tao cũng thu lại được kha khá! Còn cái món đồ của cô tí nữa sẽ có quan tây đến hỏi cô em xinh đẹp ạ!

    -Là sao nhỉ? Hắn đang nói đến thanh kiếm sao? Vậy là bọn chúng biết rồi à? Diệu Bình bắt đầu lo lắng trở lại. Hơi thở bắt đầu dồn dập.

    Tấn hỏi Diệu Bình: – Bọn chúng có làm gì cô không vậy?

    Diệu Bình lắc đầu nói: – Anh đừng lo, chúng không dám làm gì tôi đâu. Anh mới là người phải lo đấy. Nãy anh ngất tôi lo quá. May mà không sao.

    Diệu Bình quay sang nhìn Tấn thì thấy anh đang nhìn cô, thấy cô quay lại thì anh quay đầu đi chỗ khác ngay, tỏ vẻ bối rối, rồi lí nhí nói: – Tại tôi hết…

    Diệu Bình lắc đầu nói: – Giờ đừng nói chuyện đấy nữa. Cũng chẳng giải quyết được điều gì….

    Nói đến đấy cô lại không cầm được xúc động, nấc nhẹ thành tiếng. Chỉ thấy vậy lao ra bạt tai Tấn một cái:

     – Câm mồm! Mày làm cô nương ấy khóc rồi. Mày còn nói nữa tao giết luôn đấy!

    Im lặng một chốc, rồi Diệu Bình buột miệng nói như vô thức:

    -Trả kiếm cho ta!

    Chỉ Rướn mắt lên, tỏ vẻ ngạc nhiên, rồi bắt đầu cười

    – Trả nàng á, không được rồi, khà khà khà.

    Chỉ cầm thanh kiếm của Diệu Bình lên ngắm nghía định lượng. Rồi lại nói:

    -Không biết có gì hay ho ! mà thằng quan tây cứ lùng sục cái này mấy hôm nay . Mệt lây sang cả mình! Toàn sai làm mấy việc linh tinh.- Chỉ gầm gừ, nói rồi lại quăng lại cây kiếm lên bàn.

    Diệu Bình thấy bất lực. Cô thực sự không biết làm gì trong hoàn cảnh này cả. Mọi thứ đều chống lại cô.

    Đang dương dương tự đắc, bỗng Chỉ ôm bụng, mặt mũi nhăn nhó, hắn chạy vội ra ngoài cửa, đang mở chốt ra ngoài thì không kịp, hắn nôn luôn ra. Khạc nhổ một lúc, hắn chửi bới: – Con mẹ nó, đưa thuốc đểu cho ông rồi. Thằng người Hoa chó chết, quả này ông giết mày!

    Nói rồi gọi oang oang ra ngoài: – Lão Bằng đâu rồi, lão Bằng, ra đây tôi bảo.

    Hắn gọi thêm mấy tiếng nữa, rồi có tiếng bước chân chậm chạp đi đến. Một ông lão bước vào phòng . Ông ta già rồi ,luộm thuộm, tóc dài thượt, bạc nhiều, da dẻ nhăn nheo, người gầy gò mảnh khảnh, khuôn mặt không có tí cảm xúc gì cả, trơ trơ như tượng vậy.

    – Anh Chỉ gọi tôi có chuyện gì à?

    – Lão trông hộ tôi hai đứa này. Tôi phải đi xử thằng Tàu bán thuốc đểu. Con mẹ nó chứ, một đống tiền đưa nó mà nó bán bố láo!

    – Tối rồi anh còn đi làm gì. Mà mấy thằng người Hoa không phải dạng vừa đâu.

    – Lão im mẹ mồm đi! Lão thì biết cái đéo gì. Hôm nay tôi phải giết nó, con mẹ nó chứ!

    Nói rồi hầm hổ bỏ ra ngoài. Người đàn ông kia chậm rãi đi vào phòng, thì thầm như tự nói với mình: – Chết cha mày đi thằng ngu. Chơi với mấy thằng Tàu thì chết sớm thôi con ạ!

    -Chào ông lão! Thằng cha vừa nãy chả coi ông ra gì nhỉ! –Là Tấn. Anh ngóc đầu dậy nói với ông lão kia. Nhưng ông không nói gì, cũng chả thèm nhìn Tấn luôn. Ông ta lại ra cái ghế đẩu ngồi xuống, nhìn chằm chằm cả Tấn lẫn Diệu Bình

    – Người này là tốt hay xấu nhỉ? Tên kia vừa chửi bới ông ta thậm tệ mà ông ta không có ý dám đáp lại – Diệu Bình hờ hững nghĩ, nhếch mép cười vô hồn

    – Ông có muốn kiếm một khoản dưỡng già không? Tôi với ông thỏa thuận nhé! Tấn lại nói tiếp. À thì ra anh chàng muốn mua chuộc ông già này. Diệu Bình chăm chú nghe. Ông Bằng kia thì vẫn không nói gì, chỉ ngồi đó nhìn.

    -Tôi thấy thằng cha vừa nãy coi ông không ra gì, chi bằng ông giúp chúng tôi đi! Rồi ông chỉ cần bảo ông già cả bị bọn tôi khống chế thôi! Không có ai bị làm sao cả!

    Diệu Bình nét mặt Tấn có vẻ hớn hở lên, Sự tự tin tăng lên theo từng câu nói. Liệu mua chuộc được ông già này thật sao?

  • Chương 10

    – Cái gì thế này?? – Tấn nghĩ, cô ta dám tát mình sao?

    Đành rằng là lỗi do anh, nhưng anh cũng không nghĩ Diệu Bình dám tát anh. Anh biết cô là người khá điềm tĩnh, không hành động nông nổi.

    Đủ biết Diệu Bình giận đến thế nào.

    Hai ánh mắt trừng trừng nhìn nhau. Diệu Bình lại giơ tay lên toan tát thêm một cái nữa. Tấn không chịu ngồi yên ăn đòn, giữ lấy tay cô lại quát: – Đủ rồi đấy! Nữa là tôi không nhịn cô đâu!

    Rồi lại trừng mắt nhìn nhau. Diệu Bình giằng tay ra, quay phắt mặt ra chỗ khác, lạnh lùng nói: – Anh liệu liệu mà tìm cách đi, hỏng việc là không xong với tôi đâu.

    – Không cần cô nhắc – Tấn trả lời cũng với cái giọng lạnh băng.

    Út Hương thì lại hoảng lên nói: – Chị Diệu Bình ơi, ngựa chạy rồi đồ đạc mình cũng mất rồi, giờ làm sao đây?

    Diệu Bình trấn an cô bé: – Không sao đâu em, mấy thứ quan trọng chị mang theo đây rồi, đồ lặt vặt kiếm sau cũng được.

    Rồi quay sang Tấn nói: – Đấy việc của anh đấy. Anh có mưu kế gì thì nói đi.

    Vừa nói dứt câu thì cách hơn hai chục bước chân đã thấy toán lính chạy đến rồi, không kịp nghĩ gì Tấn quát: – Chạy!!

    Cả đám lại chạy bán sống bán chết. Đằng sau quân lính hô hào đuổi bắt oang oang khắp cái chợ. Trời đã nhá nhem tối, giờ phải nhìn kỹ mới thấy bóng người, quân lính đuổi theo đều cầm theo cây đuốc soi đường, nên không chạy nhanh được. Nhưng đám Tấn lại không có đuốc, không nhìn rõ đường, cũng không đi nhanh được. Đến cái ngã rẽ to giữa chợ, Tấn quay ra nói nhỏ: – Mau chia ra hai hướng. Anh Dương với Diệu Bình. Tôi với Út Hương. Gặp nhau ở cái chòi kia nhé!

    Rồi chỉ về phía một cái chòi trên quả đồi ở góc chợ. Trời tối om nên thấy một khối lù lù đen sì thôi. Dương gật đầu rồi thoăn thoắt rẽ sang bên trái, Diệu Bình chỉ kịp thì thầm lại: – Cẩn thận nhé!

    Rồi cũng chạy theo chân Dương, thoắt cái đã khuất sau nếp nhà ranh. Tấn cầm lấy tay Út Hương kéo đi, chạy lắt léo qua mấy phên đan rách, rồi núp đằng sau một bức tường đất, ngó lại phía trước. Ánh lửa bập bùng cách không xa. Có sáu bảy thằng lính theo hướng này. Đánh nhau tay bo không lại được chúng rồi, huống hồ còn cô bé này nữa. Quay sang nhìn Út Hương, trời nhá nhem tối, mặt chẳng thấy rõ, thấy mỗi đôi mắt trợn lên sợ hãi, hơi thở gấp gáp phả ra nóng cả gáy của Tấn, anh thì thầm: – Cứ bình tĩnh, tôi khắc có cách.

    Nói rồi dẫn Út Hương đi tiếp ra phía sau, thấy một lán bán hàng lợp rơm lá khá to, dựng trên bốn cái cột gỗ, vốn vẫn có đầy ở chợ, chỉ là cái này to hơn thôi, bèn nảy ra một ý. Tấn chạy lại một cái cột, nhấc thử lên, đúng như anh nghĩ, có nặng nhưng không phải không nhích được chút ít, bèn dùng hết sức nhấc ra khỏi cái lỗ vốn không sâu để đặt cột vào cho đỡ bị di chuyển, rồi để cái cột chếch chếch một chút, sau đó lại ra cái cột thứ hai làm tương tự. Lại quay ra hỏi Út Hương đang núp gần đấy thám thính bọn lính: – Bọn nó đến gần đây chưa?

    Út Hương trả lời: – Tối quá, tôi chỉ thấy ánh lửa thôi. Nhưng gần hơn lúc nãy rồi.

    – Cứ để ý bọn nó nhé, tôi có kế rồi.

    Tấn tiếp tục làm thế với cái cột thứ ba. Nhưng quái lạ cột nặng, không nhấc lên nổi, ra là vì trên cái cột này còn có mấy thanh ngang gác sang từ cái lán rơm bên cạnh, nên một mình anh nhấc không nổi, kể cả Út Hương giúp cũng không được.

    – Làm sao giờ? Chẳng nhẽ phải dùng đến nó sao? – Tấn đã định thò tay vào cái túi áo chẽn thì bỗng lù lù trong bóng tối, một bóng người lao đến, làm Tấn giật nảy mình không kịp làm gì. Sát tới gần mới thấy là một người đàn ông mặt mũi đen nhẻm, quần áo rách rưới, người ngợm bẩn thỉu, hôi hám. Hình như một người ăn mày trong đám mà lúc chiều đi ngang qua chợ đám Tấn đã nhìn thấy. Người đó thì thầm: – Để tôi giúp một tay!

    Giọng nặng, người này là người miền Trung! Những người này sao lại lưu lạc đến tận đây?

    – Anh… – Tấn ấp úng.

    Người kia không nói gì, sáp vào ôm cái cột cùng Tấn rồi thì thào: – Tôi đếm đến 3 nhé! Một… hai… ba!

    Tấn tất nhiên chẳng còn thời giờ suy nghĩ. Nên gồng mình cùng người kia nâng cái cột lên.

    Có hai người hợp sức cái cột đã được nhấc lên. Quay lưng lại thấy ánh lửa trên vách đất càng ngày càng sáng, tiếng lính oang oang ngay gần đây rồi. Vẫn còn một cái cột chưa kịp nhấc lên.

    Người ăn mày kia thật kỳ lạ, như hiểu được lo lắng của Tấn, bèn nói nhỏ: – Để tôi, cứ làm đi!

    Nói rồi thoăn thoắt đi về phía quân lính đang tới. Tấn thấy vậy chả kịp nhìn theo chạy đến cái cột cuối cùng dùng hết sức cố nhấc nó lên khỏi miệng hố. Lại nghe tiếng người vang đến: – Ối ông ơi, đêm hôm ông đến cho con cơm cho con gạo, ối ông ơi, con đội ơn ông, ông ơi là ông!

    Một giọng nói khác quát ầm lên: – Cái con mẹ mày đéo ai cho mày, thằng điên này. Cút ra cho các ông làm việc!

    Chúng gần đến đây lắm rồi. Tấn lao về phía Út Hương đang núp, kéo vào trong cái nóc mà anh vừa xê mấy cái cột, vừa kịp lúc bọn lính đến. Ánh lửa lập lòe trong đêm, sáu bảy thằng lính mặt hùng hổ đầy sát khí, tay cầm đuốc tay cầm đao đứng lù lù cách chỗ Tấn có mấy bước chân. Tấn thấy vậy quát lên: – Ê mấy con bò, ông mày ở đây cơ mà, ha ha ha!

    – À con mẹ mày, anh em lên!!!

    Rồi tất cả cùng lúc lao vào chỗ Tấn đang đứng. Chúng trúng kế anh rồi. Thấy chúng đã đứng dưới cái nóc, Tấn ôm Út Hương rồi dùng hết sức lao về phía một cái cột chống. Hai người lao ra ngã quay lơ ở ngoài, còn cái nóc toàn rơm với lá sụp xuống đám quân lính, nhanh đến nỗi chúng trở tay không kịp. Trời đang mùa hanh khô, mấy bó đuốc bọn lính cầm bắt lửa luôn vào cái mái. Chỉ thoáng cái đã thành đống lửa to đùng, bọn lính ở trong giãy giụa cố gắng thoát thân nhưng vướng đủ thứ, nên lãnh đủ. Mấy thằng bật dậy được thì cũng bị lửa bám hết vào, cháy hết người, kêu la đau đớn, lao ra rồi ngã lăn ngã bò dưới đất, quằn quại vì đau đớn.

    Chợt nhớ người ăn xin vừa nãy, Tấn vội ngó xung quanh nhưng không thấy gì, chắc anh ta đi đâu rồi. Mà sao lại giúp mình nhỉ? – Tấn nghĩ bụng, nhưng thấy ngọn lửa lại nhớ tại sao mình đang ở đây, bèn lôi Út Hương chạy luôn. Đống lửa to thế này thế nào cũng bị bọn lính chú ý kéo đến, chuồn nhanh còn kịp! Nghĩ vậy thì cố gắng chạy một mạch đến cái lều đã hẹn với đám Dương và Diệu Bình. May quá, có vẻ như bọn lính chia làm hai ngả đuổi theo chứ không dàn lính mà lùng sục, nên Tấn luồn lách một lúc đã đến cái chòi rách, vừa chạy đến nơi thì có bàn tay kéo tụt vào trong cái lều. Là Dương. Tấn căng mắt ra nhìn trong bóng tối, có vẻ hai người này cũng không sao, thấy vậy thở phào một chút. Bèn hỏi: – Hai người không sao chứ?

    Dương gật đầu, Út Hương thì lao về phía Diệu Bình mà nói: – Chị ơi em sợ quá, may có anh Tấn không thì em không đến đây được rồi!

    Diệu Bình nhìn Tấn không nói gì, chỉ gật đầu một cái cảm ơn, có lẽ cô vẫn còn thấy ngại vì vừa nãy đã tát Tấn một cái. Tấn bèn hỏi: – Hai người làm sao mà ra đến đây được, chúng lùng gắt thật!

    Diệu Bình kể lại vắn tắt. Họ không dùng nhiều mưu như Tấn, đơn giản là cứ núp sau vách đất rồi đánh tỉa từng thằng một. Diệu Bình vốn biết võ, còn Dương thì cứ theo lời Diệu Bình chỉ mà làm, mỗi người một con dao găm, một chốc đã hạ hết năm sáu thằng lính. Cũng phải thôi, đến bịt mắt mà Diệu Bình còn đá trúng Tấn được nữa cơ mà. Tấn nghĩ bụng nàng này quả thật là ghê gớm, mình cô ta xử lý hết được đám lính đấy, mình thì trầy trật ra. Thôi thì từ nay không gây sự với cô ta nữa không thì mệt!

    Không kịp ngồi lâu, lại nghe thấy tiếng quân lính hô hào văng vẳng từ xa, chúng kéo thêm quân tới rồi, Tấn đứng dậy bảo mọi người: – Ta chuồn luôn thôi, không ngồi lâu được nữa, có gì ra ngoài tính tiếp.

    Tất cả đứng dậy theo chân Tấn. Anh đang tính kế ra đến sông Bằng rồi men theo sông mà trốn, vì các ngả đường giờ chắc chắn lính đã đứng đầy rồi. Mấy người đi sát theo bờ tường cái chợ, đi men theo mấy vách đất, có một cái ngách nhỏ phía hông chợ, chỗ này có mấy cái chuồng lợn, thông ra một cái rãnh nước chảy ra phía sông Bằng. Mùi phân lợn rất thối, nên bọn lính không ra phía này thì phải. Chỗ này tường bị đổ một đoạn. Bốn người nhanh chóng chui qua mà ra bên ngoài chợ. Bên ngoài tối om, không thấy có bóng quân lính nào. Sắp thoát rồi! Tấn bắt đầu thở phào, thì bỗng rầm rập có tiếng người chạy đến. Đông lắm, ánh lửa cũng sáng bập bùng nữa. Bọn chúng cuối cùng đến đây.

    Nhưng không sao. Đang khuất rồi. Bò vào lùm cây gần đấy là hết đường bắt được. Tấn ra hiệu mọi người đi thật nhẹ nhàng để lẩn vào bụi cây mà anh vừa thấy.

    Nhưng vừa được ba bước thì bỗng Út Hương kêu lên “Á” một tiếng thất thanh rồi ngã lăn xuống đất đau đớn. Tấn giật mình không kịp bịt mồm cô bé lại, trời ơi sao không phải lúc khác mà lại chuột rút đúng cái lúc này, Tấn nhìn cái chân co quắp của Út Hương mà kinh hồn. Không kịp rồi, bọn lính nghe thấy động thì ào qua cái tường rào. Một thằng lính đã chạy đến vung đao lên chém xuống chỗ Út Hương, Tấn chả kịp nghĩ gì, lao vào ôm lấy bụng thằng lính đẩy nó ngã xuống đất. Rồi quay lại chỗ Út Hương, quay lại quát to: – Chạy mau đi!!

    Vừa nói dứt câu thì bức tường rào cạnh Tấn đổ úp xuống đầu anh. Tấn ngất luôn không biết gì nữa.

  • Chương 11

    – Con mẹ mày. Dậy không ông giết mày!!

    Giọng ai đó đang nói. Trước đó một chậu nước lạnh hất vào Tấn, làm anh tỉnh sau khi bị bức tường đất ở khu chợ đè trúng.

    – Đang ở đâu thế này? – Mắt Tấn mở dần ra, chỉ thấy lập lòe mấy bóng đuốc.

    Đầu anh đau như búa bổ. Cả người ê ẩm. Trong mồm vẫn còn dính ít đất. Chút nữa thì chẳng còn anh Tấn trên thế gian rồi.

    Nhưng nhìn xung quanh thì Tấn thấy chỗ này chính là địa ngục trần gian rồi.

    Tấn đang ở trong một cái khám.

    Cổ đau không nhích nổi, Tấn ngóc ngóc đầu lên trước nhìn. Anh đang ở trong một căn phòng nhỏ, xây bằng gạch. Nền bằng đá lạnh buốt chân. Phía cao cao trên tường có một cái ô thoáng nhỏ bằng hai bàn tay mà chi chít que thép. Tấn bị bọn lính bắt quỳ và buộc vào một cái cột gỗ, hai tay trói chặt đằng sau, hai chân thì bị xích. Chúng còn thòng một cái dây thừng vào cổ anh như tư thế treo cổ vậy, nếu mà chân anh khuỵu xuống thì sẽ giống như thắt cổ mà chết luôn vậy.

    Không biết từ lúc ở chỗ chợ đến giờ là bao lâu rồi nhỉ? – Tấn lơ mơ nghĩ.

    Bỗng ăn luôn một tát vào mặt, mạnh đến ù cả tai, làm Tấn bị choáng luôn, chỉ nghe văng vẳng bên tai: – Mày làm ông tốn hơi nhiều sức rồi đấy thằng chó chết này. Không phải giả vờ nữa, dậy ông hỏi không ông cho mày tuốt xác đấy!

    Tấn lại ngóc ngóc đầu dậy, lần này có vẻ tỉnh hơn lần trước, nhưng cái mắt vẫn lờ đờ, nói như người nói nhảm: – Ai đấy, sao đánh tôi?

    Kẻ kia cười sằng sặc nói: – Khà khà, mày tỉnh rồi hả thằng chó chết.

    Nói rồi kẻ đó tiến lại phía Tấn, cầm cổ áo anh xách rồi dí mặt sát vào tận mặt anh, đến nỗi hai cái mũi gần chạm nhau rồi thì thầm: – Mày nhìn tao đi, nhìn vào mặt tao đi, biết tao là ai không hả? Hôm nay mày được chết dưới tay tao, cũng coi như là phúc phận của mày đấy!

    Nói rồi lại lẳng cổ áo Tấn ra, cười ha hả, đi lại cái ghế gỗ đằng sau mà ngồi xuống.

    Bị túm cổ áo nào Tấn có kịp nhìn thấy mặt kẻ kia, đến khi hắn ra ghế ngồi, Tấn phải cố gắng nheo mắt mới thấy rõ khuôn mặt hắn. Không phải xa lạ gì, chính là tên Việt gian lúc trước dí súng vào anh. Hắn vẫn mặc nguyên bộ quần áo công nhân đó. Hắn đang hút thuốc phiện, khuôn mặt nhăn nheo hiểm ác pha lẫn cái điệu phê thuốc của hắn tổng thể thành một cái mặt dị hợm, chả giống ai. Thả cái điếu xuống bàn, thở phì phò, rồi bất ngờ hắn lao đến, thụi một cái vào bụng Tấn. Tấn chỉ kịp “HỰ” một tiếng, đau không nói nổi. Tên mật thám quát vào mặt anh: – Nói! Mấy thằng dân tộc với cái xe bò kéo đâu rồi?

    Tấn phải dặn ra từng chữ vì đau quặn cả ổ bụng: – Tôi… tôi không biết… tôi không biết.

    Mắt thằng mật thám trợn ngược lên, lại lao về phía Tấn: – Mày thích không biết à? Không biết này, này thì không biết!

    Cứ mỗi câu đấy hắn lại nện thêm vào bụng Tấn một cái. Vốn đã ê ẩm người, giờ lại ăn liền mấy đấm vào bụng, Tấn lại lịm đi, không biết gì nữa…

    … Lại một chậu nước lạnh nữa hất vào mặt Tấn, nước sặc vào mũi, không thở được, Tấn ho mấy tiếng mới tỉnh, cổ đắng ngắt, người ngợm ê ẩm. Chân anh khuỵ xuống từ lúc nào rồi, may mà anh cao nên thòng lọng chưa siết vào cổ anh được. Đời Tấn chưa bao giờ bi thảm như lúc này. Bị trói trong khám, bị đánh cho ngất đi phải dội nước mới tỉnh lại. Người nặng trĩu, lạnh buốt. Nước lạnh ngấm qua mấy lớp quần áo dày làm cho người nặng trĩu, cựa quậy cũng không thể cựa được, người cứng đờ luôn.

    Khốn nạn, tại mày hết Tấn ạ! Mày ngu lắm! Khôn ngoan để đâu hết mà đến nông nỗi này?? – Tấn tự xỉ vả bản thân. Đúng là khôn ba năm dại một giờ. Giờ thì đến cái mạng còn khó giữ…

    – Mày tỉnh rồi hả thằng kia, kể ra mày cũng khá đấy. Ăn đòn thế vẫn ngóc được lên, ha ha ha! Nhưng rồi thì mày cũng bị tao làm thịt thôi.

    Rồi lững thững đứng dậy đến chỗ Tấn, dơ chân lên ngang mặt Tấn rồi di bàn chân lên mặt lên mũi Tấn, hắn day đi day lại, cười sằng sặc, lại nói: – Liếm chân cho ông đi con, liếm cho quen mùi đi. Bao nhiêu thằng muốn liếm chân ông mà ông không cho đấy con ạ, ha ha ha!

    Nhục nhã quá, quá là nhục nhã, Tấn thầm chửi thằng khốn kia. Giờ cho anh đâm nó một nhát rồi chết cũng được, còn hơn nhục thế này. Nhổ bãi nước bọt lẫn cả máu tươi xuống sàn đá, Tấn quay đi không thèm nhìn thằng mật thám. Hắn chả thèm để tâm, vẫn cười hềnh hệch, nói chuyện như nói với chính mình: – Giỏi quá Chỉ ơi, lần này mày được thưởng hậu rồi, hahaha, chơi gái hút hít đến chết luôn, ha ha ha. Mẻ này to quá là to.

    Nói rồi lại xộc đến sát tận mặt Tấn thì thầm: – Mày có biết mày mắc tội gì không hả?

    Tấn không thèm trả lời. Chỉ lại cười sằng sặc lên oang oang: – Chết đến nơi rồi còn thích khí phách anh hùng hả con. Ha ha ha! Để ông nói cho mày biết mấy cái tội của mày nhé con!

    Rồi lại lững thững đi quanh Tấn, cầm cái xe điếu khua khoắng, thủng thẳng nói: – Thứ nhất là cái tội giả người của quan. Đây là cái tội to nhất. Riêng cái tội này đủ cho mày chết mấy lần cũng không hết tội rồi con ạ!

    – Tội thứ hai là đã giả người của quan lại còn giúp mấy thằng tộc trốn mất, mày có biết là tao mất bao nhiêu công đuổi theo đến tận đây rồi bị mày phá không hả con!

    Nói rồi đá Tấn một cái.

    – Tội thứ ba là mày ném bay mất súng của ông, giết sáu mạng lính của ông, kể ra thì mày cũng giỏi đấy con ạ, giỏi lắm con ạ!

    Lại đá Tấn mấy cái, Chỉ bước ngật ngưỡng, xem chừng phê thuốc lắm rồi.

    – À mà mày lại có công đấy, khà khà khà. Công cũng to phết đấy. Mày có muốn ông kể công mày không?

    Khốn nạn! Mày trói ông thế này thì công với chả trạng cái gì? – Tấn khốn khổ mà nghĩ.

    – Công đầu tiên của mày, là mày cứu mấy thằng tộc, nhưng lại để lộ ra mày là thằng giả mạo. Ông không bắt được bọn kia thì cũng bắt được mày, vẫn được quan khen.

    – Thằng này điên rồi, lảm nhảm cái gì không biết – Tấn nghĩ bụng.

    – Công thứ hai là mày cho ông xem cháy cháy cái chợ cóc ngoài kia, ha ha ha, mày đốt đẹp lắm, đốt hay lắm, lâu lắm ông mới thấy lửa đẹp thế!!!

    – Mày có nghe không đấy thằng chó chết kia? – Thấy Tấn quay đi chỗ khác vờ như không nghe thấy gì. Tên Chỉ nổi sung lên lại đá Tấn mấy cái. Đá xong lại cười hềnh hệch lên.

    – Còn cái công thứ ba, là cái công to nhất đấy con, khà khà khà, hôm nay mày dâng hàng đẹp lên cho tao, quả là đẹp đấy!

    Tấn mặc kệ cho nó lảm nhảm một mình. Cổ anh vẫn đau không cựa quậy được, chỉ ngẩng lên cúi xuống. Giờ mắt mũi mới đỡ tèm nhèm, và cũng làm quen được với ánh sáng nhờ nhờ trong cái phòng giam này. Sau cái ô thoáng tối mò tối mịt, vậy là đã tối rồi, không biết là mấy giờ?

    Tên Chỉ bỗng ngồi thụp xuống cạnh Tấn, thì thầm như đứa trẻ con: – Này người anh em, con nhỏ này đâu ra mà ngon thế, ta chưa thấy con bé nào ngon lành như con bé này đâu đấy, người anh em khá lắm!!

    Nói rồi lại tát mấy phát nổ đom đóm mắt Tấn, rồi lại ra cái ghế ngồi ệch xuống cầm ống điếu lên rít một hơi. Thằng này đúng là điên thật rồi.

    Mấy cú tát đau điếng, đau thật nhưng Tấn cảm thấy tỉnh táo hơn, đúng là trớ trêu thật. Anh thử ngọ nguậy cái cổ, có vẻ được rồi. Tấn bắt đầu thấy xung quanh căn phòng. Tên Chỉ ngồi chính giữa phòng, cạnh cái bàn đặt cái bát điếu với mấy thứ như đồ tra tấn vậy, nhìn rất rùng rợn. Sau lưng hắn là cánh cửa gỗ chốt chặt bên trong, Tấn chợt nghĩ mà nổi da gà: “Nó giết mình ở đây thì có kêu trời cũng không ai biết”.

    Ngoài ra không còn đồ đạc gì trong phòng nữa. Trống hoác và lạnh lẽo.

    Tên Chỉ lại nói: – Này cô em, nhìn anh đánh thằng này đã ngoan ra tí nào chưa, khà khà khà.

    Cô em nào? – Tấn nghĩ, ở đây còn ai nữa à?

    Cố quay đầu sang bên trái, Tấn giật mình, mái tóc dài buông xuống. Với ánh sáng như trong phòng này chắc nhiều người hét toáng lên tưởng là ma, nhưng không phải ma, là người thôi. Cũng đang bị trói như Tấn vậy, là một cô gái, ai vậy nhỉ? – Tấn thắc mắc, căng mắt lên nhìn.

    Cô gái đó từ từ ngẩng mặt lên, lạnh lùng nói: – Có giỏi giết ta đi, đừng nói nhiều.

    Dù có vẻ như cũng bị đánh, mồm vẫn còn vệt máu, nhưng đó là khuôn mặt xinh đẹp nhất mà Tấn từng nhìn thấy. Mọi thứ đều hoàn hảo, không tì vết. Tấn há hốc mồm ra, sao có cô gái xinh đẹp thế này lại bị trói ở trong cái khám này nhỉ.

    – Ồ, đôi mắt này quen quá – Tấn chợt nhận ra.

    Là Diệu Bình!