Category: Uncategorized

  • TTS feed content

    TÔN TRỌNG SỰ KHÁC BIỆT GIỮA NGƯỜI VỚI NGƯỜI KHÔNG CHỈ LÀ LỊCH SỰ MÀ CÒN LÀ TRÍ TUỆ Trong dòng chảy hối hả của cuộc đời, con người thường dễ bị cuốn vào vòng xoáy của cái tôi cá nhân, của những thành công tự thân và những định kiến. Chúng ta dễ dàng vô thức dựng lên bức tường ngăn cách với những gì “”không giống mình””, quên mất một lẽ thật giản dị nhưng vô cùng sâu sắc: không ai là một hòn đảo độc lập. Tự tin là đức tính cần thiết, là ngọn lửa thắp sáng con đường dẫn đến thành công. Nó giúp ta tin vào khả năng của mình, dám dấn thân và vượt qua thử thách. Thế nhưng, ranh giới giữa tự tin và ngạo mạn lại mong manh đến đáng sợ. Ngạo mạn là khi tự tin biến thành sự tự phụ, là khi ta tin rằng bản thân là trung tâm của vũ trụ, là tất cả, và coi thường những người xung quanh. Kẻ ngạo mạn thường cho rằng trí tuệ, kinh nghiệm hay vị thế của mình là ưu việt tuyệt đối, không cần lắng nghe, không cần học hỏi, và càng không cần tôn trọng bất kỳ sự khác biệt nào. Nhưng hãy nhớ lời của Lão Tử: “”Biết người là khôn, biết mình là sáng.”” Kẻ ngạo mạn thường chỉ “”biết mình”” một cách phiến diện và ảo tưởng, mà không thể “”biết người”” hay nhìn nhận thế giới đa chiều. Triết lý Á Đông đã từ lâu dạy chúng ta về mối liên hệ khăng khít giữa vạn vật. Trong Nho giáo, Khổng Tử nhấn mạnh “”Nhân”” là cốt lõi của mọi đạo đức, là lòng yêu người, là sự đồng cảm và thấu hiểu. Lễ, Nghĩa, Trí, Tín đều phải đặt trên nền tảng của Nhân. Thiếu Nhân, mọi tài năng, mọi vị thế đều trở nên vô nghĩa, thậm chí nguy hại. “”Đừng bao giờ nghĩ rằng bản thân mình là tất cả. Người với người sống trên đời chính là dựa vào nhau. Đừng coi thường người khác, vì biết đâu sự tồn tại của họ có mối liên kết và nâng đỡ cho sự tồn tại của bạn bằng một sợi dây vô hình nào đó.”” (Trích trong sách Nhân sinh cảm ngộ) Mỗi cá thể trong xã hội như một mắt xích trong chuỗi liên kết vô tận. Bạn là một nhà lãnh đạo tài ba, nhưng liệu bạn có thể thành công nếu không có những nhân viên tận tâm? Bạn là một nghệ sĩ kiệt xuất, nhưng liệu kiệt tác của bạn có giá trị nếu không có khán giả để thưởng thức? Thậm chí, người công nhân vệ sinh giữ cho đường phố sạch đẹp, người nông dân nuôi sống chúng ta, người lái xe đưa ta đến nơi làm việc… đều là những mắt xích quan trọng trong cuộc sống. Sự tồn tại và công sức của họ, dù bình dị, cũng đang nâng đỡ cuộc sống của bao người. Con người, tuy là những cá thể độc lập với bản sắc riêng, nhưng chỉ có thể phát triển tốt nhất khi sống trong một xã hội, trong một cộng đồng. Sự khác biệt không phải là rào cản, mà là nguồn cội của sự phong phú, đa dạng và tiến bộ. Chính vì có sự khác biệt về quan điểm, về kinh nghiệm, về cách tiếp cận mà chúng ta mới có thể học hỏi lẫn nhau, bổ sung cho nhau và cùng nhau tìm ra những giải pháp tối ưu. Hãy nhớ câu nói của Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela: “”Giáo dục là vũ khí mạnh nhất mà bạn có thể sử dụng để thay đổi thế giới.”” Và để giáo dục, để thay đổi, để phát triển, chúng ta cần sự thấu hiểu, sự lắng nghe và trên hết là sự tôn trọng những giá trị khác biệt. Khi chúng ta học cách tôn trọng sự khác biệt, khi chúng ta biết rằng mỗi người, dù ở vị trí nào, cũng đều mang trong mình một giá trị riêng và có thể là một mắt xích quan trọng trong cuộc đời ta, đó là lúc chúng ta mở rộng tầm nhìn, dung hòa những đối lập và kiến tạo một xã hội hài hòa, bền vững hơn. Hãy sống với lòng khiêm tốn của kẻ “”biết mình”” và sự bao dung của người “”biết người””. Bởi lẽ, chỉ khi ta thực sự tôn trọng và dung hòa những mảnh ghép khác biệt, bức tranh cuộc sống của chúng ta mới thực sự trọn vẹn và ý nghĩa.

  • TTS feed content

    NGUYỄN KHUYẾN: TỪ NGHỊCH CẢNH ĐẾN THI HÀO LỪNG DANH. Mỗi khi nhắc đến văn học Việt Nam trung đại, cái tên Nguyễn Khuyến (1835-1909) lại hiện lên như một biểu tượng của tài năng, ý chí và tấm lòng yêu nước, thương dân. Ông không chỉ là một thi sĩ lỗi lạc với biệt danh “”Tam Nguyên Yên Đổ”” mà còn là minh chứng sống động cho câu chuyện về ý chí vượt khó phi thường. Nguyễn Khuyến, tên thật là Nguyễn Thắng, sinh năm Ất Mùi (1835) tại làng Ngòi, Nam Định, nhưng cả cuộc đời gắn bó với quê cha là làng Yên Đổ, Hà Nam. Xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo, từ nhỏ ông đã sớm bộc lộ tư chất thông minh hiếm có. Tương truyền, cậu bé Nguyễn Thắng không chỉ ham mê trò chơi dân dã mà còn sở hữu trí nhớ kỳ lạ và tài ứng đối thơ văn bẩm sinh. Có lần, ông đồ Huy ngạc nhiên khi thấy Thắng nhỏ tuổi đã thuộc và giảng nghĩa được thơ trong Kinh Thi, thậm chí còn biết cả bài “”Chặt gỗ đàn”” với ý nghĩa chế giễu quan lại. Sự thông minh, ham học ấy đã khiến người cha cảm động, đích thân truyền dạy và trao bút cho con, mở ra con đường học vấn cho một tài năng lớn. Cuộc đời Nguyễn Khuyến không phải là con đường trải hoa hồng. Năm 17 tuổi, ông thi hỏng, rồi cha mất, cảnh nhà càng thêm tiêu điều. Từ Nguyễn Thắng, ông đổi tên thành Nguyễn Khuyến (勸) – một cái tên chứa đựng khát vọng và ý chí phi thường. Ông chiết tự chữ “”Khuyến”” có chữ “”lực”” lớn (“”đại lực””), hàm ý nhắc nhở bản thân phải nỗ lực vượt bậc để thành đạt. Với ý chí “”đại lực”” ấy, Nguyễn Khuyến phiêu bạt, vừa tự học vừa dạy học, đỡ đần mẹ già. Ông được cụ nghè Vũ Văn Lý cưu mang, cho ăn học tiếp. Quả nhiên, công sức không phụ lòng người. Năm 1864, ông đỗ Giải nguyên trường Hà Nội. Sau vài khoa thi Hội không thành công, đến năm 1871, Nguyễn Khuyến xuất sắc đỗ cả Hội nguyên và Đình nguyên (Hoàng giáp). Từ đó, ông được kính trọng gọi là Tam Nguyên Yên Đổ, hoàn thành ý nguyện của cụ Phạm Văn Nghị khi xưa từng dặn dò.Câu chuyện vinh quy bái tổ của Nguyễn Khuyến, cùng với những giai thoại thi tài cùng Trần Bích San, càng tô đậm thêm vẻ đẹp trí tuệ và nhân cách của ông. Nguyễn Khuyến không chỉ nổi tiếng bởi con đường khoa cử hiển hách mà còn bởi cốt cách thanh cao, gần gũi. Thơ văn ông, dù là tiếng cười trào phúng nhẹ nhàng hay nỗi niềm thế sự, đều chứa chan nhiệt huyết và tấm lòng ưu ái trước thời cuộc. Cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Khuyến là một bản giao hưởng giữa tài năng thiên bẩm và ý chí kiên cường. Ông là hiện thân của trí tuệ Việt, một con người đã dùng “”đại lực”” của mình để vượt lên nghịch cảnh, đạt đến đỉnh cao khoa bảng và để lại di sản thơ ca bất hủ, sống mãi trong tâm hồn người Việt.

  • TTS feed content

    Cơn Giông Kéo Cầu Vồng “ Khi nào cậu thấy bình yên “ “ Hoàng hôn! Còn cậu “ Ánh mắt vô định của cô ấy nhìn ra cửa sổ duy nhất trong căn phòng đầy đau thương:” Cầu vồng sau cơn mưa “ Câu trả lời tưởng chừng trái ngược nhưng hợp nhau đến bất ngờ. Nếu hôm nay trời mưa, ngày mai thường có hoàng hôn thật đẹp. Câu nói vô tình mà hữu ý này như sớm đã ướm chừng lên cuộc sống của tôi, chúng ta và mọi người. Tôi nhìn cô ấy rồi vô thức nhìn sang chiếc đồng hồ đối diện cửa sổ phản chiếu từng hạt mưa, tâm trí quay lại dòng thời gian về mười hai năm trước. Tôi thuở tám tuổi, cô bạn ấy tên Thanh dĩ nhiên cũng bằng tuổi tôi nốt. Tôi thích chơi với các bạn cùng tuổi, nhưng đó không phải lí do chúng tôi quen biết nhau đến tận bây giờ. Kể ra quá trình gặp gỡ cũng ngang trái nếu không muốn nói là nghiệt duyên. Tiếng chuông báo thức reo inh ỏi vào sáng sớm buộc tôi cố gắng với lấy tay để tắt, định lòng ngủ thêm 5 phút nữa thế mà cánh tay nhỏ bé đã không để tôi như ý. Vừa với đến chiếc đồng hồ bỗng cả cơ thể đổ ầm từ trên giường xuống, má trái áp vào mặt sàn có chút lạnh, cơn buồn ngủ dần chuyển sang cơn đau khắp người, cơ mặt tôi nhăn nhó chẳng khác gì tờ giấy bị nhàu nát. Hai tay gắng gượng đẩy cả cơ thể nặng trĩu ngồi dậy chẳng còn nỗi mơ màng thay vào đó là sự hoảng loạn khi nhìn vào chiếc đồng hồ trên tủ điểm sáu giờ ba mươi phút. Nhận ra mình sắp trễ buổi đầu khai giảng, tôi vội vã chuẩn bị mọi thứ để đến trường. Trường tôi cách nhà không xa nhưng cảm giác chạy đến trường lúc trễ giờ mệt không tả nổi. Điều đó không thể ngăn tôi một chút nhìn ngắm đoạn đường quen thuộc đến từng bước chân. Xuân qua thu đến, màu lá nâu héo úa đến đỏ rực phủ kín hàng cây dài, chút nắng nhẹ nhàng in bóng hàng cây. Tôi đương nhiên được hưởng sự che chở của thiên nhiên và sự dịu dàng của nắng, thoáng chốc không khỏi rung động. Cổng trường thân thuộc ngay trước mắt những tưởng sắp đi qua, bất giác tôi nhìn xuống mặt đường từ đằng sau một bóng người lao tới. Chưa kịp quay lại, người tôi một lần nữa ôm lấy mặt đường. Tôi ngước mặt lên cố gắng nhìn người đã khiến mình thật thảm hại, thậm chí không có ý định xin lỗi tôi. Dáng người nhỏ và mái tóc dài nhìn từ xa đã đẹp, trên phải là một chiếc đồng hồ màu đen, dáng chạy vội vã vẫn toát lên vẻ kiêu kì, tinh tế. Tôi cố gắng ghi nhớ thật kỹ hình ảnh của nhỏ để còn gặp lại, cổng trường như đợi nhỏ đi qua để đóng lại, tôi bất lực nhìn theo. Thế là trễ giờ. Sau hôm đó tôi cay cú vô cùng nhất quyết tìm bằng được tung tích cô gái khiến mình trễ học. Lục khắp trường 3 ngày trời mà chẳng thấy, tôi nghĩ chắc không phải do làm mình ngã thấy có lỗi quá nên nghỉ học đâu. Ngày thứ 4, cô chủ nhiệm đến lớp sớm hơn mọi hôm như để thông báo việc quan trọng và đúng thế thật. Cô cất giọng ngọt ngào: -Hôm nay lớp chúng ta có học sinh mới chuyển đến Chưa nói câu hết cả lớp đã bàn tán nháo nhào đoán xem học sinh mới là ai. Tôi ban đầu không quan tâm nhưng lúc sau lại là người ngỡ ngàng nhất vì chiếc đồng hồ và mái tóc dài đó không thể lẫn với ai được, chính là cô gái xô ngã mình. Lúc này tôi mới biết nhỏ tên Châu Tường Thanh, tình cờ cô giáo xếp Thanh ngồi dưới tôi mới hay. Chẳng hiểu sao tôi lại hồi hộp đến lạ. Chuyện quan trọng bây giờ là tìm cách tính sổ với nhỏ Thanh, ban đầu tôi nghĩ đơn giản là bắt nó xin lỗi rồi mua đồ ăn đền tôi thôi. Ấy vậy mà ngồi chung được vài ngày tôi phát hiện Thanh khá ngây thơ và dễ dàng tin tưởng người khác dù cậu ấy trong top học sinh xuất sắc của trường. Còn nữa nhỏ vừa thân thiện vừa tốt bụng nên nhanh chóng chiếm được cảm tình của bạn bè, đồng thời chiếm mất sự chú ý của tôi với mọi người vì trước giờ từ phong trào, văn nghệ đến học tập tôi đều nổi bật. Thế là tôi bắt đầu kế hoạch khác của mình, tôi sẽ kết thân với Thanh và khi hai đứa đã là những người bạn tốt rồi tôi sẽ nghỉ chơi với cô ấy để cô ấy buồn vài ngày. Lúc đó tôi thấy mình thật thông minh mà không biết rằng đó là người mà mãi sau này mình vẫn ghi nhớ. Cho Thanh mượn đồ, ăn chung với Thanh, nhờ Thanh chỉ bài, chờ Thanh khi tan học,…. Đúng như kế hoạch rằng khoảng cách giữ tôi và cậu ấy đã gần hơn rất nhiều, thậm chí cổ còn phụ thuộc vào tôi. Nhưng tôi biết người không ổn là mình vì tôi biết mình không thể rời xa cậu ấy rồi. Đến tận 2 năm sau tôi nhắc lại chuyện bạn làm mình xấu hổ năm nào. Mới ngỡ rằng hóa ra bạn ấy không hề đụng trúng tôi, chi do tôi vấp té bởi cái ổ gà nhỏ bé dưới chân. Hóa ra mọi chuyện đều là trùng hợp thế nhưng tôi phải cảm mơn sự tình cờ có sắp đặt này. Bởi tôi đã gặp được người mình nên trân trọng cả cuộc đời, không biết từ khi nào người bạn ấy đã vô cùng quan trọng đối với tôi. Có lẽ là những lần chỉ tôi học bài, cùng ăn trưa ở trường, cùng đi về trên đường mùa thu đỏ rực tán lá, chúng tôi kết nối với nhau từ những điều đơn giản mà ngập tràn niềm vui đó. Lớn lên, với tôi đó là khoảng thời gian yên bình và hạnh phúc nhất bởi cuộc sống sau đó là chuỗi ngày phiền muộn dài bất tận. Gia đình Thanh vô cùng dư giả, vì muốn con được phát triển toàn diện hơn nên vào cấp 2 bố mẹ đã cho cậu ấy học trường quốc tế, họ chuyển nhà

  • TTS feed content

    Có một triết lý sống mà tôi luôn ghi nhớ: “Mọi người ta gặp đều có lý do để xuất hiện trong cuộc đời mình. Mọi việc xảy ra đều mang một ý nghĩa nhất định. Mọi khởi đầu đều diễn ra đúng thời điểm của nó.” Nhờ vậy, tôi đã học được cách sống hướng về phía trước, không để tâm đến những gì đã qua. Cuộc sống này vốn dĩ luôn có những sự đánh đổi – có lúc ta thu được điều mong muốn, có lúc lại phải buông bỏ những thứ không muốn mất. Nhưng chính trong hành trình ấy, tôi đã có cơ hội gặp được một số người đáng trân trọng, một số chuyện đáng ghi nhớ. Khi đặt bút viết những dòng này, tôi coi đây là lời tâm tình nhỏ nhẻ giữa cô học trò sắp bước vào giai đoạn quan trọng nhất của đời học sinh với cô giáo chủ nhiệm đáng mến, người đã thực sự khiến cô ấy khác đi. Có đôi lời, tôi muốn nói với cô Trần Thanh Hoa. Có vài kỷ niệm sâu sắc, tôi muốn chia sẻ với các bạn Có hơi xấu hổ nhưng thú thật là, tôi từng ghét đi học và những ngày đến trường khi trước phần nhiều là đáng buồn. Tôi không có duyên với các cô giáo dạy Ngữ văn, những cô giáo dạy tôi hồi Tiểu học và Trung học cơ sở đều mang cho tôi những ký ức, thành thật mà nói, là tồi tệ. Hồi lớp 4, tôi từng bị cô giáo dạy Ngữ văn lôi lên trước lớp để tra hỏi, rằng, có phải tôi đã ăn trộm bút máy của bạn không? Có thể vì hồi ấy tôi học kém nhất lớp, lầm lì và ngang bướng, là một trong ba bạn ở lại trong lớp tiết ấy và trông “chẳng ra sao ” như cô nhận xét nên tôi là đứa đầu tiên và duy nhất bị cô nghi ngờ. Giờ nhớ lại, tôi vẫn tức anh ách, trách bản thân sao mà yếu đuối thế, để bản thân phải nhục nhã đến vậy. Nhưng lúc ấy, tôi đã xấu hổ đến mức muốn biến mất và về chỗ trong lời mỉa mai của cô giáo “nhỏ mà nhân cách đã có vấn đề”. Dù cô không tìm thấy chiếc bút trên người tôi nhưng thái độ khẳng định chắc nịch của cô đã đóng đinh cái danh “ con ăn cắp ” lên người tôi đến hết Tiểu học (vì chuyển cấp mới không còn học cùng bạn cũ nữa). Thời gian đó, tôi phải đối mặt với sự chất vấn của bố mẹ, sự bắt nạt của bạn bè (do còn bé nên tụi nhỏ không làm gì quá đáng lắm, chỉ cô lập và bài trừ tôi khỏi vòng tròn giao tiếp) và hơn hết, là sự căm ghét bản thân. Tôi tự trách mình sao lại ở lại lớp trong giờ hôm ấy, sao không tươi sáng và hồn nhiên như các bạn, sao không thể làm người ta yêu mến như thế. Bây giờ tôi đã đủ lớn để hiểu những chuyện ấy chẳng phải lí do để cô giáo lôi tôi ra sỉ vả giữa lớp, chẳng thể là nguyên do tôi bị cô lập. Nhưng thời điểm đó, thật sự tôi đã nghĩ vấn đề nằm ở mình, nếu không sao chuyện chẳng xảy đến với người khác mà lại là tôi? Tôi đã ôm suy nghĩ ấy lên cấp hai và nỗi sợ trường học cứ lớn dần.Tôi mất nền tảng kiến thức trầm trọng hồi Tiểu học nên lên lớp 6, tôi không thể theo kịp các bạn. Do phải xa nhà, không có bố mẹ kèm cặp (tôi sống ở nhà ông bà ngoại) nên tôi càng chểnh mảng, sa vào trò chơi điện tử và sách. Tôi nghiện game và nghiện sách lúc nào không hay. Game, đủ thể loại, vớ được trò gì tôi chơi trò đấy, không kể thời gian. Đọc sách có vẻ lành mạnh hơn, tôi đã đọc tất tần tật những cuốn có trong kệ của ông ngoại, từ Đại Việt Sử ký Toàn Thư, Tam Quốc diễn nghĩa, đến tuyển tập truyện ngắn Lỗ Tấn…Tuy nhiên, tệ ở chỗ, tôi trùm chăn đọc sách, lấy ánh đèn điện thoại để mò mẫm.Vậy nên, đã học hành tệ hại tôi lại đánh mất thêm đôi mắt khỏe mạnh, kém càng thêm kém. Có thể tưởng tượng tôi của hồi cấp hai làm người ta ghét thế nào, là con gái nhưng la cà quán net nghỉ học liên miên, lười biếng và xấu tính, là phần tử “ bất hảo ” luôn bị các phụ huynh lo sợ sẽ tiêm nhiễm thói xấu cho con mình. Chuyện chỉ thay đổi khi tôi vào lớp 8, đây là bước ngoặt lớn đầu tiên của tôi kể từ những tháng ngày Tiểu học tăm tối. Tôi được chọn vào Đội tuyển lịch sử của trường Trung học Cơ sở Bình An nhờ trời phú cho trí nhớ khá khẩm và thói quen hay đọc sách, tìm tòi. Lần đầu tiên trong đời, tôi được thầy cô công nhận và bạn bè nhìn bằng con mắt khác. Mọi chuyện khi ấy đẹp như một giấc mộng, tôi được tôn trọng và đánh giá cao, thậm chí ký thác nhiều kỳ vọng của thầy giáo. Thầy khẳng định tôi là một trong những học sinh tiếp thu nhanh và ghi nhớ bài giảng tốt nhất thầy từng dạy. Nhưng kỳ thi học sinh giỏi huyện lớp 8, tôi là người duy nhất trong đội không có giải. Lớp 9, tôi may mắn có một suất được cạnh tranh để học Đội bồi dưỡng đi thi Tỉnh. Khi ấy, với khao khát phục thù, tôi nỗ lực hết sức để có một vị trí trong Đội. Thời điểm này có nhiều khó khăn nhưng tôi tràn trề sức sống và sự tự tin. Hơn ai hết, tôi muốn chứng tỏ năng lực của bản thân, tôi muốn đậu một trường cấp ba thật tốt và giật giải Tỉnh. Nhưng đáng buồn là, tôi thất bại ê chề lần nữa khi tiếp tục là người duy nhất trong đội không đạt giải. Niềm tin vụn vỡ, sự thất bại tại kỳ thi Tỉnh chỉ cách ngày thi cấp ba hơn một tháng đã giáng một bạt tai vang dội vào tôi. Sự tự tin hiếm hoi biến mất, tôi nghĩ mình không thể làm nên trò trống gì. Tôi quay về đối mặt với kỳ thi trọng đại của đời học sinh với cái đầu rỗng và tâm trạng tồi tệ như thế. Một lần nữa, giáo viên dạy Văn lại làm đời tôi khốn khổ. Tôi trở thành trường hợp trọng điểm cần quan tâm, không thể cứu chữa, là “ thành phần cá biệt ” sẽ kéo tuột thành tích của lớp mũi nhọn đi xuống. Cô giáo từng nói trước lớp vài lời mà giờ nghĩ lại, tôi vẫn tức trào nước mắt. Sự thực là tôi học không giỏi môn Ngữ văn và làm cô giáo tiêu tốn nhiều thời gian, công sức, nhưng đó cũng chẳng phải lí do để tôi bị nhục mạ như thế. Đó là thời điểm đời tôi như rơi vào đáy vực. Tôi kết thúc kỳ thi chuyển cấp khi điểm chưa tới 19 và chỉ đạt 4,6 điểm Ngữ văn, còn chưa đủ điểm trung bình. Mông lung với tương lai, những mục tiêu đã đề ra đều thất bại thảm hại. Đó chính xác là Chi của năm 14 tuổi, con bé gầy còm đen nhẻm luôn lủi thủi một góc, thất bại và cô độc. Tôi thật sự muốn ngược về quá khứ, ôm lấy cô bé ấy vào lòng và nói với con bé rằng:“ Em không có gì phải buồn, chẳng phải lỗi của em đâu. Em vẫn luôn làm tốt.” May mắn thay, một năm sau đó, thực sự có người đã ôm lấy tôi và nói với tôi những lời dịu dàng như thế. Thực sự đã có một cô giáo dạy Ngữ văn mang lại cho đời học sinh của tôi niềm hạnh phúc và sự tự tin. Đó là cô giáo Trần Ngữ văn, giáo viên dạy Ngữ văn kiêm chủ nhiệm của tôi từ khi tôi đặt chân vào trường cấp ba. Tôi đã đồng hành với cô được hai năm có lẻ, có vô số cung bậc cảm xúc khác nhau và những kỷ niệm quý giá. Nhưng sự kiện có ảnh hưởng lớn tới mức khi về thăm trường cũ, các cô và các bạn đều cảm thán “ Chi của bây giờ khác quá ” thì chính là giây phút cô trao tôi cái ôm ấm áp và lời an ủi khẽ khàng năm tôi lớp 10. Đó là sự kiện được tôi cẩn thận ghi lại trong nhật ký, nắn nót tỉ mỉ và cẩn trọng mỗi khi lật giở lại: Thứ sáu ngày 13, trời mưa. Đến bây giờ, tôi vẫn giữ vững quan điểm là không phải ai cũng thích hợp làm giáo viên, không phải người nào cũng có thể uốn nắn và chỉ bảo học sinh đi đúng hướng. Ví như cô giáo dạy tôi hồi lớp 4, ví như cô giáo dạy tôi hồi lớp 9. Không phải trước khi gặp cô Hoa thì không có thầy cô nào đáng mến, sự thực là hầu hết các thầy cô khác ở trường cấp hai đều vô cùng tuyệt vời. Nhưng sự tiêu cực lúc nào cũng đeo bám người ta lâu hơn, tôi không sao có thể tin tưởng vào bản thân và nhận định được rằng: Tôi không phải một đứa kém cỏi, thậm chí có thể tạm coi là vượt trội ở một số khía cạnh. Đến khi tôi đủ lớn để hiểu lời giáo viên không phải lúc nào cũng là chân lý, đã biết cố gắng, được về nhà với bố mẹ và gặp được cô Hoa, Chi của bây giờ mới trở thành phiên bản mà chính tôi cũng yêu thích. Và cô Hoa, theo tôi, là một giáo viên, một mẹ hiền đúng nghĩa. Tất cả mọi thứ ở cô đều đáng học hỏi và sự tâm huyết, cống hiến của cô đã truyền cảm hứng cho tôi rất nhiều. Mong ước làm giáo viên của tôi bây giờ cũng xuất phát từ sự ngưỡng mộ với cô giáo, tôi muốn trở thành một giáo viên không chỉ đem lại kiến thức mà còn trao đi nhiều giá trị cho học sinh của mình, như cô Hoa đã, đang và sẽ mãi làm. Một nhà giáo chân chính. Cô Hoa là giáo viên dạy Ngữ văn,cô có nhiều năm công tác trong ngành giáo dục và đã gắn bó với trường Trung học Phổ thông Xuân Lĩnh mười lăm năm có lẻ. Cô hơn bốn mươi tuổi nhưng trẻ trung và thanh lịch đến bất ngờ. Ý tôi không phải là phụ nữ bốn mươi không còn trẻ trung và thanh lịch nữa, mẹ tôi năm nay bốn mươi sáu tuổi nhưng bà ấy vẫn rất đẹp. Chỉ là giáo viên luôn phải không ngừng đổi mới bản thân, tiếp xúc với vô số những học sinh trẻ tuổi nên ở cô và những giáo viên khác trong trường đều có năng lượng vô cùng tươi sáng. Cô Hoa thích mặc váy dài, rất rất thích là đằng khác. Tà áo thướt tha, mùi thơm êm dịu và mái tóc ngắn khẽ ôm lấy gương mặt luôn là thương hiệu của cô. Ngũ quan không quá xuất sắc nhưng nền nã và có chiều sâu, mang vẻ kín đáo rất cổ điển, lúc nào trông cũng như đang mỉm cười và lời nói, cử chỉ luôn tinh tế, dịu dàng. Cô giáo là người tử tế và có nguyên tắc nhất mà tôi từng biết. Mọi thứ ở cô đều hài hòa, không phô trương nhưng cũng không hề ẩn mình, không quá nổi bật nhưng chẳng hề mờ nhạt trong đám đông. Và đặc biệt là lời nói của cô luôn rất đẹp, cả về ý và từ. Cô thích dùng những từ có sắc thái và ý nghĩa tích cực, thường dẫn trích thơ từ một cách đúng mực và ý nhị, là kiểu phụ nữ có học thức và cách nói chuyện đẹp lòng người điển hình. Rõ là cô giáo rất tuyệt vời nhưng sự thực là, tôi từng không thích, thậm chí là e sợ cô trong những ngày đầu . Mọi người đều nói trẻ con không biết gì, dễ quên và dễ bảo. Tôi không nghĩ như thế, từ khi tôi còn Tiểu học, tôi đã nhận ra cô giáo dạy Ngữ văn không thích mình. Có thể do ác cảm cô phơi bày rõ đến độ một đứa trẻ cũng thừa hiểu, hoặc do tôi trời sinh nhạy cảm. Biết vậy nên tôi đã không cố giải thích khi cô chụp nồi ăn cắp lên đầu tôi và viết kín vào học bạ những nhận xét tiêu cực. Và những ký ức ấy vẫn theo tôi tới tận cấp ba. Tôi đặc biệt sợ hãi những giáo viên dạy Ngữ văn, ám ảnh với mái tóc ngắn và khuyên tai dạng sợi mảnh. Và ngay cái ngày cô Hoa giới thiệu bản thân trước lớp với chúng tôi, hình ảnh cô gần như khớp lại với người phụ nữ đó. Tôi từng cầu nguyện mỗi ngày với mong ước khi lên cấp ba sẽ thật khác, tôi sẽ bắt đầu mọi thứ lại từ đầu. Vậy chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô giáo cũng ghét tôi? Tôi sẽ phải sống sao ở một môi trường mới?… Tôi đã lo sợ vô cớ như thế trong một thời gian dài và lao vào học tập như một cách để làm yên lòng bản thân. Thời gian đó, dù chăm chỉ học bài và được nhiều điểm tốt ở nhiều môn nhưng tôi vô cùng e ngại môn Ngữ văn, trong giờ cô giáo, tôi ngồi im thin thít và cầu mong cô giáo đừng chú ý đến mình. Lớp học có bốn mươi bốn học sinh, nếu tôi thật sự tĩnh lặng và ngoan ngoãn, cô giáo không thể nào để ý tới tôi được. Sức lực con người là có hạn mà. Bởi vậy, ban đầu kế hoạch của tôi khá thành công, tôi đã “ yên bình ” suốt một thời gian khá dài, đắp lên mình hình tượng học sinh ngoan, trầm tính đến độ như câm lặng trong giờ Ngữ văn. Nhưng cuộc sống mà, sẽ luôn có những chuyện bất ngờ xảy đến. Luôn có những thứ vượt khỏi tầm kiểm soát của ta. Vì nhà tôi và quê ngoại của cô giáo gần nhau, khi tôi hỏng xe và không liên lạc được với bố mẹ, cô đã đưa tôi về, tiện thể thăm nhà. Hôm ấy là thứ sáu ngày 13. Bạn biết đấy, thứ sáu ngày 13 là một ngày đặc biệt tâm linh,xui xẻo. Tôi đã rất lo lắng, con người tôi ấy à, không giỏi nói chuyện, đưa đẩy, nhạt nhẽo và chẳng thể tự tạo ra một cuộc hội thoại đúng nghĩa. Nếu cô giáo trò chuyện cùng tôi và thấy không thích,tôi phải làm sao? Thật ra thì khó có chuyện một người như cô Hoa sẽ ác cảm với người khác, nhất là học sinh của mình chỉ vì em ấy không giỏi nói chuyện. Đó là điều tôi đã đúc kết ra được sau một thời gian quan sát, cô luôn nhắc về những cựu học sinh, dù là người đặc biệt nghịch ngợm bằng thái độ rất tôn trọng, yêu mến. Lớp tôi có vài bạn khá giống tôi ngày trước nhưng cô Hoa đối xử với họ rất bình thường, thậm chí là khoan dung. Phải đính chính một điều là cô Hoa không hề yếu đuối mà cực kỳ có uy với học sinh, phê bình nghiêm khắc nhưng lời nói không hề mang tính xúc phạm hay động chạm tới lòng tự trọng của người khác. Đây là một điều hiếm hoi vì người lớn thường không đối xử với con trẻ trong vị thế ngang bằng. Mỗi khi nói gì đó không thật sự đúng, cô đều ngay lập tức xin lỗi chúng tôi với thái độ cực kỳ chân thành. Tôi biết cô giáo rất tốt, nhưng tôi vẫn sợ. Có thể bạn thấy tôi hơi thái quá, nhưng tôi vốn không phải một học sinh được lòng thầy cô, và giờ tôi phải trực tiếp ở cạnh người sẽ ảnh hưởng to lớn tới ba năm cấp ba của tôi. Tôi đã trốn tránh trong một thời gian dài nhưng điều tôi không mong muốn vẫn đến.Vậy nếu lời nguyền giáo viên dạy Ngữ văn lại tiếp diễn thì sao? Khi bước vào xe của cô giáo, một cảm giác không tốt đã xuất hiện. Vì trời mưa nên giày tôi đã lấm tấm bùn, nhìn nội thất sạch sẽ và tấm thảm nhỏ đặt trên sàn, tôi thấy xấu hổ lạ lùng. Quả nhiên, một dấu chân in lại trên tấm thảm mềm mại, trông nhếch nhác và bẩn thỉu. Tôi ngồi ghế sau, cô giáo lái xe. Vừa đưa mắt lên nhìn, tôi đã thấy cô đang mỉm cười.Cô Hoa có đôi mắt rất trong sáng, thường thì khi có tuổi hơn thì sẽ không thể sáng như vậy, đuôi mắt khẽ nhếch, hiền dịu và ấm áp. Cô giáo mở lời bằng chất giọng êm dịu, cô hỏi tôi những câu bâng quơ mang tính chất gợi mở, để bầu không khí không quá ngột ngạt. Tôi dè dặt ôm lấy cặp sách, thỉnh thoảng đáp lại câu được câu không. Tôi là một đứa nhạt nhẽo, chậm chạp và không giỏi ứng biến. Tôi dám chắc nếu ở đây là đám bạn thân của tôi, cái Linh,cái Mai, cái Tuyết, tụi nó sẽ không để cuộc trò chuyện trôi qua thế này. Nhưng đó lại là tôi. Chuyện chỉ thực sự thay đổi khi cô giáo mở đài lên, đài đang phát chương trình giao lưu văn học, cô MC đang đọc “Cố hương” của Lỗ Tấn -btác giả mà tôi cực kỳ, cực kỳ yêu thích.Có lẽ qua gương chiếu hậu, thấy ánh mắt chăm chú của tôi,cô Hoa khẽ hỏi: Chi thích Lỗ Tấn à? Thật ra tôi không phải một đứa ít nói, nhưng tôi chỉ thoải mái nói chuyện khi ở cạnh những đứa bạn thân quen, về những chủ đề tôi đặc biệt yêu thích. Những lúc có cơ hội được chia sẻ những điều mình biết, tôi bạo dạn đến bất ngờ. Câu hỏi của cô như vặn mở một công tắc nào đó, và cô trò bắt đầu thoải mái với nhau hơn. Tôi đã nói ý kiến của mình về “Thuốc” của Lỗ Tấn, truyện ngắn tôi yêu thích chỉ sau “Chí Phèo ” của Nam Cao với cô Hoa những mười phút hơn. Cô giáo muốn đi mua quà sinh nhật cho con trai nên “ xin phép ” đưa tôi về nhà muộn hơn chút. Và cô đã mua bánh và nước vì sợ tôi đói bụng. Trong thời gian đó, tôi nói tất tần tật những gì tôi yêu mến với cô giáo, từ tác phẩm tôi yêu thích đến câu chuyện đằng sau đó mà tôi có tìm hiểu được. Cô giáo là một người có khả năng lắng nghe tuyệt vời, bất cứ khi nào tôi đưa mắt xem thử cô có phản cảm không( vì tôi nói nhiều quá) thì đều thấy cô đang nghiền ngẫm cẩn thận, đôi khi gật gù tỏ ý đồng tình. Điều đó làm tôi đặc biệt vui sướng, như được tiếp thêm sức mạnh. Đến khi tôi dừng lại để ăn bánh thì cô giáo đột ngột nói:“ Năm ngoái, vào lần đầu cô thấy Chi, em cũng đang ăn một cái bánh như thế này”. Cô đưa tay ra như để miêu tả:“ Lúc ấy em mới cao có chừng này, vừa ăn vừa khóc, trông thương lắm ”. Tôi sững người lại, lát sau mới nhớ tới sự kiện cô nhắc đến. Tôi là một đứa sĩ diện, có uất ức thế nào cũng chỉ trộm khóc trong chăn, lần duy nhất tôi tỏ ra yếu đuối ở ngoài đường cũng chỉ có lần đó thôi. Đó là khi biết tin bản thân trượt giải Tỉnh, tôi đã khóc bù lu bù loa ngay trước cửa tiệm tạp hóa gần trường. Tôi vốn không phải đứa thông minh xuất chúng, ưu điểm duy nhất cuối cùng lại vẫn không đưa tôi đi xa hơn được. Nên lần ấy, tôi khóc đến độ như sắp hết hơi, trên tay vẫn nắm chặt chiếc bánh mì mua vội, không ngờ lại bị cô giáo nhìn thấy. Tôi tảng lờ đi, coi như không có chuyện gì:“ Thế ạ, năm nay đúng là em có cao lên thật”. Cô nở nụ cười, cô đủ trải đời để biết một con nhóc như tôi nghĩ gì. Cô Hoa nói tiếp:“ Cô cứ nhớ mãi cái hình ảnh đấy, không ngờ sau này Chi lại thành học sinh của cô.” Dừng vài giây, cô khẽ nheo mắt:“ Các thầy cô có khen nhiều về Chi lắm, em rất tích cực và năng động. Nhưng đến tiết của cô, cô thấy hiếm hoi lắm em mới ngẩng đầu lên một lần. Còn lại, phần lớn thời gian, em chỉ cắm cúi ghi chép .Cô cứ sợ Chi có ý kiến với cô. ” Nói đến đây, cô lại mỉm cười, nom rất vui vẻ:“ Nhưng hôm nay cô biết là không phải rồi. Cô trò mình thế mà lại hợp nhau đấy ”. Tôi không rõ cảm xúc lúc ấy của mình thực sự thế nào nữa. Một mặt tôi thấy may mắn vì cô không hỏi sâu hơn, ví như tại sao tôi lại khóc. Nhưng ở nơi nào đó, có một phần trong tôi lại thất vọng vì cô không hỏi chuyện, để tôi có cơ hội được giãi bày. Tôi chưa từng thực sự kể hết toàn bộ sự tình cho bất kỳ ai, kể cả bố mẹ. Bố mẹ tôi đặc biệt tôn trọng những người có học, luôn coi mọi lời của giáo viên là chân lý. Khi nhận được những phản hồi tiêu cực từ giáo viên của con gái, họ tin tưởng không chút nghi ngờ. Tôi khao khát được lắng nghe và tin tưởng từ rất lâu rồi. Lũ bạn thân mà tôi có đã tiếp cho tôi nhiều sức mạnh nhưng chúng tôi đều là những đứa trẻ, vẫn cần bàn tay dìu dắt của người lớn. Và giờ,cô Thanh Hoa, người sẽ không phán xét, luôn tôn trọng và lắng nghe đang ở ngay trước mặt tôi. Tôi mân mê quai cặp, do dự. Nếu nói ra, liệu cô có nghĩ tôi là một đứa hay đổ lỗi, nói xấu giáo viên không? Lỡ thiện cảm vừa mới xây dựng lại tan biến thì sao? Nhưng đẩy mọi vấn đề về phía học sinh và để chúng tự giải quyết không phải cách của cô Hoa. Cô giáo nói:“ Cô có nghe cô Minh Trang khen nhiều về Chi, hẳn là em đã học hành chăm chỉ lắm ”. Không hiểu sao tôi lại muốn khóc, và tôi đã khóc thật. Tôi bật khóc khi trên tay vẫn cầm túi bánh, còn cô Hoa thì lo lắng đỗ xe lại, nhoài người xuống nhìn tôi. Giây phút mắt đối mắt ấy, tôi biết mình đã chọn được đúng người. Một người sẵn sàng lắng nghe những tâm tư tôi vẫn giấu kín. Tôi nói với cô trong tiếng nấc:“ Dù em không ở cạnh bố mẹ, em học không giỏi, nhưng em thực sự không ăn trộm. Em không phải đứa ăn cắp. Em không hề làm thế ”. Dù câu từ tôi thốt ra lộn xộn, không theo quy luật, nghĩ đến cái gì thì nói cái đấy nhưng cô vẫn chăm chú lắng nghe, khi tôi nói đến đoạn cô giáo hồi Tiểu học đưa tay lục lọi khắp người tôi ngay trước mặt tất cả mọi người, tôi thấy mắt cô lấp loáng ánh nước, thoáng vẻ xót xa. Cô đã khẽ ôm lấy tôi và nói những lời đến giờ tôi vẫn nhớ như in:“ Không sao, không sao. Đừng khóc, không phải lỗi của em đâu, thật sự vấn đề không nằm ở em đâu. Em đã làm rất tốt rồi ”. Đó là cái ôm đầu tiên tôi nhận được từ người lớn mà không phải ông bà bố mẹ. Cái ôm ấy chỉ khẽ khàng mà hơi ấm của nó vẫn như đang phảng phất đâu đây. Tôi vẫn luôn tin rằng, giữa người với người, không gì hơn sự tôn trọng và công nhận. Và ở cô Trần Thanh Hoa, một giáo viên đã dành hơn mười lăm năm phấn đấu vì sự nghiệp giáo dục, cô thấu tỏ những lẽ ấy hơn bất kỳ ai. Cái cô trao cho tôi không chỉ là một cái ôm, một cuộc trò chuyện chưa tới ba mươi phút mà là hơi ấm, sự lắng nghe tôi đã khát vọng từ lâu. Đâu cần phải là những điều lớn lao và cao cả, chỉ cần thế thôi, cốt cách của một nhà giáo chân chính đã “thuần hóa” được tôi. Tôi đã không còn là một đứa phản nghịch từ khi lên lớp 10 nhưng trong tôi có một luồng ác cảm, chống đối mãnh liệt và sự thất vọng với những nhà giáo nhân dân. Và cô Hoa đã xóa bỏ nó, triệt để. “Sai lầm của người khác, sao em lại phải trả giá?” Lời cuối cùng cô hỏi trước khi cô trò tạm biệt đã thúc một cú giáng mạnh mẽ vào tâm trí của tôi. Những giáo viên mà không xứng làm giáo viên đã vùi dập, đóng đinh cho tôi những nhãn mác tồi tệ, để rồi tôi đã trưởng thành giống như những gì họ phán định. Trong những năm tháng cắp sách đến trường trước đó, tôi đã phí phạm tuổi trẻ của mình như thế đấy. Họ không phải trả giá, còn tôi lại trở thành như thế này. Lời của cô giáo đã thức tỉnh tôi, trong mọi phương diện. Tôi không bao giờ cho phép bản thân sa ngã một lần nữa. Không bao giờ. Rõ ràng chỉ là một cuộc nói chuyện vụn vặt, vài ba câu khen ngợi và đôi lời chia sẻ, tôi lại không sao quên được ngày hôm đó. Mưa nhỏ lất phất, mùi thơm dìu dịu, mắt chạm mắt, hai cô trò thấu hiểu và tôn trọng nhau. Trong cuốn nhật ký tôi viết năm lớp 10, có một câu thế này :“ Tôi muốn được yêu thương, và sống cuộc đời không hổ thẹn ”. Một nửa là khát khao của con bé thiếu thốn sự quan tâm và tôn trọng, một nửa, tôi nhận được từ cô giáo Trần Thanh Hoa. #Vietchualanh #Một_nhà_giáo_chân_chính

  • TTS feed content

    Cơn Giông Kéo Cầu Vồng “ Khi nào cậu thấy bình yên “ “ Hoàng hôn! Còn cậu “ Ánh mắt vô định của cô ấy nhìn ra cửa sổ duy nhất trong căn phòng đầy đau thương:” Cầu vồng sau cơn mưa “ Câu trả lời tưởng chừng trái ngược nhưng hợp nhau đến bất ngờ. Nếu hôm nay trời mưa, ngày mai thường có hoàng hôn thật đẹp. Câu nói vô tình mà hữu ý này như sớm đã ướm chừng lên cuộc sống của tôi, chúng ta và mọi người. Tôi nhìn cô ấy rồi vô thức nhìn sang chiếc đồng hồ đối diện cửa sổ phản chiếu từng hạt mưa, tâm trí quay lại dòng thời gian về mười hai năm trước. Tôi thuở tám tuổi, cô bạn ấy tên Thanh dĩ nhiên cũng bằng tuổi tôi nốt. Tôi thích chơi với các bạn cùng tuổi, nhưng đó không phải lí do chúng tôi quen biết nhau đến tận bây giờ. Kể ra quá trình gặp gỡ cũng ngang trái nếu không muốn nói là nghiệt duyên. Tiếng chuông báo thức reo inh ỏi vào sáng sớm buộc tôi cố gắng với lấy tay để tắt, định lòng ngủ thêm 5 phút nữa thế mà cánh tay nhỏ bé đã không để tôi như ý. Vừa với đến chiếc đồng hồ bỗng cả cơ thể đổ ầm từ trên giường xuống, má trái áp vào mặt sàn có chút lạnh, cơn buồn ngủ dần chuyển sang cơn đau khắp người, cơ mặt tôi nhăn nhó chẳng khác gì tờ giấy bị nhàu nát. Hai tay gắng gượng đẩy cả cơ thể nặng trĩu ngồi dậy chẳng còn nỗi mơ màng thay vào đó là sự hoảng loạn khi nhìn vào chiếc đồng hồ trên tủ điểm sáu giờ ba mươi phút. Nhận ra mình sắp trễ buổi đầu khai giảng, tôi vội vã chuẩn bị mọi thứ để đến trường. Trường tôi cách nhà không xa nhưng cảm giác chạy đến trường lúc trễ giờ mệt không tả nổi. Điều đó không thể ngăn tôi một chút nhìn ngắm đoạn đường quen thuộc đến từng bước chân. Xuân qua thu đến, màu lá nâu héo úa đến đỏ rực phủ kín hàng cây dài, chút nắng nhẹ nhàng in bóng hàng cây. Tôi đương nhiên được hưởng sự che chở của thiên nhiên và sự dịu dàng của nắng, thoáng chốc không khỏi rung động. Cổng trường thân thuộc ngay trước mắt những tưởng sắp đi qua, bất giác tôi nhìn xuống mặt đường từ đằng sau một bóng người lao tới. Chưa kịp quay lại, người tôi một lần nữa ôm lấy mặt đường. Tôi ngước mặt lên cố gắng nhìn người đã khiến mình thật thảm hại, thậm chí không có ý định xin lỗi tôi. Dáng người nhỏ và mái tóc dài nhìn từ xa đã đẹp, trên phải là một chiếc đồng hồ màu đen, dáng chạy vội vã vẫn toát lên vẻ kiêu kì, tinh tế. Tôi cố gắng ghi nhớ thật kỹ hình ảnh của nhỏ để còn gặp lại, cổng trường như đợi nhỏ đi qua để đóng lại, tôi bất lực nhìn theo. Thế là trễ giờ. Sau hôm đó tôi cay cú vô cùng nhất quyết tìm bằng được tung tích cô gái khiến mình trễ học. Lục khắp trường 3 ngày trời mà chẳng thấy, tôi nghĩ chắc không phải do làm mình ngã thấy có lỗi quá nên nghỉ học đâu. Ngày thứ 4, cô chủ nhiệm đến lớp sớm hơn mọi hôm như để thông báo việc quan trọng và đúng thế thật. Cô cất giọng ngọt ngào: -Hôm nay lớp chúng ta có học sinh mới chuyển đến Chưa nói câu hết cả lớp đã bàn tán nháo nhào đoán xem học sinh mới là ai. Tôi ban đầu không quan tâm nhưng lúc sau lại là người ngỡ ngàng nhất vì chiếc đồng hồ và mái tóc dài đó không thể lẫn với ai được, chính là cô gái xô ngã mình. Lúc này tôi mới biết nhỏ tên Châu Tường Thanh, tình cờ cô giáo xếp Thanh ngồi dưới tôi mới hay. Chẳng hiểu sao tôi lại hồi hộp đến lạ. Chuyện quan trọng bây giờ là tìm cách tính sổ với nhỏ Thanh, ban đầu tôi nghĩ đơn giản là bắt nó xin lỗi rồi mua đồ ăn đền tôi thôi. Ấy vậy mà ngồi chung được vài ngày tôi phát hiện Thanh khá ngây thơ và dễ dàng tin tưởng người khác dù cậu ấy trong top học sinh xuất sắc của trường. Còn nữa nhỏ vừa thân thiện vừa tốt bụng nên nhanh chóng chiếm được cảm tình của bạn bè, đồng thời chiếm mất sự chú ý của tôi với mọi người vì trước giờ từ phong trào, văn nghệ đến học tập tôi đều nổi bật. Thế là tôi bắt đầu kế hoạch khác của mình, tôi sẽ kết thân với Thanh và khi hai đứa đã là những người bạn tốt rồi tôi sẽ nghỉ chơi với cô ấy để cô ấy buồn vài ngày. Lúc đó tôi thấy mình thật thông minh mà không biết rằng đó là người mà mãi sau này mình vẫn ghi nhớ. Cho Thanh mượn đồ, ăn chung với Thanh, nhờ Thanh chỉ bài, chờ Thanh khi tan học,…. Đúng như kế hoạch rằng khoảng cách giữ tôi và cậu ấy đã gần hơn rất nhiều, thậm chí cổ còn phụ thuộc vào tôi. Nhưng tôi biết người không ổn là mình vì tôi biết mình không thể rời xa cậu ấy rồi. Đến tận 2 năm sau tôi nhắc lại chuyện bạn làm mình xấu hổ năm nào. Mới ngỡ rằng hóa ra bạn ấy không hề đụng trúng tôi, chi do tôi vấp té bởi cái ổ gà nhỏ bé dưới chân. Hóa ra mọi chuyện đều là trùng hợp thế nhưng tôi phải cảm mơn sự tình cờ có sắp đặt này. Bởi tôi đã gặp được người mình nên trân trọng cả cuộc đời, không biết từ khi nào người bạn ấy đã vô cùng quan trọng đối với tôi. Có lẽ là những lần chỉ tôi học bài, cùng ăn trưa ở trường, cùng đi về trên đường mùa thu đỏ rực tán lá, chúng tôi kết nối với nhau từ những điều đơn giản mà ngập tràn niềm vui đó. Lớn lên, với tôi đó là khoảng thời gian yên bình và hạnh phúc nhất bởi cuộc sống sau đó là chuỗi ngày phiền muộn dài bất tận. Gia đình Thanh vô cùng dư giả, vì muốn con được phát triển toàn diện hơn nên vào cấp 2 bố mẹ đã cho cậu ấy học trường quốc tế, họ chuyển nhà

  • TTS feed content

    Chủ đề : TUỔI THƠ LÀ GÌ Bạn có muốn làm trẻ con không chứ ? Hiển nhiên câu trả lời sẽ là ” không ” chứ ! Tôi muốn đúng lắm chứ nhỉ ? Đó là lúc khi trẻ con , bạn không làm được những điều mà mình mong muốn , bị gia đình , người lớn ép buộc và sắp đặt bản thân mình . Nhưng bạn phải cần biết đó là những con người trưởng thành , không ít con người trong số họ đã ao ước được quay trở lại những thời cô bé , cậu bé lúc năm Tuổi đến mười tuổi . Vì lẽ đó nên bạn phải trân trọng tuổi thơ của chính mình đi nha . Nhưng…” Tuổi thơ ” là gì có thể khiến bao nhiêu người ta ao ước được quay trở lại . Tuổi thơ về căn bản , trên lý thuyết là khoảng thời gian con người chưa trưởng thành , vẫn còn là trẻ con . Đó sẽ là định nghĩa duy nhất mà bạn có thể nghĩ đến . Tuy nhiên tuổi thơ không chỉ là thuần túy như vậy . Đó là khoảng thời gian đẹp nhất mà đấng tạo hóa đã rộng rãi ban cho mỗi một con người chúng ta . Nếu ví dụ cuộc đời bạn như một quyển sách do chính bạn viết nên vì tuổi thơ đó chính là chương đầu tiên . Và lời lẽ trong chương này vô cùng trong sáng , hồn nhiên và đồng thời cũng sẽ là phần hay duy nhất ở trong cuốn sách do mình viết nên. Tuổi thơ được thể hiện rõ nét qua sự ngây thơ , tiếng cười ngập tràn đầy vui vẻ , sự ngộ nghĩ thậm chí là một thứ gì đó như sư ngốc nghếch , nhưng mà là theo một cách rất chi là dễ thương và sự đáng yêu đấy . Dĩ nhiên , tuổi thơ cũng có thể thấm một chút màu sắc cô đơn , trong một trường hợp nào đó , hay ánh mắt buồn trên khuôn mặt hồn nhiên ấy . Nhưng không đáng kể gì đâu , bởi tuổi thơ được làm nên từ màu sắc thuần túy của sự hạnh phúc. Nếu bạn trở thành một người lớn để được tự do , không phải thuộc thuộc vào người khác . Có thể bạn suy nghĩ lại đấy ! Nếu không phân tích kĩ ta sẽ thấy . Một đứa trẻ cần học tập cho tốt , chơi đùa với bạn bè vui vẻ không cần phải suy nghĩ lo âu và suy nghĩ . Ngược lại , khi đã lớn lên bạn sẽ phải chịu đựng rất nhiều . Bạn phải tính trước cho tương lai của chính mình , đưa ra mọi quyết định cho bản thân mình và thật khó để biết đâu là lựa chọn đúng , đặc biệt khi lựa chọn đó quyết định cho cuộc đời bạn . Vậy bạn chọn bên nào nhỉ ? Khi còn tuổi học trò , bạn sẽ thấy mình hạnh phúc với vô số bạn bè luôn sẵn lòng giúp đỡ và cùng nhau tiến lên . Lớn rồi , bạn sẽ đảm bảo được điều đó khi không phải đối mặt với xã hội , khi một cái xã hội khi không có một người tốt nhưng đầy rẫy sự bất công , trong cuộc ranh đua không lành mạnh . Con người ta giờ đây đâu có hồn nhiên như xưa , đâu còn tỉnh táo trước của cải , chức tước… không hề giống với sự cạnh tranh trong học tập giữa các cô , cậu học trò ngây thơ , vui vẻ . Tôi sẽ không nghĩ bạn thật sự muốn lớn nhanh đâu. So sánh với việc bạn phải trở thành một người lớn thì được làm trẻ con sẽ thật tuyệt vời nhỉ . Không những thế mà còn rất quan trọng . Như đã nói lúc nãy tuổi thơ sẽ là chương đầu tiên của trang sách nếu cuộc đời bạn như một quyển sách . Một quyển sách không thể thiếu phần đầu tiên được . Cũng như khi đọc sách bạn cũng không thể thiếu phần giữa và phần kết , bạn sẽ cho đó không phải là một quyển sách hay . Từ đó , ta có thể nhìn thấy tuổi thơ làm nên cuộc sống này đẹp hơn hết . Nếu có một người nào đó quên kí ức tuổi thơ , thì tôi nghĩ người đó bất hạnh nhất quả đất này . Tuổi thơ chất chứa bao nhiêu kỉ niệm đẹp . Nếu tuổi thơ như một thước phim dài ba mươi phút thì tôi dám cá rằng có hơn hai mươi lăm phút hình ảnh đẹp , những kỉ niệm , những kí ức tuyệt vời nhất mà không một ai trong bản thân muốn mất đi . Có khi nào bạn tư hỏi , tại sao mỗi con người điều có tuổi thơ không ? À mà dùng từ ” phải ” có vẻ không đúng , phải là từ ” được ” mới chính xác chứ ! Để tôi nói cho nghe nhé . Đó là gì mỗi chúng ta điều có ” Bạn đường ” là sao ? Bạn đang nghĩ như thế chứ gì ? Bạn đường là bạn sẽ song song với bạn trong cuộc hành trình , giúp đỡ bạn và an ủi bạn bất cứ khi nào bạn cần . Và hành trình tôi muốn nói đến trong cuộc sống và ” Bạn đường ” chính là những kỉ niệm đẹp . Những kỉ niệm sẽ vô về trong tâm hồn bạn khi lạc vào sự buồn bả . Chính vì thế , chúng ta mới được ban tặng cho bạn một thứ gọi là tuổi thơ. Tuổi thơ của mỗi người chỉ có một không bao giờ có tuổi thơ thứ hai , cũng như bố , như mẹ . Nếu không tận dụng , không sống cho tốt khoảng thời gian còn quý hơn vàng , ngọc ấy , thì khi nó qua đi , tất cả chúng ta có thể làm được là sự tiếc nuối . Vậy hãy làm cho tuổi thơ mình thành một thước phim tuyệt với của mười mấy năm thời thơ ấu , của sư hạnh phúc , của sự trong sáng và sự hồn nhiên , có lẽ đó là những gì mà con nít chúng ta có thể làm được đấy. Hãy biến tuổi thơ của mình thành một thiên đường dành cho riêng bạn nếu bạn vẫn còn có thể . Còn nếu bạn đã trưởng thành và tuổi thơ của bạn thật sự đẹp thì bạn đã có một người bạn đường thật sự rồi đấy và dù cho bạn có phạm phải lỗi lầm để đánh mất tuổi thơ đẹp đẽ thì cũng xin đừng tiếp nuối mà hãy tiếp tục vươn mình tiến lên nữa ! Và dù thật tuyệt vời thù cũng không ai có thê sống mãi trong tuổi thơ .

  • TTS feed content

    @Bình Thường3013 Đôi lời tâm sự gửi đến bạn vào những ngày “trời không nắng”. Nếu bạn đã hoặc đang cảm thấy chênh vênh trên hành trình trưởng thành của chính mình. Nếu bạn mất niềm tin vào bản thân. Nếu bạn thấy áp lực với thế giới “muôn vàn thành tựu” ngoài kia. Bạn không cô đơn. Ai cũng mang trong mình những nỗi khổ tâm không thể giải bày. Hy vọng đôi lời tâm sự từ chính tôi, người cũng đang loay hoay tìm cho mình một lối thoát giữa những mối ngổn ngang ấy, sẽ là người bạn đồng hành đồng cảm và xoa dịu tâm hồn bạn vào những khi “nắng tắt”.

  • TTS feed content

    “TỰ CHỮA LÀNH SAU LY HÔN: HÀNH TRÌNH 11 NĂM BƯỚC RA ÁNH SÁNG” Tôi không viết bài này để kể khổ. Tôi viết nó để nói với những ai từng đi qua nỗi đau: rằng bạn sẽ vượt qua được. Nếu tôi – một người phụ nữ từng ngồi trên sân thượng giữa đêm mưa, ướt sũng nước mắt và nghĩ đến cái chết vẫn có thể đứng dậy, nuôi hai con gái nên người và tự chữa lành tâm hồn bằng những trang viết, thì bạn cũng có thể. Biến cố hôn nhân năm 2014 là cơn bão lớn nhất đời tôi. Khi ấy, tôi có một gia đình nhìn bề ngoài tưởng rất hạnh phúc: một người chồng thành đạt, một cô con gái xinh xắn, công việc ổn định, kinh tế khá giả và tôi đang là nghiên cứu sinh. Tôi đã từng tin rằng: chỉ cần mình tử tế, hết lòng vì gia đình, thì hạnh phúc sẽ bền lâu. Nhưng tôi đã nhầm. Khi chồng tôi nói rằng không còn yêu tối nữa, cả thế giới trong tôi như sụp đổ. Tôi không dám nói với ai. Không với bố mẹ, không với bạn bè, không với đồng nghiệp. Tôi sợ bị thương hại, sợ bị phán xét. Mỗi đêm tôi khóc đến nghẹt thở, rồi sáng hôm sau lại trang điểm thật kỹ để che đi đôi mắt sưng mọng. Tôi vẫn đi làm, vẫn dạy học, vẫn viết luận án tiến sĩ, vẫn mang thai và sinh bé gái thứ hai. Mọi thứ diễn ra như thể tôi là người đàn bà hạnh phúc nhất. Nhưng chỉ tôi biết: tôi đang sống như một bóng ma. Tôi không ly hôn. Không phải vì không đủ đau, mà vì không thể. Luật không cho phép ly hôn khi đang mang thai, khi con dưới một tuổi. Nhưng hơn cả, tôi sợ các con tổn thương. Tôi đã chọn tha thứ. Chọn hy sinh. Chọn sống bên một người chồng không còn yêu mình. Ba năm tôi ngủ mỗi đêm chỉ ba tiếng. Tôi gọi giai đoạn ấy là địa ngục trần gian. Trong địa ngục đó, tôi viết. Không phải để kiếm nhuận bút, mà để cứu chính mình. Tôi viết báo từ năm 2005, chỉ là cộng tác viên nghiệp dư. Nhưng đến khi khủng hoảng, những bài viết trở thành cột trụ tinh thần duy nhất giữ tôi khỏi sụp đổ. Tôi gửi bài cho các chuyên mục “Ý kiến”, “Tâm sự”, “Tình yêu – Giới tính”, “Góc nhìn”, “Hôn nhân – Gia đình”, “Nhỏ to tâm sự”, “Trao đổi”, “Bạn đọc”, “Blog thầy thuốc”, “Bạn đọc làm báo”, “Nhịp sống trẻ”, “Văn hóa”…và mỗi lần thấy bài mình được đăng, tôi lại có thêm một lý do để tiếp tục sống. Tôi bắt đầu viết báo nghiệp dư từ khi mới tốt nghiệp đại học và đi làm được 2 năm, cách đây tròn 20 năm. Từ năm 2005, khi mới vào công tác ở một công ty thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam, tôi đã bén duyên với công việc viết lách, bắt đầu từ việc thường xuyên viết bài gửi đăng ở Tạp chí Tư vấn mỏ. Sau đó, tôi lại mạnh dạn viết bài và gửi bài cho Tạp chí Công đoàn Than-Khoáng sản Việt Nam, Tạp chí Than-Khoáng sản Việt Nam. Từ chỗ ban đầu chỉ dám gửi đăng ở tạp chí công ty, tạp chí ngành, sau đó tôi mạnh dạn gửi cho nhiều tạp chí, báo như Văn nghệ trẻ, Người Hà Nội, Vnexpress, Vietnamnet, Dân trí, Lao động, Người lao động, Hà Nội mới, Tuổi trẻ, Sức khỏe và Đời sống, Giáo dục và Thời đại, Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh… Khi bài báo được đăng, lại một cảm xúc khó tả ùa đến, tôi cầm tờ báo đọc gần như thuộc lòng, rồi so sánh với bản thảo xem ban biên tập đã sửa như thế nào để lần sau thay đổi cách viết. Mỗi ngày một chút, thấm dần cho đến khi kỹ năng thành thục đến mức tôi có thể hiểu “gu” của từng tờ báo mà mình cộng tác. Hành trình ấy không chỉ dệt nên một phần đời nghề nghiệp của tôi, mà còn là chỗ dựa tinh thần, là điểm tựa giúp tôi vượt qua nhiều thời khắc khó khăn nhất trong cuộc sống. Viết báo với tôi không phải là công việc chính. Tôi hiện là một viên chức làm việc trong một trường đại học công lập, chuyên môn chính tôi được đào tạo bài bản từ ngôi trường đại học đầu tiên (Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội) là hệ chính quy tiếng Trung Quốc sư phạm, sau đó tôi học thêm văn bằng 2 đại học chuyên ngành Kinh tế đối ngoại tại trường Đại học Ngoại thương Hà Nội và chuyên ngành Luật tại trường Đại học Luật Hà Nội. Tôi chưa từng học nghiệp vụ viết văn, viết báo dù là hệ chính quy hay đào tạo ngắn hạn, viết báo chỉ là “nghề tay trái” mà tôi tự học, tự rèn. Nhưng chính từ cái nghề “tay trái” này, tôi tìm được sự cân bằng, tìm được hạnh phúc và chữa lành tâm hồn mình qua từng con chữ. Hành trình ấy không chỉ dệt nên nghề nghiệp, mà còn chữa lành tâm hồn tôi qua bao thăng trầm, lo âu, bế tắc. Nhiều người hỏi: “Viết báo có chữa lành được tâm trạng không?”. Tôi trả lời có, bằng chính trải nghiệm của mình. Khi những bài viết được đăng, khi độc giả gửi lại lời cảm ơn, bình luận, hay chỉ đơn giản là một lời đồng cảm, tôi nhận ra mình không cô đơn. Viết không còn là sự ghi chép lạnh lùng mà trở thành cây cầu nối giữa tôi và thế giới, giữa một người bình thường với cộng đồng độc giả rộng lớn đang khao khát được lắng nghe và thấu hiểu. Khi ấy, tôi chợt nhận ra: viết báo không chỉ là truyền thông điệp, mà còn tạo dựng cầu nối giữa người viết và người đọc, khiến tôi không cô đơn trên đường đời đầy áp lực. Dẫu chỉ là cộng tác viên, không có thẻ nhà báo, không có quyền đi tác nghiệp lấy tin bài như phóng viên chính thức, tôi chưa bao giờ thấy mình là “người ngoài” trong thế giới báo chí. Vì tôi biết mình luôn viết bằng tất cả sự tử tế, bằng tình yêu nghề chân thành, bằng trách nhiệm và tâm huyết của một người hiểu rằng từng con chữ mình viết ra có thể ảnh hưởng đến nhận thức và hành động của người đọc. Có những đêm tôi thức đến 2h sáng hoặc tỉnh dậy từ 4h sáng để ngồi viết bài cho kịp gửi chuyên mục, có những ngày lễ, Tết tôi tranh thủ ghi chép hiện tượng xã hội, phản ánh tâm tư của người dân. Tôi làm điều đó không vì danh hiệu, cũng không vì sự nổi tiếng, mà vì tôi tin vào giá trị của báo chí – thứ có thể đánh thức lương tri, lan tỏa điều tốt đẹp và góp phần sửa chữa những điều chưa hay, chưa đúng. Tôi viết như thở. Có đêm viết đến 2 giờ sáng, có khi tỉnh dậy lúc 4 giờ để kịp gửi bài đúng chuyên mục. Tôi viết về giáo dục, về phụ nữ, về nỗi đau ly hôn, về những người mẹ đơn thân, về những đứa trẻ cần tình yêu. Mỗi bài viết là một mảnh lòng tôi đặt xuống trang giấy. Có người từng hỏi: “Viết báo có chữa lành được không?” – Tôi xin trả lời: Có. Viết đã cứu tôi. Viết là liều thuốc tinh thần mạnh mẽ nhất mà tôi từng biết. Những ngày tháng sống bên một người chồng lặng im, thờ ơ và lạnh nhạt, tôi như cái bóng trong chính tổ ấm của mình. Có lần tôi sốt đến 40 độ, vẫn phải bế con nhỏ đi tiêm, tự chở về bằng xe máy. Có lúc xe chết máy giữa trời mưa, tôi vừa dắt xe, vừa ôm con, vừa khóc như một đứa trẻ. Không ai hỏi han, không ai giúp đỡ. Tôi biết, tôi chỉ còn chính mình. Năm 2017, tôi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ. Năm 2018, tôi chuyển từ doanh nghiệp nhà nước về một trường đại học gần nhà. Tôi vẫn hy vọng hàn gắn. Nhưng hy vọng ấy vô vọng. Người chồng năm xưa không còn tình cảm, không còn muốn sống bên tôi. Tôi đề nghị ly hôn. Chúng tôi không thống nhất được quyền nuôi con, tài sản. Tôi lại im lặng. Tiếp tục sống như hai người xa lạ trong một mái nhà. Tôi viết nhiều hơn. Viết để trốn chạy khỏi thực tại. Viết để khâu lại những mảnh vỡ trong tim. Viết để không phát điên. Năm 2023, 2024, tôi viết bài 6 tác phẩm dự thi gửi Tạp chí Người Hà Nội và được trao giải phụ: “Bài viết có lượt xem cao nhất” với tác phẩm “Lãng mạn đêm Hà Nội cuối thu”. Năm 2025, tôi được mời lên sóng truyền hình Hà Nội kênh H1 “Hà Nội đến để yêu” với vai trò nhân vật chính dẫn chuyện. Tôi hiểu rằng: những trang viết âm thầm bao năm đã đưa tôi ra khỏi vùng tối. Viết giúp tôi vượt qua bế tắc. Tôi viết mọi lúc có thể: sáng sớm, giờ nghỉ trưa, buổi tối muộn khi các con đã ngủ. Viết để không nhớ đến người không còn thương mình. Viết để thấy lòng dịu lại khi con gái nhỏ thơm lên má mẹ: “Mẹ đừng buồn nữa nhé”. Viết để tự nhắc mình rằng: một ngày nào đó, tôi sẽ đi qua hết thảy. Năm 2022, con gái lớn học xong lớp 10, con gái út học xong lớp 1, tôi quyết định ly hôn. Lần này, không trì hoãn, không lùi bước. Tôi ký đơn với tất cả sự bình thản của một người đã đau quá nhiều để còn biết sợ hãi. Tôi chính thức trở thành mẹ đơn thân. Hơn ba năm sau ly hôn, tôi vẫn ở căn nhà cũ, nhưng đời tôi đã khác. Con gái lớn đã học xong năm thứ nhất ngành Tâm lý học tại Đại học Erasmus Rotterdam, Hà Lan. Con gái nhỏ đã học xong lớp 4. Tôi đi làm, dạy thỉnh giảng, viết báo, dịch thuật, làm thêm tất bật nhưng bình yên. Tôi không giàu, không có người đàn ông bên cạnh, nhưng tôi có hai trái tim bé nhỏ luôn hướng về mẹ. Tôi ly hôn cách đây hơn ba năm. Khi đặt bút ký vào tờ đơn, tôi biết mình đang vĩnh biệt một cuộc hôn nhân không còn hạnh phúc và cũng bắt đầu một hành trình mới: một mình gánh vác cả vai trò của người cha lẫn người mẹ. Hai con gái – một sinh năm 2006, một sinh năm 2015 trở thành ánh sáng dẫn lối, là chỗ bám duy nhất để tôi không gục ngã. Tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc trở thành trụ cột, chỗ dựa, người đồng hành… là tất cả của các con. Tôi từng nghĩ, đau nhất là giây phút ly hôn. Nhưng không – đau nhất là khi người ta đối xử với tôi khác đi vì tôi không còn “là vợ của ai đó”. Có những đồng nghiệp từng rất thân thiết, từng vui vẻ trò chuyện, sẵn sàng giúp đỡ mỗi khi tôi cần. Nhưng từ ngày tôi trở thành mẹ đơn thân, nhiều người trong số họ dần lạnh nhạt, tránh mặt, như thể tôi là một chiếc bóng cần phải né tránh. Họ nhìn tôi như thể tôi đã đánh mất đi một giá trị nào đó, không còn “đáng kết giao”. Tôi buộc phải học cách im lặng, khép kín. Trên mạng xã hội, tôi lọc bạn bè, chặn nhật ký, giữ cho mình một góc yên tĩnh để tránh bị soi mói, phán xét. Tôi sống như một chiếc lá úa nép vào góc rừng, chỉ mong không ai chạm vào. Bạn bè hay trêu: “Sao cậu mãi không yêu ai?, hạ bớt tiêu chuẩn xuống thì mới có người yêu”. Nhưng mấy ai hiểu rằng, tôi không khó, tôi chỉ quá bận để nghĩ đến yêu. Tôi không có nhiều thời gian cho những buổi cà phê thảnh thơi cuối tuần, những chuyến đi du lịch xa vài ngày. Không có sức để bắt đầu một mối quan hệ mà mình cảm thấy không an toàn, không chắc chắn họ sẽ yêu thương vô điều kiện, làm chỗ dựa tốt của 3 mẹ con và sẵn sàng cùng tôi nuôi dạy các con nên người. Có lúc tôi cũng cô đơn, cũng thèm một cái nắm tay, một lời hỏi han ân cần. Nhưng rồi nghĩ đến hai con, tôi lại gạt qua. Tôi không cho phép mình mạo hiểm. Tôi không muốn con gái mình phải chứng kiến một người đàn ông đến rồi đi thêm lần nữa. Tôi từng sốt cao, đau ê ẩm cả người, vẫn phải dậy nấu ăn cho con, rồi tự đi xe ra hiệu thuốc, lặng lẽ uống vài viên hạ sốt rồi lại cặm cụi đi làm. Không phải vì tôi quá mạnh mẽ, mà bởi tôi không có lựa chọn. Nếu tôi ngã xuống, ai sẽ thay tôi lo cho con? Cuộc sống của một người phụ nữ đơn thân không chỉ là thiếu một người đàn ông, mà là thiếu một điểm tựa. Bóng đèn cháy không ai thay, điều hòa hỏng không ai sửa, máy giặt, vòi nước, xe máy… tất cả đều là nỗi lo. Có lần đi dạy thỉnh giảng, trường cách nhà 18km, xe bị chết máy giữa đường, tôi dắt xe bộ mấy cây số trong cơn mưa như trút, một tay giữ xe, một tay ôm điện thoại gọi thợ, nước mưa hòa cùng nước mắt chẳng ai biết. Những lúc mệt mỏi, tôi chỉ muốn có một ai đó để ngả đầu, nhưng không. Tôi phải tự lau nước mắt, tự đứng dậy, vì tôi biết: nếu tôi ngã, chẳng ai thay tôi lo cho các con. Ngày làm việc ở trường, tối làm thêm đến đêm: dịch thuật, viết báo, soạn bài giảng… Có những đêm tôi ngủ chưa đầy bốn tiếng. Bạn bè bảo tôi kén chọn, khó tính, nhưng mấy ai hiểu tôi chẳng còn tâm trí để yêu, chẳng còn thời gian để thảnh thơi. Tôi từng mơ có ai đó yêu thương ba mẹ con, làm chỗ dựa vững chắc cho các con tôi. Nhưng rồi, tôi lại sợ. Sợ con bị tổn thương nếu lại chứng kiến cảnh một người đàn ông bước vào rồi rời đi. Thế là thôi, tôi lại tự ôm lấy mình, gói ghém nỗi cô đơn vào đêm. Tôi từng ước mơ một gia đình bình thường cùng chồng đón con tan học, cùng nhau nấu ăn cuối tuần, cùng đi du lịch. Nhưng tôi đã học cách từ bỏ giấc mơ ấy. Giờ đây, ba mẹ con là một gia đình trọn vẹn theo cách riêng. Tôi ôm con vào lòng khi con gái út thì thầm: “Ước gì con được bố đưa đi chơi như nhà em Pô Pô nhà dì Dung, em Gấu nhà dì Ngà” và nước mắt tôi chảy ngược. Tôi không thể cho con đủ đầy, nhưng tôi sẽ cho con tất cả những gì tôi có: tình yêu, thời gian, sự tận tụy và cả tuổi xuân của mình. Với người khác, việc con có đầy đủ bố mẹ là điều tất yếu. Với tôi, đó là một giấc mơ xa xỉ. Nhưng tôi vẫn luôn cố gắng để con được bù đắp đủ đầy bằng tình yêu, bằng thời gian, bằng tất cả những gì tôi có. Tôi luôn dặn lòng mình: chỉ cần các con trưởng thành, tử tế và hạnh phúc, mọi hy sinh đều xứng đáng. Và tôi đang chờ một điều đặc biệt: ngày 15/7 tới, con gái lớn sẽ về đến Hà Nội nghỉ hè hơn một tháng. Dù đang cuốn vào guồng công việc bận rộn, tôi sẽ gác lại tất cả những việc không thật sự cấp thiết để dành trọn vẹn thời gian ấy cho con. Tôi sẽ nấu cho con những món ăn con thích, cùng con đi dạo Hồ Tây, ngồi bên nhau thật lâu mà không phải lo hôm nay có bao nhiêu việc chưa xong, đầu tháng 8 sẽ đưa 2 con đi du lịch Nha Trang 4 ngày. Tôi biết mình không thể bù đắp hoàn toàn những ngày con sống xa nhà tự cho cho bản thân không có gia đình hỗ trợ, nhưng ít nhất, tôi muốn con cảm nhận được: mẹ vẫn luôn dõi theo, yêu thương và tự hào về con bằng tất cả những gì sâu nhất trong tim. Có người hỏi tôi: “Nếu được chọn lại, cậu có chọn con đường này không?”. Tôi lặng im. Bởi nếu không có những năm tháng ấy, tôi đã không học được cách yêu thương chính mình và biết trân trọng từng phút giây bình yên. Cuộc sống không dễ dàng, nhưng tôi chưa bao giờ oán giận. Những mất mát, những cô đơn, những cú ngã… đã dạy tôi một điều lớn nhất: Chỉ có thể dựa vào chính mình. Tôi không mong một cuộc sống đủ đầy vật chất, không mong yêu được một người đàn ông thành đạt, giàu có. Tôi chỉ mong đủ mạnh mẽ để nuôi hai con nên người. Chỉ mong mỗi sáng thức dậy, tôi vẫn còn đủ sức chở con đến lớp, đủ tinh thần đến cơ quan, đủ sự dịu dàng để không trở nên cay nghiệt với cuộc đời. Và nếu có thể, tôi mong xã hội sẽ nhân hậu hơn với những người như tôi – những người từng đau, từng ngã, nhưng vẫn không từ bỏ việc sống tử tế mỗi ngày. Tôi vẫn viết mỗi tối, viết khi lòng trống rỗng, viết cả khi hạnh phúc. Viết để đối thoại với chính mình. Viết để giữ sự dịu dàng trong trái tim. Viết để không trở nên cay nghiệt với cuộc đời. Viết để gieo hy vọng cho người khác. Tôi chưa bao giờ học nghiệp vụ viết báo, nhưng tôi học bằng chính nước mắt và những đêm trắng của cuộc đời. Trong suốt hai thập kỷ qua, tôi đã viết trong đủ hoàn cảnh: khi vui, khi buồn, khi rơi vào khủng hoảng tinh thần, khi mất đi người thân yêu, khi ly hôn, khi làm mẹ đơn thân một mình nuôi cả hai con gái nhỏ khôn lớn trong hơn 3 năm qua. Nhưng thay vì giữ mãi trong lòng, tôi chọn viết. Bài viết không nhất thiết đăng báo, chỉ đơn giản là để viết và khi đặt bút, tôi tìm thấy sự giải tỏa. Viết là để sẻ chia với các kiếp nhân thế, là cách để tôi cảm nhận sâu sắc yếu tố nhân văn. Bằng cách đó, tôi bán rơi những mệt mỏi, sợ hãi và dần tìm lại tinh thần. Viết giúp tôi hóa giải cảm giác bất lực bằng sự kết nối – tôi không độc thoại, mà đối thoại với độc giả, đồng nghiệp, đồng cảnh ngộ. Viết là cách tôi khóc, tôi nói, tôi đối thoại với chính mình. Có những bài tôi viết ra không gửi đi đâu cả, chỉ cất trong máy tính như một nhật ký nghề báo. Nhưng cũng nhờ viết mà tôi từng bước đứng dậy sau biến cố hôn nhân. Tôi viết để tự hỏi và tự trả lời: Tại sao chuyện này xảy ra? Có thể rút ra bài học gì? Người khác có gặp hoàn cảnh tương tự không? Tôi có thể giúp gì cho họ qua bài viết này? Viết là một hành động tự chữa lành. Và chính quá trình viết, dù người khác có đọc hay không, đã giúp tôi vượt qua bế tắc. Đó là một dạng “liệu pháp chữ nghĩa”, là phương thuốc tinh thần hiệu quả nhất mà tôi từng biết. Tôi tin rằng như thế, nghề báo không chỉ đưa tin mà còn gieo mầm thay đổi, gieo niềm hy vọng trong tâm hồn người đọc. Mỗi bài viết được chọn đăng là một lời khẳng định: tôi vẫn còn giá trị. Tôi từng đi qua trầm cảm, từng mất ngủ triền miên, từng cảm thấy mình vô hình giữa cuộc sống. Nhưng chưa một lần tôi gục ngã. Viết báo, dù chỉ là cộng tác viên nghiệp dư, đã cho tôi cơ hội được sống thêm một lần nữa. Tôi không cần được tung hô là “mẹ đơn thân siêu nhân”. Tôi cũng mệt mỏi, cũng cô đơn, cũng có những đêm muốn bật khóc. Nhưng tôi không than trách. Tôi chỉ mong xã hội bớt định kiến với người như tôi. Đừng hỏi vì sao tôi ly hôn. Đừng nói rằng tôi không ra gì nên mới bị bỏ. Mỗi cuộc hôn nhân đổ vỡ đều có lý do. Và không phải ai cũng có lựa chọn khác ngoài rời đi. Nếu được chọn lại, tôi vẫn chọn viết. Vì nhờ viết, tôi hiểu mình hơn, hiểu người hơn, kết nối với thế giới tốt đẹp hơn. Tôi viết về những bà mẹ hy sinh cả đời vì con, về thầy cô tận tụy với học trò, về những em học sinh vượt lên nghịch cảnh. Viết giúp tôi sống tử tế hơn. Có người hỏi: “Nếu không được đăng nữa, chị có còn viết không?” Tôi trả lời: “Vẫn viết. Vì tôi không thể sống mà không viết.” Viết báo không chỉ là công cụ chữa lành, mà còn là cách tôi góp phần xây dựng xã hội tử tế. Trong thời đại nhiễu loạn thông tin, báo chí chính thống trung thực, nhân văn là ánh sáng cần thiết. Dù tôi chỉ là một cộng tác viên nhỏ bé, tôi tự hào vì được là một phần của ánh sáng đó. Tôi đã đi qua 11 năm đầy bão giông: từ biến cố hôn nhân, những nỗ lực hàn gắn, đến ly hôn và tự nuôi 2 con gái. Và tôi đã tự chữa lành bằng chữ nghĩa. Không cần ai cầm tay, không cần ai vỗ vai, tôi đã tự đứng dậy nhờ những dòng chữ mình viết. Tôi không biết tương lai sẽ ra sao. Nhưng tôi biết: chỉ cần mỗi sáng còn có thể chở con gái đến lớp, mỗi tối còn viết được một bài báo, mỗi ngày còn sống tử tế là tôi đã thắng chính mình. Tôi đã học cách buông bỏ hận thù. Sau tất cả những khổ đau, tôi chọn sự bình thản thay vì oán trách. Tôi vẫn giữ mối quan hệ tốt với chồng cũ và gia đình nhà chồng. Hàng năm, tôi đều cho con gái nhỏ về quê ở với ông bà nội cả tháng 6. Tết âm lịch, con vẫn về quê ăn Tết, ở với ông bà cả kỳ nghỉ. Tôi và chồng cũ vẫn trò chuyện như những người bạn. Tôi chưa từng nói xấu chồng cũ hay nhà chồng cũ với hai con. Ngược lại, tôi luôn dạy con kính trọng ông bà nội, yêu thương bố mẹ. Hai con tôi lớn lên trong tình yêu đủ đầy dù không trọn vẹn theo khuôn mẫu nhưng đầy bao dung và nhân hậu. Một ngày nào đó, khi các con tôi đã trưởng thành, sống tử tế và hạnh phúc, tôi sẽ ngồi bên cửa sổ, pha một tách trà nóng, mỉm cười và thì thầm với chính mình: “Mẹ đã làm được rồi, các con yêu dấu ơi.” # Vietchualanh #Tuchualanhsaulyhonhanhtrinh11nambuocraanhsang

  • TTS feed content

    “Chúng ta chữa lành – không phải bằng cách quên đi, mà bằng cách dịu dàng với chính những tổn thương của mình.” Có những nỗi đau không thể khóc, cũng không thể nói. Nó ngồn ngào đến mức, chỉ có thể ngồi xuống và viết. Tôi bĐầu viết như thế, không để trở thành nhà văn, cũng chẳng vì muốn ai đọc, mà để tự cứu lấy chính mình. Mỗi trang giấy là một đốm sáng nhỏ nhỏi trong hang tối. Mỗi con chữ là một vết khâu, dù xiên vào da thịt nhưng giúc vết thương lành lại. Tôi đã viết cho mình suốt nhiều năm, viết cho cô bé trong tôi đã từng khóc thầm lặng sau cánh cửa lớp học, viết cho người phụ nữ mới lớn chạy trụi về sau một cuộc tình đắm nước mắt. Tôi học cách viết thư cho quá khứ, rồi gửi cho tương lai. “Tôi của hôm nay” gửi lời cho “tôi của ngày mai”: Rằng em đã rất can đảm, rằng em đã không trốn chạy. Viết giúc tôi thấu cảm hơn với chính mình. Có những vết thương tưởng chỉ là vết xước nhỏ, nhưng khi viết ra, tôi mới nhận ra đó là những đốm đỎn ám ảnh một quãng đời. Năm lớp 8, tôi có một cô giáo văn lặng lẽ, hay mặc áo dài màu xanh ngọc. Cô không bảo chúng tôi viết để được điểm cao, mà bảo viết để hiểu chính mình. “Em sợ điều gì nhất?” – đó là đề bài văn đầu tiên. Tôi đã viết về việc sợ một ngày mà không còn ai đọn mình sau giờ tan học. Cô đã đọc và đặt bên lề: “Thấy được em nhỏ lừa lừa trong nó, và điều đó rất đẹp.” Tôi đã giữ lời phản hồi đó suốt nhiều năm. Cô đã qua đời vì ung thư sau đó, nhưng với tôi, cô đã gieo một hạt mầm. Tôi gặp anh trong một lớp luyện viết trực tuyến. Anh tự nhận mình từng điều trị trầm cảm suốt hai năm, đã từ tử nhưng không thành. “Tôi viết vì đó là cách duy nhất giữu tôi ở lại.” – anh viết trong truyện ngắn. Anh đã viết về việc ngồi trong bệnh viện tâm thần, về những ngày được y tá chọn đọc một trang văn tự sáng tác. Giờ đây, anh đã là biên tập viên cho một tạp chí online, giúc những người trẺ đem nỗi đau của họ lên trang viết. Tôi từng viết cho bà nội sau khi bà mất. Viết cho con chó nhỏ tên Mèo đã đi lạc không về. Viết cho một người bạn đã quên nhau sau một lời hiểu lầm. Viết không để nên kết, viết để giãi thoát. Viết để tiễn đi một điều đã từng rất đẹp. *”Gửi em – người con gái đã từng gục ngã…* Em đã đi qua nhiều đống lửa, nhiều nỗi đau đến mức nghi ngờ chính mình. Em đã có lúc tối tủi, đã tự hỏi: Vì sao phải tiếp tục? Nhưng em vẫn ở đây. Có thể chưa lành hốn, nhưng đã dịu dàng hơn. Có thể chưa thể yêu đời lập tức, nhưng đã học cách không tự ghêt mình nữa. Tiếp tục viết nhé. Có thể người không hiểu, nhưng em hiểu. Có thể ai đó quay lưng, nhưng trang giấy thì không.*” Viết đối với tôi giống như hít thở. Nó không làm nỗi đau biến mất, nhưng khiến tôi nhận ra: Tôi không đối mặt một mình. Trong thế giới này, đã có biết bao nhiêu người đau mà còn viết? Viết vì họ còn tin. Viết vì họ muốn nhắc mỏi nhau rằng: Dịu dàng vẫn còn. > *Viết – là hành động nhỏ, nhưng mang trong đó sức mạnh lớn. Như ngọn đèn trong tim, dẫn ta bước qua những đêm tối nhất mà không để lạc mình.* #viettchualanh

  • TTS feed content

    (Người giữ tuổi thơ) Marcus Tullius Cicero – một triết gia, chính khách, và nhà hùng biện La Mã nổi tiếng. Trong Tusculanae Disputationes, ông từng viết: “The life of the dead is placed in the memory of the living.” (Tạm dịch: “Sự sống của người đã khuất nằm trong ký ức của người còn sống.”) Tôi thật sự thấm thía khi đọc qua câu nói này. Cái chết không hoàn toàn chấm dứt, người thân yêu của chúng ta sau khi mất đi thì họ vẫn sống mãi. Họ sống trong từng mảnh ký ức, trong lời kể, trong hình ảnh hay thậm chí trong từng con chữ mà ta vẽ ra. Năm tôi 10 tuổi, ông ngoại tôi rời xa thế gian. Đứa trẻ nhỏ bé năm ấy thật sự chưa đủ lớn để hiểu hết 4 từ sinh – ly – tử- biệt, nhưng cũng đủ nhận thức được rằng bản thân vừa trải qua một mất mát to lớn. Ngày ấy, tôi chỉ biết khóc và vùi mình trong nỗi nhớ ông da diết, bởi ông là cả tuổi thơ của tôi, là người đã ấp ôm từ khi tôi chào đời. Cho đến những năm tháng tôi cắp sách đến trường, mỗi buổi sáng khi ánh nắng còn vắt qua kẽ lá, đã có bóng lưng gầy gò đợi tôi trước hiên nhà, bên chiếc xe đạp cũ kĩ đã tróc màu sơn. Suốt ngần ấy năm, tôi đã ngồi sau xe và vòng tay ôm lấy tấm lưng của ông, nghe ông kể những câu chuyện thời ông đi bộ đội, kể về ngày ông và bà gặp nhau, kể những kỉ niệm lúc mẹ tôi còn bé. Ngày qua ngày cứ mãi nghe ông kể chuyện mà tôi không hề hay biết tấm lưng mà tôi ôm lấy đã gầy gò đi rất nhiều. Rồi ông bắt đầu có những cơn đau âm ỉ, ông không ăn được nhiều. Ban đầu ông chỉ cười xoà, bảo chắc do thời tiết trở trời. Rồi những cơn đau ấy cứ hành hạ ông từng ngày, gia đình tôi mới quyết định đưa ông đến bệnh viện tỉnh khám. Ngày cầm tờ chuẩn đoán trong tay, cả nhà tôi ai cũng lặng đi, ông bị “Ung thư gan”, lúc ấy ông còn mỉm cười trấn an mọi người nói rằng già rồi ai mà chả đau ốm , uống thuốc là sẽ khỏi. Căn bệnh lặng lẽ tìm đến ông như một vị khách không mời, âm thầm lấy đi sự khỏe mạnh của người tôi thương. Tôi nhớ như in những đêm ông mất ngủ vì đau, ông ôm bụng, nhăn mặt nhưng chẳng dám nói gì, sợ phiền đến giấc ngủ của tôi và bà. Rồi một buổi sáng đầy mây sớm, ông mệt đến mức không thở nỗi, cả gia đình tôi tức tốc chuyển ông đến viện, sự lo lắng hiện rõ lên đôi mắt của tất cả mọi người. Tôi còn nhỏ không thể theo cùng nên được gửi ở nhà dì, lòng tôi khi ấy cứ thấp thỏm không yên, mỗi lần điện thoại reo lòng tôi như thắt lại, không biết ông ở viện có đau lắm không, có mệt không. Tối đến, không có ông bên cạnh tôi lại nhớ ông da diết, nhớ bàn tay, nhớ hơi ấm từ ông, tôi hận căn bệnh quái át kia đã cướp đi sức khoẻ của người tôi thương, đem ông rời xa tôi. Cái ngày tôi lo sợ nhất cũng đến. Điện thoại reo từng hồi chuông mang theo nỗi lòng nặng nề của tôi. Dì tôi nghe máy, nét mặt chùng xuống, dì không nói gì nhiều chỉ ngồi xuống và nói với tôi ” ông ngoại mất rồi con”. Tai tôi ù, đôi mắt nhoè đi, tim tôi như nhói một nhịp đau buốt. Tôi ngồi im một lúc lâu, không nói, không khóc, chỉ biết là bầu trời trước mắt tôi như sụp đổ, vỡ xuống tan tành. Ba đến rước tôi về nhà, vừa bước xuống xe tôi cứ thế oà lên mà khóc lớn, ngày bé thì chỉ cần ấm ức một xíu thì ông đã dỗ dành. Giờ đây, chẳng còn ai dỗ dành tôi nữa. Tôi bước vào nhà, đi đến nơi ông đang nằm lại, ôm lấy người tôi thương, ôm lấy những mảnh kí ức tuổi thơ của tôi, còn ông ngoại… cứ nằm im lìm như thế mà chẳng để ý đến tôi dù chỉ một lần. Gương mặt ông mỉm cười như thể từ nay ông đã không còn đau nữa. Không gian im lặng chỉ còn tiếng gió thổi qua khe cửa và tiếng nấc nghẹn của tôi. Ông đã đi thật rồi, đó là lần đầu tiên tôi hiểu thế nào là mất mát. Rồi thời gian dần qua đi nhưng nỗi đau và kí ức về ông thì vẫn còn mãi trong tôi. Người đã bên tôi cả tuổi thơ lại không thể chứng kiến tôi trưởng thành lên từng ngày. Năm tôi 15 tuổi, tôi bắt đầu yêu Văn, tôi biết viết và tôi viết rất nhiều. Không biết từ bao giờ trang giấy trắng là nơi tôi gửi gắm nỗi nhớ. Bạn bè tôi thì viết về thời thanh xuân của họ, viết về những ngày hè, những mối tình chớm nở thuở cắp sách đến trường. Còn tôi thì lại viết về ông ngoại – người đã bên tôi bằng kí ức suốt ngần ấy năm qua, về một tuổi thơ dịu dàng mà luôn có ông bên cạnh chăm sóc, bảo vệ. Tôi chẳng còn nhớ nỗi giọng nói của ông ra sao, mái tóc của ông thế nào, nhưng tôi vẫn viết…Tôi viết về ông bằng cảm xúc, bằng kỉ niệm những ngày thơ ấu, bằng cả những điều cuối cùng chưa kịp nói với ông. Tôi viết về những ngày ông chở tôi trên chiếc xe đạp cũ kĩ đến trường. Viết về lòng tôi quặn thắt thế nào khi thấy căn bệnh ấy làm đau ông. Viết về ngày ở nhà dì, lòng thấp thỏm như chim nhỏ lạc tổ. Và cả cái ngày mà ông xa rời thế gian, bỏ lại tôi một đứa trẻ chưa kịp lớn. Tôi biết, ông không đọc được những dòng chữ ấy. Nhưng tôi biết ông vẫn ở đâu đó trong cõi vĩnh hằng này, ông ở một buổi chiều nắng vàng trong tiếng cười đùa của đám trẻ, ông ở trong kí ức, trong trái tim tôi. Càng viết, tôi càng nhận ra ông chưa từng rời xa tôi. Ông sống trong từng con chữ, trong từng hình ảnh tôi vẽ ra bằng kí ức và tình yêu thương thuở ấy – Lặng lẽ nhưng vĩnh viễn. Đến ngày hôm nay, tôi một học sinh lớp 12. Đang ở ngưỡng cửa của trưởng thành, tôi đã lớn và chững chạc hơn xưa. Nhưng hình bóng của ông vẫn không thể tách rời, là một mảnh da thịt của tôi. Sau này, những quyết định quan trọng trong cuộc đời tôi như kỳ thi tốt nghiệp hay giảng đường đại học, ông chẳng thể chứng kiến hay dắt tôi đi. Nhưng tôi biết ông vẫn sống đâu đó trong trái tim tôi- sống một cách bền bỉ và sâu sắc, vẫn luôn tồn tại và dõi theo sự thành công của đứa cháu nhỏ này.