Category: Uncategorized

  • Chương 14

    Một buổi tối bệnh viện, bất ngờ Hơ Thy xuất hiện.

    Chỉ có giấc mơ mới được như vậy!

    Chắc lại một giấc mơ đẹp…

    – Anh Tín. Sao đến nông nỗi này! – Hơ Thy mừng vui thảng thốt.

    – Hơ Thy! Sao em biết anh ở đây? – Tín bàng hoàng không kém.

    – Thế mới tài chứ! Em ngửi thấy mùi anh – Hơ Thy nói hài vui vẻ.

    – Thôi chết, anh lại mơ rồi! – Phút chốc như định thần, Tín lộ vẻ thất vọng.

    – Đùa thôi. Anh quên con Krock rồi hả. Đấy, con chim xanh ấy mách bảo cho em mà!

    – Ôi đúng Krock. Mấy hôm trước nó đã đến đây. Chỉ nói với nhau có mấy câu, hình như có người lạ, nó vội bay biến. Các cô hộ lý thì bảo “chim sa cá nhảy”, báo điềm độc. Anh lại nghĩ chỉ là giấc mơ vớ vẩn. Chẳng tin thứ gì!

    Hai người nhìn nhau như một giấc mơ. 

    Bao nhiêu năm rồi còn gì. 

    Tín bây giờ đã tiều tụy như cái xác chết. 

    Đến cử động chân tay cũng khó. 

    Thế mà đôi mắt của anh bỗng tươi rói, long lanh. Lồng ngực anh ấm lên xao xuyến. Anh cầm lấy đôi bàn tay Hơ Thy bồi hồi như thuở mới gặp nhau. 

    – Bao nhiêu năm em sống ra sao? Anh tưởng em về nơi phú quý quên luôn anh rồi!

    – Ai bảo anh vậy?

    – Thế bây giờ em ở đâu?

    – Em ở làng Dung Dé ấy mà!

    – Nói xạo. Làng đã mất tích. Em thì nghe bảo đi làm ca sĩ!

    – Trời ơi. Anh nghĩ thế thật à! Tội cho em. Làng vẫn ở chỗ cũ. Em đã về với làng từ lâu!

    Thì ra làng Dung Dé không biến mất. 

    Hơ Thy thì vẫn ở trong ngôi làng ấy.

    Chuyện cứ như trong mơ. 

    Thế mà bao nhiêu năm còn ở Tây Nguyên, Tín đã không có cơ hội nào gặp lại…

  • Chương 13

    Tín nghỉ hưu, về quê độ một thời gian thì mẹ già qua đời. Cứ như bà cụ cố gắng chờ con vậy. Dẫu sao bao nhiêu năm lang bạt xa xứ, cuối cùng anh cũng được gần gũi, được chăm nom mẹ những ngày cuối đời, dù chỉ là một thời gian ít ỏi.

    Anh ngậm ngùi thương nhớ.

    Cảnh quê đã thay đổi quá nhiều.

    Người quê đã phiêu tán quá nhiều.

    Bạn đồng lứa có đứa đi bộ đội hy sinh trên chiến trường, có đứa học hành đỗ đạt thành ông này bà nọ cũng tha hương khắp xứ, lại có đứa làm dân cày già hom, chết vì khổ, chết vì rượu rụng rơi hết cả.

    Cách sống, lối sống thôn dã cũng đã đổi khác. Nhà sin sít với nhau. Đường bê tông chằng chịt. Cả làng không còn lấy một bụi tre. Những hàng cau cũng đã bị đốn sạch từ bao giờ. Những bờ ao ăm ắp kỷ niệm tuổi thơ cũng đã bị bồi lấp. Người ta bảo, lấp ao kẻo sợ trẻ con chết đuối. Hoàn cảnh nhà nào cũng con hiếm, không sinh năm đẻ bảy như thời trước. Có người lại bảo, đất cũng hiếm rồi, làm gì mà còn ao!

    Có vẻ như nhiều thứ cứ ùa vào làng quê, không sao cưỡng lại được.

    Tín bỗng cô đơn ngay trên cố hương…

    Chẳng phải đụng chân đụng tay lấy việc gì, việc thường nhật là trông coi đứa con nhỏ học hành. Thế mà có lúc anh uể oải, mỏi đứ đừ hết mình mẩy. Rồi bất ngờ một hôm nhức nhối hết cả thân dưới.

    Họa trên trời rơi xuống.

    Không dưng Tín bị viêm hai khớp háng.

    Đớn đau vật vã.

    Giàu đôi con mắt, khó đôi bàn tay.

    Đằng này hai cái chân có đó mà như vô dụng.

    Thành đồ phản trắc!

    Lúc ấy mới thực lao đao lận đận. Chưa bao giờ Tín hình dung được cảnh ấy. Suốt quãng đời đã qua, từ khi đi làm việc dù không tham lam, không giàu có, nhưng với Tín, đói khổ là thứ hiếm gặp. Anh nhàn tản vô lo mà biết đủ. Một kiểu sống rất hợp với đất rừng Tây Nguyên truyền thống!

    Bây giờ ngẫm lại câu của người quê xưa mà xa xót: “Giàu không tằn tiện thì đói liền tay. Đói không tằn tiện thì đi ăn mày”! Là nói sự căn cơ chắt bóp của đời người. Cũng như kiểu nông dân “Tích cốc, phòng cơ” vậy.

    Một suất lương còm phải lo nuôi con ăn học. Nhà thì ở chung với đứa em trai.

    Khi đau nặng không đi lại được nữa, đành phải nhờ chú đưa cháu đi học. Luất quất ngày tháng, uống đủ thứ thuốc Bắc, thuốc Nam, bệnh chẳng thuyên giảm. Đến lúc đau hung buộc phải nhập viện, bác sĩ Vợi chửi, liều quá!

    Quả thực vì bí thôi.

    Chẳng phải liều.

    – Bệnh nước này phải thay cả hai khớp háng mới mong đi lại, nha!

    – Bác sĩ nói chơi hay sao?

    – Thật chứ chẳng chơi! Hơn trăm triệu bạc cho hai khớp là ổn!

    Nghe vậy Tín hú hồn. Tiền đâu phải giấy lộn.

    – Tôi thì lấy tiền đâu mà thay hai khớp!

    – Thế thì nằm viện dài dài chờ mệnh!

    Nhân viên y tế cho đến bệnh nhân, nhìn thấy cảnh Tín ai cũng ngán ngẩm.

    – Người đâu mà hết đường khổ vậy!

    – Nghe nói giám đốc lâm nghiệp, xếp lớn đấy. Giả vậy. Đừng nhầm!

    – Làm ông gì không biết. Giả đâu không biết. Cứ như vầy là khổ rồi! Ai đời nằm viện một thân một mình, không tiền không bạc…

    – Ờ, hay là thất thế thua cuộc, bị lột bị tước hết rồi!

    – Đừng độc mồm vậy, khẩu nghiệp. Nhìn tướng người thì biết. Hiền lành phúc hậu, trời sao nỡ hại!

    Cứ nằm dài vậy.

    Túng thì quẫn.

    Tiền nuôi con không đủ, lại thêm tiền nuôi bệnh! Cảm giác bất lực. Lúc đau quá, không chịu nổi, nỉ non với bác sĩ, ông kê cho mớ thuốc kháng sinh, ít thuốc giảm đau mà tủi.

    Muốn chết.

    – Ờ, bác sĩ ơi. Lạ thế. Hay tại thời chiến trường, tôi bị nhiễm chất độc hóa học nó hủy hoại mất xương khớp rồi.

    – Chưa già đã lẩn thẩn. Cái này chẳng liên quan gì đến chất độc da cam da bưởi gì hết! – Bác sĩ Vợi nghe vậy vừa bực mình, lại thấy buồn cười.

    – Thế hay là do tôi leo núi nhiều quá! Dân trồng rừng mà!

    – Cũng chẳng phải.

    – Mà có thể di chứng của rắn cắn. Tôi ở rừng từng bị rắn cắn liệt chân.

    – Có thể liên quan. Nhưng không chắc. Đấy, bao nhiêu người không bị chất độc hóa học, không leo núi, không bị rắn cắn. Cũng tự dưng lăn ra hư khớp.

    – Nhiều lúc đau quá, lại tủi. Tôi muốn chết đi cho xong. Mà tội có đứa con nhỏ!

    – Chẳng việc gì phải chết. Có tiền chi ra là xong. Bác thấy mấy cụ viêm khớp háng không nhúc nhắc được, cứ tưởng chết đến nơi rồi. Thay cái là đi băng băng như giả vờ đấy thôi!

    Ừ, nói vậy chứ chết đâu có dễ. Sống đã khó, chết cũng chẳng dễ gì! Mà bác sĩ nói đúng. Cái ông Hảo vừa đến chào Tín đấy, viêm hai khớp háng luôn. Tưởng chỉ còn nước chết. Không ngờ con cháu có tiền. Chi ra. Đâu vào đấy ngay!

    Vẩn vơ thế mà buồn cho mình.

    Thật, cuộc đời chẳng hiểu làm sao nữa.

    Cũng có lúc ngồi nơi quyền thế. Muốn cũng có thể có được nhiều thứ! Vậy mà chẳng bao giờ Tín nghĩ tới. Đến đến vợ cũng không màng cơ mà! Suốt bao nhiêu năm trời cứ long tong lêu têu… Bởi không thiếu không đói. Những thứ khác thì không có nhu cầu!

    Đoạn cuối không đâu lại thường trực bệnh viện. Quả là “sông có khúc, người lúc”! Đến lúc vận xui thì bao nhiêu thứ ập đến. Cứ như “dậu đổ bìm leo” vậy!

    Đà này không nói chết, nhưng cũng khó rời giường bệnh được.

    Không đau ngất vì bệnh, thì cũng mê man vì thuốc!

    Nhiều lúc Tín chìm trôi trong ảo giác.

    Đó là khoảnh khắc sung sướng nhất!

    – Cổng Trời xanh quá, hương thơm ngào ngạt!

    – Cái gì vậy? Ông lại mê man rồi! Rặt nói dại.

    – Tôi thấy Cổng Trời thật mà!

    – Thôi đi. Ông chưa tới số đâu! Chưa tới Thiên Đường được đâu! Ngủ đi cho yên.

    Cô điều dưỡng cố trấn tĩnh giúp cho Tín thoát khỏi cơn mê lú. Anh chợp mắt được một lúc.

    Con Krock xuất hiện.

    Nó đậu trên bậu cửa sổ giường bệnh.

    – Anh Tín. Anh đau hả?

    – Ờ Krock. Lâu quá rồi ha! Anh Tín hư hai khớp gối rồi. Không đi lại được nữa. Chắc không vào được Đăk Mơ nữa rồi!

    – Đây là đâu vậy?

    – Bệnh viện tỉnh – Tín trả lời như cái máy.

    Chỉ nói được với nhau có vậy, con Krock đã vụt bay khi có mấy bóng người từ ngoài vào thăm bệnh.

    Ôi con chim chung thủy quá.

    Con chim của bầu trời tự do!

    Tín như muốn reo lên trong cơn hào hứng.

    Chỉ có chim trời mới thoắt ẩn thoắt hiện được như thế. Loài chim sung sướng quá, cứ như giấc mơ vậy!

    – Hình như chim sa cá nhảy!

    – Thôi rồi, điềm độc rồi.

    – Tôi thấy con chim màu xanh!

    – Xanh cũng độc. Chim sa cá nhảy xưa nay là điềm báo sự chẳng lành!

    Mọi người ngơ ngác.

    Tín bâng khuâng không hiểu thoáng chốc vừa qua là thực hay là giấc mơ nữa.

  • Chương 13

    Tín nghỉ hưu, về quê độ một thời gian thì mẹ già qua đời. Cứ như bà cụ cố gắng chờ con vậy. Dẫu sao bao nhiêu năm lang bạt xa xứ, cuối cùng anh cũng được gần gũi, được chăm nom mẹ những ngày cuối đời, dù chỉ là một thời gian ít ỏi. 

    Anh ngậm ngùi thương nhớ. 

    Cảnh quê đã thay đổi quá nhiều.

    Người quê đã phiêu tán quá nhiều.

    Bạn đồng lứa có đứa đi bộ đội hy sinh trên chiến trường, có đứa học hành đỗ đạt thành ông này bà nọ cũng tha hương khắp xứ, lại có đứa làm dân cày già hom, chết vì khổ, chết vì rượu rụng rơi hết cả.

     Cách sống, lối sống thôn dã cũng đã đổi khác. Nhà sin sít với nhau. Đường bê tông chằng chịt. Cả làng không còn lấy một bụi tre. Những hàng cau cũng đã bị đốn sạch từ bao giờ. Những bờ ao ăm ắp kỷ niệm tuổi thơ cũng đã bị bồi lấp. Người ta bảo, lấp ao kẻo sợ trẻ con chết đuối. Hoàn cảnh nhà nào cũng con hiếm, không sinh năm đẻ bảy như thời trước. Có người lại bảo, đất cũng hiếm rồi, làm gì mà còn ao! 

    Có vẻ như nhiều thứ cứ ùa vào làng quê, không sao cưỡng lại được. 

    Tín bỗng cô đơn ngay trên cố hương…

    Chẳng phải đụng chân đụng tay lấy việc gì, việc thường nhật là trông coi đứa con nhỏ học hành. Thế mà có lúc anh uể oải, mỏi đứ đừ hết mình mẩy. Rồi bất ngờ một hôm nhức nhối hết cả thân dưới.

    Họa trên trời rơi xuống.

    Không dưng Tín bị viêm hai khớp háng.

    Đớn đau vật vã. 

    Giàu đôi con mắt, khó đôi bàn tay. 

    Đằng này hai cái chân có đó mà như vô dụng. 

    Thành đồ phản trắc! 

    Lúc ấy mới thực lao đao lận đận. Chưa bao giờ Tín hình dung được cảnh ấy. Suốt quãng đời đã qua, từ khi đi làm việc dù không tham lam, không giàu có, nhưng với Tín đói khổ là thứ hiếm gặp. Anh nhàn tản vô lo mà biết đủ. Một kiểu sống rất hợp với đất rừng Tây Nguyên truyền thống!

    Bây giờ ngẫm lại câu của người quê xưa mà xa xót: “Giàu không tằn tiện thì đói liền tay. Đói không tằn tiện thì đi ăn mày”! Là nói sự căn cơ chắt bóp của đời người. Cũng như kiểu nông dân “Tích cốc, phòng cơ” vậy.

    Một suất lương còm phải lo nuôi con ăn học. Nhà thì ở chung với đứa em trai.

    Khi đau nặng không đi lại được nữa, đành phải nhờ chú đưa cháu đi học. Luất quất ngày tháng uống đủ thứ thuốc Bắc thuốc Nam bệnh chẳng thuyên giảm. Đến lúc đau hung buộc phải nhập viện, bác sĩ Vợi chửi, liều quá! 

    Quả thực vì bí thôi.

    Chẳng phải liều.

    – Bệnh nước này phải thay cả hai khớp háng mới mong đi lại, nha!

    – Bác sĩ nói chơi hay sao?

    – Thật chứ chẳng chơi! Hơn trăm triệu bạc cho hai khớp là ổn!

    Nghe vậy Tín hú hồn. Tiền đâu phải giấy lộn.

    – Tôi thì lấy tiền đâu mà thay hai khớp!

    – Thế thì nằm viện dài dài chờ mệnh!

    Nhân viên y tế cho đến bệnh nhân, nhìn thấy cảnh Tín ai cũng ngán ngẩm.

    – Người đâu mà hết đường khổ vậy!

    – Nghe nói giám đốc lâm nghiệp, xếp lớn đấy. Giả vậy. Đừng nhầm!

    – Làm ông gì không biết. Giả đâu không biết. Cứ như vầy là khổ rồi! Ai đời nằm viện một thân một mình, không tiền không bạc…

    – Ờ, hay là thất thế thua cuộc, bị lột bị tước hết rồi!

    – Đừng độc mồm vậy, khẩu nghiệp. Nhìn tướng người thì biết. Hiền lành phúc hậu, trời sao nỡ hại!

    Cứ nằm dài vậy.

     Túng thì quẫn.

    Tiền nuôi con không đủ, lại thêm tiền nuôi bệnh! Cảm giác bất lực. Lúc đau quá, không chịu nổi, nỉ non với bác sĩ, ông kê cho mớ thuốc kháng sinh, ít thuốc giảm đau mà tủi. 

    Muốn chết.

    – Ờ, bác sĩ ơi. Lạ thế. Hay tại thời chiến trường, tôi bị nhiễm chất độc hóa học nó hủy hoại mất xương khớp rồi. 

    – Chưa già đã lẩn thẩn. Cái này chẳng liên quan gì đến chất độc da cam da bưởi gì hết! – Bác sĩ Vợi nghe vậy vừa bực mình, lại thấy buồn cười.

    – Thế hay là do tôi leo núi nhiều quá! Dân trồng rừng mà!

    – Cũng chẳng phải.

    – Mà có thể di chứng của rắn cắn. Tôi ở rừng từng bị rắn cắn liệt chân. 

    – Có thể liên quan. Nhưng không chắc. Đấy, bao nhiêu người không bị chất độc hóa học, không leo núi, không bị rắn cắn. Cũng tự dưng lăn ra hư khớp.

    – Nhiều lúc đau quá, lại tủi. Tôi muốn chết đi cho xong. Mà tội có đứa con nhỏ!

    – Chẳng việc gì phải chết. Có tiền chi ra là xong. Bác thấy mấy cụ viêm khớp háng không nhúc nhắc được, cứ tưởng chết đến nơi rồi. Thay cái là đi băng băng như giả vờ đấy thôi!

    Ừ, nói vậy chứ chết đâu có dễ. Sống đã khó, chết cũng chẳng dễ gì! Mà bác sĩ nói đúng. Cái ông Hảo vừa đến chào Tín đấy, viêm hai khớp háng luôn. Tưởng chỉ còn nước chết. Không ngờ con cháu có tiền. Chi ra. Đâu vào đấy ngay!

    Vẩn vơ thế mà buồn cho mình.

    Thật, cuộc đời chẳng hiểu làm sao nữa.

    Cũng có lúc ngồi nơi quyền thế. Muốn cũng có thể có được nhiều thứ! Vậy mà chẳng bao giờ Tín nghĩ tới. Đến đến vợ cũng không màng cơ mà! Suốt bao nhiêu năm trời cứ long tong lêu têu… Bởi không thiếu không đói. Những thứ khác thì không có nhu cầu!

    Đoạn cuối không đâu lại thường trực bệnh viện. Quả là “sông có khúc, người lúc”! Đến lúc vận xui thì bao nhiêu thứ ập đến. Cứ như “dậu đổ bìm leo” vậy!

    Đà này không nói chết, nhưng cũng khó rời giường bệnh được. 

    Không đau ngất vì bệnh, thì cũng mê man vì thuốc!

    Nhiều lúc Tín chìm trôi trong ảo giác. 

    Đó là khoảnh khắc sung sướng nhất!

    – Cổng Trời xanh quá, hương thơm ngào ngạt!

    – Cái gì vậy? Ông lại mê man rồi! Rặt nói dại.

    – Tôi thấy Cổng Trời thật mà! 

    – Thôi đi. Ông chưa tới số đâu! Chưa tới Thiên Đường được đâu! Ngủ đi cho yên. 

    Cô điều dưỡng cố trấn tĩnh giúp cho Tín thoát khỏi cơn mê lú. Anh chợp mắt được một lúc. 

    Con Krock xuất hiện.

    Nó đậu trên bậu cửa sổ giường bệnh.

    – Anh Tín. Anh đau hả?

    – Ờ Krock. Lâu quá rồi ha! Anh Tín hư hai khớp gối rồi. Không đi lại được nữa. Chắc không vào được Đăk Mơ nữa rồi!

    – Đây là đâu vậy?

    – Bệnh viện tỉnh – Tín trả lời như cái máy. 

    Chỉ nói được với nhau có vậy, con Krock đã vụt bay khi có mấy bóng người từ ngoài vào thăm bệnh.

    Ôi con chim chung thủy quá. 

    Con chim của bầu trời tự do! 

    Tín như muốn reo lên trong cơn hào hứng. 

    Chỉ có chim trời mới thoắt ẩn thoắt hiện được như thế. Loài chim sung sướng quá, cứ như giấc mơ vậy!

    – Hình như chim sa cá nhảy!

    – Thôi rồi, điềm độc rồi. 

    – Tôi thấy con chim màu xanh!

    – Xanh cũng độc. Chim sa cá nhảy xưa nay là điềm báo sự chẳng lành!

    Mọi người ngơ ngác. 

    Tín bâng khuâng không hiểu thoáng chốc vừa qua là thực hay là giấc mơ nữa.

  • NƠI TẬN CÙNG CỦA BÓNG TỐI

    Đan tỉnh lại đầu tiên. Hơi thở đầu tiên hắn hít vào là thứ mùi nồng nặc của đất sét ẩm mốc, tro tàn và… một thứ mùi ngọt lợ khó chịu, như máu khô. Không khí lạnh buốt, ẩm ướt dính vào da.

    Hắn đang ở trong một căn phòng hình tròn, xây bằng gạch nung thô ráp. Trên tường, những chiếc lò nung cỡ lớn, miệng lò đen ngòm như những cái hang quỷ đói, im lặng chờ đợi. Ánh sáng yếu ớt, nhấp nháy từ những ngọn đèn dầu treo lơ lửng, đủ để thấy những cái bóng kỳ quái nhảy múa trên tường.

    Ngay lập tức, hắn kiểm tra xung quanh. Khoa đang nằm bất tỉnh cách đó không xa. Và…

    Loạt xoạt…

    Từ một góc tối, vài bóng người khác cũng bắt đầu cựa quậy, tỉnh dậy. Tiếng rên rỉ, tiếng thở dốc, và cả tiếng chửi thề vang lên.

    Hạ (giọng khàn đặc, đầy giận dữ): “Đan! Mày dám lôi tao vào đây?!”

    Lão ta đứng dậy, mắt đỏ ngầu, xung quanh là ba tên lơ là làng khác từ PB2, cũng đã tỉnh táo và lập tức chiếm lấy một góc phòng, dò xét.

    Từ một hướng khác, Quân cũng xuất hiện, mặt mày tái mét nhưng ánh mắt tỏ rõ sự cảnh giác. Hắn lặng lẽ tiến về phía Đan, một hành động chọn phe rõ ràng.

    Và còn nữa… một vài khuôn mặt hoảng loạn khác. Vy – cô gái tân binh duy nhất sống sót từ PB1, và hai người nữa có vẻ là lão làng từ PB2 nhưng không thuộc phe Hạ. Tất cả họ đều bị kéo vào, như lời hệ thống đã cảnh báo: “những người có nhân duyên”.

    [NHIỆM VỤ PHÓ BẢN ĐÃ CẬP NHẬT]

    • CHÍNH: Tìm “Căn Phòng Chân Tướng”.

    • PHỤ: Sống sót trước “Kẻ Trông Coi”.

    Một tiếng cọt kẹt chậm rãi, rùng rợn vang lên từ cuối hành lang tối om phía trước. Như thể có ai đó đang kéo lê một thứ gì đó rất nặng.

    Linh hồn Liễu bỗng hiện ra, mờ ảo hơn bao giờ hết, nhưng sự u ám và oán khí thì dày đặc gấp bội. Cô run rẩy, chỉ tay về phía trước.

    Liễu (thì thầm, giọng đầy sợ hãi và hận thù):”Nơi này… chính là nơi này… Hãy cẩn thận… Có thứ gì đó… không phải người… đang tới.”

    Bầu không khí căng như dây đàn. Phe Hạ giương súng, phe Đan chuẩn bị tư thế chiến đấu, những người còn lại hoảng loạn tìm chỗ trốn.

    Phó bản của sự hận thù và giải oan đã chính thức bắt đầu. Không ai biết “Kẻ Trông Coi” là gì, và ai sẽ là người đầu tiên nếm trải sự khủng khiếp của “Lò Lửa”.

  • NHỮNG CON CỜ TRÊN BÀN

    Tiếng động rùng rợn từ cuối hành lang như một ngòi nổ, châm ngòi cho muôn vàn phản ứng khác nhau.

    Phe Hạ – Săn Mồi Trong Bóng Tối

    · Hạ nhanh như cắt, rút một cây đinh ba sắt nhỏ từ trong người ra, ánh mắt không rời khỏi Đan và cửa động. “Giữ im lặng!,” lão gằn giọng ra lệnh cho đồng bọn. Lão không sợ ma, lão chỉ sợ mất cơ hội giết Đan. Lão dùng bóng tối làm bạn, lùi sâu vào góc, biến mình thành con rắn nằm chờ.

    Phe Đan – Giữ Vững Trận Địa

    · Đan thậm chí không nhúc nhích. Hắn lắng nghe tiếng động, ước lượng khoảng cách và trọng lượng của “thứ” đang kéo lê. Một tay hắn giữ chặt Khoa vẫn còn choáng váng, tay kia lặng lẽ vẽ một phù trấn bằng máu trên nền đất ẩm. Ánh mắt hắn lạnh băng, không sợ hãi, chỉ toàn tính toán.

    · Quân rút ra một chiếc la bàn cổ, kim quay cuồng loạn xạ. “Âm khí ở đây quá nặng,” hắn thì thầm với Đan, “không phải chỉ có một.” Hắn đứng lưng về phía Đan, cùng lập thành thế trận phòng thủ.

    Những Con Cờ Biến Số – Hoảng Loạn và Phản Bội

    · Vy (kẻ phản bội từ PB1) khi tỉnh dậy, nhận ra Đan ngay lập tức. Sắc mặt cô ta biến đổi, không phải vì sợ ma, mà vì sợ hắn. Cô ta lập tức lùi vào bóng tối, tránh ánh mắt của Đan, tay run rẩy tìm vũ khí. Cô ta biết, nếu Đan sống sót qua “Kẻ Trông Coi”, thì thứ tiếp theo hắn sẽ xử là chính cô.

    · Hai Lão Làng Trung Lập (từ PB2) trao đổi một ánh nhìn nhanh. Một tên rút dao, nhìn về phía Hạ rồi lại nhìn Đan, do dự không biết nên theo ai. Tên kia thì lùi về phía sau, mắt đảo lia lịa tìm kiếm manh mối hoặc lối thoát hiểm, rõ ràng chỉ muốn bảo toàn mạng sống.

    Khoa – Kẻ Mấu Chốt

    · Khoa cuối cùng cũng tỉnh dậy trong cơn hoảng loạn. Anh ta nhìn thấy cảnh tượng xung quanh, nghe thấy tiếng động kinh hồn, khuôn mặt cắt không còn hột máu. “Không… không thể là nơi này…” – anh ta lẩm bẩm, dường như ký ức nào đó đang trỗi dậy khiến anh ta sợ hãi hơn cả cái chết.

    RẦM!

    Một tiếng động lớn từ cuối hành lang, như một cỗ quan tài bị rơi. Tất cả mọi người đều giật nảy mình. Tiếng bước chân kéo lê đó bỗng dừng lại. Rồi một giọng nói the thé, lạnh lùng vang lên trong bóng tối:

    “Chào mừng… đến với lò luyện của ta…”

    Một bóng đen cao lêu nghêu, gầy gò, tay cầm một cái búa lớn, từ từ hiện ra dưới ánh đèn dầu leo lét. “Kẻ Trông Coi” đã xuất hiện.

    Trong khoảnh khắc đó, ánh mắt của Đan lướt nhanh qua khuôn mặt sợ hãi của Vy. Không một chút giận dữ, chỉ là sự lãnh đạm thăm thẳm. Hắn đã ghi nhớ.

    Bầu không khí vỡ vụn. Trước mặt họ giờ không còn là kẻ thù bằng xương bằng thịt, mà là một thực thể dị biệt. Cuộc chiến sinh tử thực sự của Phó Bản 4 giờ mới chính thức bắt đầu.

  • LÂM VĨNH – NGƯỜI MÔI GIỚI MỚI

    Bên ngoài Thiên Đường Đen, được ngụy trang dưới một câu lạc bộ đêm sang trọng ở trung tâm thành phố, một hàng dài siêu xe xếp hàng. Cánh cửa bí mật dẫn xuống lòng đất được bảo vệ bởi an ninh nghiêm ngặt và một hệ thống quét nhận dạng tinh vi.

    ​Đan, trong bộ vest được cắt may hoàn hảo, bước ra từ chiếc sedan màu đen do Quân điều khiển. Hắn đã thay đổi hoàn toàn phong thái: từ một kẻ bị áp bức thành một nhà tài phiệt mới nổi với vẻ ngoài kiêu ngạo, ánh mắt ẩn chứa sự lạnh lùng và khinh miệt.

    ​Giây phút quyết định:

    ​Tại cổng vào tầng hầm, một gã bảo vệ cao lớn, mặc đồng phục đen, quét mã nhận dạng của Đan.

    ​Bảo vệ: “Giấy mời của ngài Lâm Vĩnh? Chúng tôi không có tên này trong danh sách.”

    ​Đan không trả lời, ánh mắt hắn lạnh lùng nhìn thẳng vào gã bảo vệ, như thể nhìn vào một con ruồi. Hắn đưa ra một chiếc thẻ đen mạ vàng, cùng với một phong bì dày cộp chứa đầy tiền mặt và một tài liệu có con dấu của một công ty đầu tư lớn.

    ​Quân (đóng vai trợ lý, giọng khàn): “Ông chủ tôi là người đại diện cho Trần Minh, được mời thay thế. Ông Minh đã trả một khoản phí gấp năm lần để ông chủ tôi có mặt tại đây đêm nay. Đây là bằng chứng chuyển khoản cho Suất Nhập Môn và khoản bồi thường cho người chủ cũ của thẻ. Kiểm tra lại đi.”

    ​Gã bảo vệ do dự. Hắn không được phép vi phạm quy tắc, nhưng lại không dám từ chối sức mạnh của Tiền Bạc và Địa Vị đang áp đảo. Hắn liên lạc với Chủ Quản.

    ​2. Sự Hợp Lý Hóa Liền Mạch

    ​Một giọng nói gằn qua bộ đàm của bảo vệ: “Để hắn vào. Mạnh đã nhận được tiền và sự bảo đảm từ Trần Minh. Đảm bảo hắn là người đã hoàn tất nghi thức ‘Trả Giá’.”

    ​Luật Chơi đã được tuân thủ:

    • ​Đan không cần giấy mời gốc, hắn mua lại suất nhập môn (bao gồm cả nghi thức “Trả Giá” của người khác) bằng tiền.

    • ​Danh tính Lâm Vĩnh được chấp nhận như một kẻ Thượng Lưu Đọa Lạc mới, mang lại lợi nhuận cao và sự bảo lãnh từ một nhân vật quyền lực khác (Trần Minh).

    ​Gã bảo vệ miễn cưỡng mở cổng. Đan bước qua, nhìn Quân lần cuối.

    ​Đan (qua tai nghe): “Quân, anh ở bên ngoài. Nhiệm vụ của anh là sẵn sàng kích hoạt lối thoát khẩn cấp thứ hai nếu kế hoạch A thất bại. Tôi sẽ tìm Mạnh và tìm ra Cánh Cổng.”

    ​3. Thiên Đường Trong Lòng Đất

    ​Bên trong là một thế giới hoàn toàn khác. Ánh sáng neon xanh đỏ nhấp nháy trên những chiếc bàn cờ bạc và các cô gái phục vụ xinh đẹp. Tiếng nhạc điện tử sôi động trộn lẫn với tiếng hò reo của sòng bạc. Không khí đặc quánh mùi rượu, tiền và dục vọng.

    ​Đan lướt qua đám đông Thượng Lưu Đọa Lạc—những gương mặt sáng bóng, kiêu sa, nhưng ánh mắt chứa đầy sự trống rỗng và tham lam. Họ là những Tội Đồ Che Giấu đang tìm kiếm liều thuốc mê hoàn hảo cho lương tâm.

    ​Hắn đi sâu xuống, tìm kiếm tầng lõi. Sau một hành lang dài, Đan nghe thấy một âm thanh khác—tiếng va chạm da thịt, tiếng gầm gừ, và những tiếng cổ vũ cuồng nhiệt. Đó là Võ Đài Quyền Anh Chợ Đen.

    ​4. Nút Thắt Sinh Lực

    ​Đan đứng trên ban công VIP, nhìn xuống võ đài hình tròn. Cảnh tượng bên dưới thật kinh hoàng.

    ​Hai võ sĩ đang chiến đấu không ngừng nghỉ, người đã sứt đầu chảy máu, chân loạng choạng, nhưng vẫn lao vào nhau bằng một cơn điên loạn.

    ​Người Giám Thị Cấp Thấp (lên tiếng): “Họ không thể dừng lại! Kẻ chiến đấu vì tiền, kẻ chiến đấu vì Cơn Say Sức Mạnh Tạm Thời do Hệ Thống cấy vào. Họ không còn là con người nữa, họ là nguồn năng lượng Oán Hận hoàn hảo!”

    ​Đan cảm nhận được: Oán Hận đang bốc lên từ sàn đấu, được hệ thống thông gió bí mật thu thập, đưa thẳng lên các tầng trên—nơi đặt Cánh Cổng Năng Lượng.

    ​Đan (thầm nghĩ): Hệ Thống đang cấy Buff vào họ, khiến họ trở nên điên cuồng và không thể chết nhanh chóng. Việc này duy trì sự đau đớn và Oán Hận lâu hơn, để Kẻ Kiến Tạo có thể thu hoạch tối đa.

    ​Mục tiêu của Đan hiện ra: Hắn phải tìm ra Mạnh (Chủ Quản), người đang điều hành sàn đấu và là mắt xích liên kết trực tiếp với Kẻ Thu Thập.

  • Chương 11

    Vô tình cái hồ thủy lợi lớn vùng Đăk Mơ Thượng bỗng dưng làm thay đổi cả trời đất trong toàn vùng.

    Khí hậu mát mẻ hơn. 

    Lượng mưa nhiều hơn. Trước kia các trạm khí tượng thủy văn đo lượng mưa hàng năm trong vùng chỉ xấp xỉ một nghìn năm trăm mili, nay đã tăng vọt lên trên hai nghìn mili. 

    Có đập nước, chính quyền cho xây dựng hai hệ thống lớn các dòng Kênh Đông, Kênh Tây chạy theo thế song song hai bên chân núi xuôi về hướng nam. Từ kênh chính, các đường mương thủy lợi dẫn nước về tận các cánh đồng, tỏa xuống toàn thung lũng theo đường bình độ. 

    Rồi công trình san ủi, khai hoang xây dựng đồng ruộng được đẩy mạnh. Những bãi hoang, những khu đồi, những bìa rừng bìa suối sau một thời gian hối hả của lao động thủ công với sự hỗ trợ đắc lực của máy ủi máy cạp cơ giới đã dần hình thành những cánh đồng vuông vức phẳng phiu; bờ vùng bờ thửa kết hợp mương nước như ô bàn cờ trải rộng khắp thung lũng.

    Đất lành chim đậu. 

    Thời buổi tất cả đều quy ra gạo, Đăk Mơ Hạ như một giấc mơ lúa cuốn hút bao nhiêu con người. Ban đầu là dân đi theo kế hoạch, bố trí theo quy hoạch. Sau thì dân di cư tự do cứ thế ùn ùn tới… Đất lúa no nước, lại dồi dào ánh nắng trời, lại được đầu tư thâm canh đúng mức, năng suất cao hơn cả vùng đồng bằng. 

    Thế là no ấm!

    Vựa lúa Đăk Mơ Hạ bắt đầu từ cú hích của hồ đập Đăk Mơ Thượng và hạ tầng thủy lợi; đúng như cái nhìn khởi đầu của Tín, giữa thời điểm bế tắc nhất.

    Mấy năm sau, khi có điện lưới quốc gia, việc tưới nước cho các chân đất cao trở nên hoàn toàn chủ động và rất thuận lợi; cây cà phê chẳng ai gào thét đôn đốc cũng tự nhiên mọc kín mọi vùng đất. Thung lũng Đăk Mơ thành vùng cà phê thâm canh cao sản. Đất tốt, đủ nước, tiểu khí hậu phù hợp, cà phê Đăk Mơ đã tốt lại ngon. Mỗi gốc cà phê kinh doanh hái được đến bốn mươi cân quả tươi. Thật ít ai tưởng tượng nổi. 

    Hàng năm, vào mùa thu hoạch dân trồng cà phê phải về miền dưới nhờ “cò” tuyển dụng lao động lên rừng thu hái cà phê mới kịp thời vụ. Một điều nghe như ngược đời!

    Thế là giàu có!

    Nhà nông được no đủ, lại dư dả; là thỏa cái khát khao từ muôn đời lam lũ rồi!

    Tất cả như một cái giá phải trả.

    Một bài học lớn trong cuộc đời!

  • Chương 12

    Sau 10 năm làm điểm, Liên hiệp lâm nông công nghiệp Đăk Mơ tổng kết mô hình. Cuộc tổng kết như một sự định sẵn chẳng đừng đặng. Ai cũng biết kết cục sẽ thế nào. 

    Có cái được. 

    Có cái mất. 

    Có khen.

    Có chê.

    Trung tâm huyện từ một vùng rừng núi thâm u, đường sá lầy lội đèo dốc, trở thành một vùng phong quang, đường ngang lối dọc băng băng. Cùng với thầu gỗ, là những đoàn xe tải nườm nượp ngày đêm đến rồi đi. Những người làm công tấp nập như đại công trường. Quán xá ồn ã nhộn nhịp cả một vùng. Tiếng nhạc xập xình, đèn mờ xanh đỏ thâu đêm. Rồi hội nhảy, hội hát mê cuồng. Lạ là những thứ ấy rất có sức cuốn hút với lớp trẻ, kể cả thanh niên các làng vùng xa. Trung tâm huyện chỉ mấy năm, từ một nơi chẳng ai biết tới, đã có một bộ mặt hoàn toàn mới, một nhịp sống hiện đại đến không ngờ.

    Vùng lòng hồ Đăk Mơ Thượng, hàng chục ngọn núi bát úp khi xưa, nay đã thành những hòn đảo xanh mướt giữa lòng nước mênh mang. Nó hứa hẹn một ngày khi có đủ điều kiện đầu tư, đó sẽ là một cơ sở du lịch sông hồ núi non kỳ vĩ lý tưởng trên vùng đất Bắc Tây Nguyên.

    Dãy núi phía đông bắc vì cách trở bởi bao la nước, có vẻ như rừng đã được bảo vệ, đã tái sinh. Những thân cây lại cao lớn lên, như thẫm màu hơn, mướt mát hơn giữa chốn cô quạnh nghìn trùng.

    Vùng Đăk Mơ Hạ đã trở thành những cánh đồng lúa xanh tốt. Giữa lúa và rừng là những đồi cà phê trập trùng sóng xanh hút tầm mắt. Đèo Cổng Trời đã ngút ngát một màu tươi non miên viễn.

    Đó là những chấm xanh giữa bát ngát hoang vu.

    Phần núi phía tây Đăk Mơ Thượng vẫn nham nhở những vết thương rừng. 

    Trong toàn vùng, hạ tầng đến đâu, rừng tan hoang đến đó. Những ngọn đồi bị cạo trọc không thương tiếc. Những dòng suối trơ đáy, đá lởm chởm, không một bóng cây. 

    Các làng tái định cư đang phai nhạt dần lối sống đầm ấm nồng nàn khi xưa. Thanh niên lao vào cuộc sống ồn ã. Có kẻ đi làm lâm tặc, có kẻ đi chở gỗ lậu thuê. Họ vẫn bám vào rừng như là những con vắt vô hình hút máu cây rừng đến cạn kiệt không thương tiếc. Có một lối sống thực dụng bị đồng tiền sai khiến. Hội làng nhạt đi trước trào lưu Karaoke, nhảy đít cô, phim ảnh. Những nốt nhạc cồng chiêng không còn sức hút, lửa rừng không còn mê cảm quyến rũ như xưa!…

    Sau tổng kết mô hình, Liên hiệp được bàn giao lại cho huyện, chính thức trực thuộc huyện. Họ tiếp nhận được khá nhiều cơ sở hạ tầng, nhà cửa, đường giao thông thủy lợi, đồng ruộng,… nhưng lại mất mát khá nhiều về vốn rừng, phai nhạt đi bao nhiêu vốn quý từ văn hóa tâm linh hàng ngàn đời trao truyền. 

    Nhiều thứ chỉ mấy năm đã bị đảo lộn tan vỡ một cách mau chóng.

    Đề nghỉ hưu. 

    Y cứ luẩn quẩn mãi ở Đăk Mơ, không sao về được. 

    Như có duyên phận nào níu kéo. 

    Như có bàn tay vô hình nào đó âm thầm quyến rũ.

    Mặc dù ở một thành phố lớn, y đã có cơ ngơi khá đồ sộ, đầy đủ mọi tiện nghi hiện đại như của người Tây phương. Vợ con vẫn đùm đề ở đó. 

    Mỗi buổi sáng, tầm giờ làm việc Đề lại mặc quần bò áo thun, cưỡi chiếc Dream lướt qua cổng Liên hiệp một nhoáng rồi mới quay về phòng. 

    Lạ quá. 

    Có người bảo Đề bị ma ám. 

    Người lại bảo y tham quyền cố vị. 

    Nhưng có người lại quả quyết, Đề bị sốc hưu! 

    Kể cũng là cái khổ. Một đời lăn lộn giữa chốn núi rừng. Hỉ nộ ái ố đủ cả đấy, nhưng nghĩ cho cùng phận người cái gì đến buộc phải đến, lúc đi thì phải đi. Sao ai cưỡng lại được. Kể cả cái chết cũng vậy! Thì thanh thản đi. 

    Hết phần việc công thì về đùm bọc với gia đình vợ con.

     “Lá rụng về cội”! 

    Đó là nơi yên vui nhất, đầm ấm nhất! 

    Ai nhìn cũng ngán cho Đề. Thương đấy, nhưng chẳng kẻ nào dám góp ý góp lời. Buồn cho những tháng ngày y tự hành khổ mình, cù bơ cù bất, “nửa ông nửa thằng”, như kẻ lang bạt kỳ hồ. 

    Mấy tháng sau, vợ con lên đón về, Đề như người cõi khác.

    Hình như y bị sốc, rồi mắc chứng trầm cảm, suốt ngày ngồi quay mặt vào tường. Một thân xác béo tốt phương phi, mang một linh hồn ốm o què quặt.

    Có người bảo y bị ma rừng ám. 

    Có người lại bảo bị gái vùng cao bỏ bùa. 

    Nhớ hồi trước ở quê có bác đánh trận Điện Biên Phủ xong thì mất tích. Sau có tin họ bị mắc bùa của gái Thái, bỏ quê, quên luôn đường về.

    Gia đình Đề cho mời pháp sư bắt vong bắt vía, lại cho cái chuông gió treo ở cửa, suốt ngày rung reng. Mà lạ, sau thì y bỗng tỉnh dần, nhưng lại mắc phải cái chứng sợ bẩn.

    – Ăn gì thế này? – Y trợn mắt trong bữa ăn.

    – Ông thì được cung phụng quen rồi. Đây không có nem công chả phượng đâu!

    Người nhà phải lục cục sửa soạn, nhặt rửa, nấu lại mọi thứ cho y mục sở thị rõ ràng mới chịu ăn.

    – Ôi dơ, dơ… – Hễ có người vào nhà bước ra y đều hô lên réo rắt. Lập tức lấy chổi quét, dẻ lau cho kỳ được.

    – Dơ đâu ông? Con vừa mới lau dọn mà! – Cô giúp việc vội thanh minh.

    – Đây này, dơ lắm – Y đưa cái kính lúp lên, rọi khắp.

    Sau thì mọi người đều biết. 

    Nỗi sợ của y từ trong tâm thức.

    Ăn gì cũng sợ bẩn. 

    Mặc gì cũng sợ bẩn. 

    Đi trong nhà cũng sợ bẩn, dù nhà mặt phố cao sang, láng bóng.

    Nhìn đâu cũng thấy bẩn.

    Mà bẩn là y quát tháo, y yêu cầu sai khiến đủ thứ. 

    Chẳng biết đâu mà thỏa mãn.

    Không biết là thứ ma gì!

    Đủ loại thầy đều hết phép.

    Thật đến khổ. 

    Thà là cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn, ngồi một chỗ như lúc trước, hoặc giả ốm liệt giường liệt chiếu để người khác hầu hạ còn được yên lặng, còn sướng hơn.

    Thật là “Ăn của rừng, rưng rưng nước mắt”!

  • Chương 11

    Vô tình cái hồ thủy lợi lớn vùng Đăk Mơ Thượng bỗng dưng làm thay đổi cả trời đất trong toàn vùng.

    Khí hậu mát mẻ hơn. 

    Lượng mưa nhiều hơn. Trước kia các trạm khí tượng thủy văn đo lượng mưa hàng năm trong vùng chỉ xấp xỉ một nghìn năm trăm mili, nay đã tăng vọt lên trên hai nghìn mili. 

    Có đập nước, chính quyền cho xây dựng hai hệ thống lớn các dòng Kênh Đông, Kênh Tây chạy theo thế song song hai bên chân núi xuôi về hướng nam. Từ kênh chính, các đường mương thủy lợi dẫn nước về tận các cánh đồng, tỏa xuống toàn thung lũng theo đường bình độ. 

    Rồi công trình san ủi, khai hoang xây dựng đồng ruộng được đẩy mạnh. Những bãi hoang, những khu đồi, những bìa rừng bìa suối sau một thời gian hối hả của lao động thủ công với sự hỗ trợ đắc lực của máy ủi máy cạp cơ giới đã dần hình thành những cánh đồng vuông vức phẳng phiu; bờ vùng bờ thửa kết hợp mương nước như ô bàn cờ trải rộng khắp thung lũng.

    Đất lành chim đậu. 

    Thời buổi tất cả đều quy ra gạo, Đăk Mơ Hạ như một giấc mơ lúa cuốn hút bao nhiêu con người. Ban đầu là dân đi theo kế hoạch, bố trí theo quy hoạch. Sau thì dân di cư tự do cứ thế ùn ùn tới… Đất lúa no nước, lại dồi dào ánh nắng trời, lại được đầu tư thâm canh đúng mức, năng suất cao hơn cả vùng đồng bằng. 

    Thế là no ấm!

    Vựa lúa Đăk Mơ Hạ bắt đầu từ cú hích của hồ đập Đăk Mơ Thượng và hạ tầng thủy lợi; đúng như cái nhìn khởi đầu của Tín, giữa thời điểm bế tắc nhất.

    Mấy năm sau, khi có điện lưới quốc gia, việc tưới nước cho các chân đất cao trở nên hoàn toàn chủ động và rất thuận lợi; cây cà phê chẳng ai gào thét đôn đốc cũng tự nhiên mọc kín mọi vùng đất. Thung lũng Đăk Mơ thành vùng cà phê thâm canh cao sản. Đất tốt, đủ nước, tiểu khí hậu phù hợp, cà phê Đăk Mơ đã tốt lại ngon. Mỗi gốc cà phê kinh doanh hái được đến bốn mươi cân quả tươi. Thật ít ai tưởng tượng nổi. 

    Hàng năm, vào mùa thu hoạch dân trồng cà phê phải về miền dưới nhờ “cò” tuyển dụng lao động lên rừng thu hái cà phê mới kịp thời vụ. Một điều nghe như ngược đời!

    Thế là giàu có!

    Nhà nông được no đủ, lại dư dả; là thỏa cái khát khao từ muôn đời lam lũ rồi!

    Tất cả như một cái giá phải trả.

    Một bài học lớn trong cuộc đời!

  • Chương 10

    Sự kiện cháy rừng là một vụ lùng nhùng.

    Việc khai thác gỗ trong quá trình thu dọn lòng hồ, có dấu hiệu chặt gỗ lậu trong phạm vi khá rộng trên cả cao trình cho phép.

    Một cuộc điều tra để làm rõ nguồn gốc gỗ đang chuẩn bị bắt đầu. Khá nhiều lóng gỗ loại tốt của chủ thầu vẫn nằm ẩn dấu trong rừng. Đó là số gỗ mang hồ sơ dưới lòng hồ, nhưng được chặt hạ từ trên mặt nước gia cường chưa kịp chuyển đi. Từ cái mớ bòng bong này, xử lý không tốt có khi thành đầu mối khui ra đủ mọi thứ chuyện. Không khéo thì chết cả nút. Chủ thầu bí mật làm một vụ đốt đầu lóng số gỗ trong rừng. Vụ phi tang dấu búa bằng xăng thiếu kiểm soát, không ngờ thành đám cháy rừng vượt tầm khống chế. Chủ thầu gỗ bị lửa thiêu đen nhèm như con khỉ nướng.

    Tấm khẩu hiệu bằng tôn quét sơn nâu chữ trắng “Đốt rừng như thể đốt nhà; Cháy rừng như cháy thịt da của mình”, cũng bị lửa nung cho quăn queo, bong rộp.

    Nợ có chủ, án có đầu.

    Vụ việc cần một kẻ hy sinh nào đó.

    Chủ thầu thì đã chết cháy. Cuối cùng Trưởng ban thu dọn lòng hồ bị truy cứu trách nhiệm về công tác quản lý. Kết cục Tín bị kỷ luật cách hết mọi chức vụ.

    Chẳng biết có oan hay không, dù anh trong sạch, ai cũng biết vậy.

    Những tay chân của Đề trục lợi bao nhiêu tiền của từ rừng thì hoàn toàn vô can.

    Cứ như có lỗi với rừng, với làng Dung Dé, với Hơ Thy… Những điều đó mới thực sự làm cho Tín buồn. Trở thành một chân “ngồi chơi xơi nước”, anh xách chiếc máy ảnh đi lội khắp rừng.

    Bao nhiêu cây đã bị chặt hạ.

    Chặt công khai theo kế hoạch có.

    Lạm chặt có.

    Chặt lén lút có.

    Lại có những cây bị chặt oan để kiếm trầm, chặt hạ để hái quả cà na, hái quả ươi…!

    Chiến tranh đã xóa đi một nửa cây rừng.

    Thời làm ăn của liên hiệp, rừng lại vơi đi tuồn tuột!

    Cứ đà này, chẳng mấy chốc sẽ hết rừng.

    Mà hết rừng chim sẽ đi về đâu.

    Thú sẽ đi về đâu.

    Sự sống sẽ đi về đâu.

    Mưa gió sẽ ra sao.

    Làng sẽ ra sao…

    Những dòng suy nghĩ cứ cuộn lên trong cái đầu điên đảo của Tín.

    Phút chốc chất lính chiến lại bùng lên!

    Theo dòng suy nghĩ ấy, Tín băng lên dãy núi phía trên đỉnh con Đèo Cổng Trời cao vót. Đó là con đèo vắt qua dãy Trường Sơn Tây, nó nằm ở phía đông nam Đăk Mơ. Thời chiến tranh đây là một hành lang của cán bộ kháng chiến hành quân nối Đông Trường Sơn với Tây Trường Sơn. Để ngăn những bước chân ấy, địch đã trút xuống con đèo này, xuống những dãy núi nơi đây hàng trăm tấn bom đạn, hàng chục tấn thuốc diệt cỏ. Con đèo phủ kín rừng nguyên sinh, chỉ một thời gian hóa trọc lóc. Khi không còn rừng cây cổ thụ, Đèo Cổng Trời trơ trơ toàn đá. Gió đông thổi hùn hụt suốt mùa khô khiến cho những dãy núi ở đây trở nên cỗi cằn, chẳng một thứ cây gì mọc nổi vì chất độc hóa học, vì gió, ngoại trừ cỏ Mỹ. Mùa mưa cỏ ngút ngát um tùm, đến mùa khô, cả vùng đèo khô rụi được đốt cháy trụi lủi, từ xa có thể nhìn rõ đến từng hòn đá. Con đèo hun hút ấy thành một trở lực cho cán bộ kháng chiến những lúc vượt đường.

    Một thời vì những thảm cỏ Mỹ gây cháy rừng thường xuyên trong mùa mưa, Cổng Trời còn có biệt danh là “Đèo Lửa”. Mỗi chuyến xe vượt đèo như vượt qua thách thức định mệnh!

    Hòa bình lập lại, phương tiện qua lại càng nhiều, tai nạn càng bi thảm; Cổng Trời là nỗi khiếp đảm của cánh lái xe đường dài.

    Mấy năm trước, một chuyến chở đồ gỗ về đồng bằng theo lệnh của Đề, cũng đã vô tình thành một thảm họa.

    Xe đang đổ dốc, gặp khúc cua gập khuỷu tay, tài xế choáng ngợp mất lái. Cả xe hàng nhào xuống ta luy âm của con đèo. Sau cú lộn mấy vòng, cái xe đã làm văng tài xế, phụ xe và cái thùng phuy dầu ra mấy hướng. Vòng cuối cùng thì nó kẹt vào một khối đá lớn, lơ lửng giữa dốc núi. Thùng phuy đựng cả trăm lít dầu, lăn xuống tận suối, may mắn không phát lửa bốc cháy.

    – Ôi có vụ tai nạn! – Chuyến xe khách chạy đường đèo nhìn rõ chiếc xe tải đang mắc chẹt trên mé vực sâu.

    – Mọi người né ra, ai khỏe hộ một tay. Bốc người này lên xe chở ngay xuống đồng bằng rồi tính – Chủ xe hô hoán và lăn xả vào xốc người bị thương lên xe mà chạy. Đó là bác tài xế bị vứt ra ngay đầu vách núi.

    Đến cuối ngày, một chiếc xe từ đồng bằng lên, qua lưng chừng Đèo Cổng Trời, bất ngờ nháng thấy bóng người nằm gục bên vệ đường.

    – Giúp một tay. Đưa lên bệnh viện tỉnh – Chiếc xe gấp rút chuyển người gặp nạn chạy ngược trở lên.

    Thì ra trời chiều gió núi đã mát. Phụ xe sau cú hất ngược khỏi ca bin lăn xuống thung sâu ngất lịm. Gặp lúc lộng gió, như những bàn tay dưỡng sinh xoa dịu thịt da thì tỉnh thức. Gã cố trườn lên bờ đường đèo dốc rồi lại bị xỉu lơ.

    Khi có đoàn cứu nạn đến nơi, họ phát hiện trong thùng xe bẹp dí, mắc kẹt một thân người giữa đống đồ gỗ. Anh ta đã tử nạn. Đó là A Li, người bốc vác và trông hàng.

    Theo lệ thường, kẻ chết đường bất đắc kỳ tử, làng coi là chết xấu. Người chết xấu thì không được đưa vào làng, không được làm ma, không đánh cồng chiêng gõ trống, không được chôn chung trong nghĩa địa làng. A Li được chôn riêng ở ngoài bìa rừng. Nhưng có một ngôi mộ xây khá lớn, lạ và đẹp. Gia đình được đền bù một khoản tiền. Làng được cho hai con bò để đốt mà cầu giàng phù hộ cho bình yên về sau.

    Cuộc “đốt bò” lớn như một cuộc ăn vạ của làng.

    Thịt ê hề, không sao ăn cho hết.

    Tất cả thịt thừa đều bị vứt sạch ra rừng xuống suối cho cá, cho thú ăn.

    Thịt ăn trong đám chết xấu thì không chia phần.

    Không đem vào làng.

    Không đem về nhà.

    Đó là cái kết êm đẹp cho một vụ án mạng.

    Người Tây Nguyên thời ấy, cứ mọi việc được làng chấp thuận, gia đình chấp thuận coi như ổn.

    Trong vụ tai nạn khủng khiếp ấy, Tín là người được giao trọng trách thu dọn chiến trường.

    Khi đặt chân trở lại con đèo, tất cả ký ức tràn về sống động.

    Ngỡ như vụ việc vừa mới xảy ra.

    Con đèo khốc liệt.

    Một bên là thăm thẳm thung sâu.

    Một bên là núi cao sừng sững.

    Đi lên trên đỉnh vời gió lộng, Tín phát hiện ra, ở chóp núi, vẫn có những mảng rừng cây cổ thụ xanh tốt, tán che rợp cả một vùng. Trong một eo núi lại có một con khe nhỏ, nước nhỏ từ trong đá ra những dòng trong vắt. Ở đó có một vũng đá chứa nước thấm từ rừng cây.

    Khí hậu mát như Đà Lạt.

    Mây vờn quanh những tán lá.

    Mọi thứ như nhẹ bẫng không trọng lượng.

    Ôi, nếu khôi phục được cánh rừng nguyên sinh này, đây có thể thành một nơi du lịch nghỉ dưỡng trong tương lai chẳng thua kém danh lam thắng cảnh nào. Anh nghĩ vậy và hào hứng vốc từng vốc nước mát phả vào mặt.

    Người sảng khoái.

    Tỉnh ra như được truyền một liều thuốc kích thích thần kinh.

    Trong đầu Tín đã nảy ra một điều rất bay bổng.

    Dự án trồng rừng Cổng Trời!

    Xưa nay chưa ai dám nghĩ đến điều ấy.

    Trồng cây trên núi đá trọc lóc, dốc đứng, lại từng bị hóa chất đầu độc không phải là điều dễ. Là một kỹ sư lâm sinh Tín cũng hiểu điều đó. Nhưng Cổng Trời ngày đêm cứ đau đáu thao thức trong anh. Phải đi lại đến mấy lần trên những dãy núi cao ngất ngưởng hai bên lưng đèo ấy Tín mới thực sự bình tâm được.

    Trở về, Tín tiếp cận với ông Thái một cán bộ lãnh đạo đầu tỉnh mà anh có quen biết. Qua đôi câu chuyện, anh bố trí một cuộc leo núi với ông Thái.

    Cuộc đi thành công mỹ mãn.

    Không ngờ ông Thái cũng là một người đam mê sinh thái đến vậy.

    Tín đề xuất nguyện vọng được thành lập một lâm trường trồng rừng do anh phụ trách. Rồi kế hoạch trồng cây trên Đèo Cổng Trời… Thời cuộc ấy, lâm trường trồng rừng quả không ai để ý. Chẳng ai muốn nhận lãnh một đơn vị trồng cây rừng đầy khó nhọc rủi ro và hệ số lương thấp, lại luôn phải ngửa tay đi xin từng đồng kinh phí.

    Trong lúc phụ trách một lâm trường khai thác rừng vị thế như ông hoàng. Rất nhiều người cầu cạnh, rất nhiều người ký kết, rất nhiều quà cáp biếu xén, lương lại cao, tiền rủng rẻng không phải chiều lụy ai.

    Việc thành lập lâm trường trồng rừng Cổng Trời nhẹ hều như một công việc vặt. Cái chức giám đốc lại chẳng có ai đua chen.

    Tín đề xuất.

    Tín nhận lãnh.

    Đó như đưa vai gánh một gánh nợ đời không biết đi về đâu!…

    Nghe nói quân đội Israel đào tạo con người hiệu quả như là những đại học. Những ai qua quân ngũ đều sẽ được rèn luyện thử thách, được trang bị những kiến thức kỹ năng rất bổ ích cho cuộc đời. Mang phẩm chất ấy về đời thường, những người đã trải qua quân đội sẽ tràn đầy ý chí nghị lực, lại kỷ cương, lại sáng tạo, lại kết nối hài hòa với cộng đồng… Nghĩa là luôn có sẵn trong mình những tố chất tốt để vượt mọi trở lực trong đường đời, đem đến mọi thành công.

    Tín cũng vậy. Anh đã được rèn luyện trong môi trường quân đội, đã được thử thách trong chiến tranh khốc liệt, từng đứng trước khoảnh khắc sinh tử nơi trận địa.

    Ngay lúc nhận lãnh trách nhiệm đứng đầu một đơn vị trồng rừng trên những đồi núi trọc trơ, phẩm chất lính lại bất ngờ thức dậy, bật lên. Anh như được tăng thêm nguồn sức mạnh ngỡ ngủ yên từ lúc rời quân ngũ.

    Tất cả mọi thách thức ban đầu, không làm cho Tín bận tâm. Chỉ duy một việc, cách gì cắm được mầm cây xuống đỉnh núi trọc cao vút mà sống tốt, cứ bám mãi trong suy tư của anh!

    Đời sống Liên hiệp ngày một trở nên khó khăn cùng với tình hình gỗ rừng ngày càng suy cạn. Một số người bắt đầu chuyển việc, bỏ việc.

    Khi đã có bộ khung lâm trường Cổng Trời, Tín nhờ người quen vận động những người thân tín đã bỏ việc ở Liên hiệp trở về lâm trường trồng rừng với anh. Đó là những con người rất thấu hiểu tấm lòng của Tín. Họ không nề hà gian khổ, thiếu thốn. Đội ngũ ấy đã được thử thách bao nhiêu năm ở chốn rừng thiêng nước độc.

    Ai cũng quý Tín.

    Ai cũng thương Tín!

    Nhất là các bác cựu chiến binh chuyển ngành, đã từng trải qua chiến đấu chiến trường!

    – Cổng Trời là rốn gió của thung lũng Đăk Mơ. Bây giờ Đăk Mơ đã dần trơ trọi. Cổng Trời từ thời chiến tranh chỉ còn núi đá trọc lóc với cỏ. Nó phải được trả lại rừng cây, phải là bộ lọc gió, là lá chắn giảm nhiệt cho Đăk Mơ. Tôi muốn mọi người cùng đồng lòng phủ xanh mảnh đất khắc nghiệt này!

    – Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng ở anh. Sống với anh đã bao nhiêu năm, ai cũng hiểu lòng anh – Một người đại diện tập thể công nhân có ý kiến.

    – Tin tưởng ở kỹ sư thôi! – Lại mấy tiếng đồng thanh.

    – Trồng rừng thì lương thấp lắm. Thiệt thòi đủ đường so với công nhân khai thác. Đó là nghịch lý của nghề rừng. Mọi người phải rất dũng cảm mới làm được! – Tín trải lòng với công nhân.

    – Khổ thì khổ rồi. Anh chịu được, chúng tôi chịu được!

    Thế là cả tập thể đồng tâm làm sống lại Cổng Trời.

    Trồng rừng trên Cổng Trời là một công việc nan giải. Người ngoài ai cũng nghĩ Tín là một người phiêu lưu, lãng mạn, đưa cả tập thể người lao động vào một cuộc thí nghiệm đầy tính huyễn tưởng.

    Dự kiến để trồng một gốc cây trên hai mái núi của dãy Cổng Trời, phải mất hai năm. Năm đầu phát cỏ đào hố. Hố đào qua một mùa mưa cho hả đất, tụ mùn. Năm sau mới khỏa lại để trồng cây.

    Cỏ Mỹ thời chiến có mục đích phủ kín núi đèo trong mùa mưa, mùa khô sẽ được đốt trụi thành những khu vực trắng.

    Đó là thứ cây hạp mưa.

    Hễ có giọt mưa là bời bời ngút ngát.

    Mùa mưa phải khắc phục cỏ Mỹ mọc tràn lan.

    Mùa khô phải phát cỏ chủ động chống cháy.

    Buổi chiều yên ắng.

    Bỗng phát ra tiếng nổ đanh.

    Khói bụi bay lên một vầng trời.

    – Đạn nổ. Đạn nổ rồi!

    – Sao vậy?

    – Anh Lượng cuốc phải đầu đạn!

    Tín tức tốc chạy lên.

    Công nhân ập đến.

    Lượng được cõng gấp đi bệnh viện.

    Vụ nổ là do một đầu đạn M79 gây nên. Trong lúc cuốc hố, lưỡi cuốc bổ trúng đầu đạn M79. Rất may cái lưỡi cuốc đã chắn bớt phần mảnh đạn, nó quăn queo, bay xa mấy mét.

    Anh Lượng bị lủng ruột, phải cắt nối khá phức tạp nhưng không can hệ đến tính mạng.

    Sau vụ nổ đầu đạn M79, Tín phải cho tạm ngừng công việc.

    – Đúng là đụng đến đèo không phải chuyện dễ!

    – Ấy thế, xưa nay ai cũng lảng xa. Có ai màng đến đâu?

    – Không biết rồi có ai dám đào dám cuốc vào đất đèo nữa không?

    – Hay là do động thổ không cúng bái thần linh rồi! Đất này thiêng lắm mà!

    – Khổ rồi! Biết làm sao đây?…

    Công nhân có phần hoang mang.

    Người người bàn tán xôn xao.

    Ai cũng lo công cuộc trồng rừng có thể vì sự cố nổ đạn mà đổ bể.

    Khi tình hình của Lượng khá ổn, Tín gấp rút liên hệ với đơn vị công binh đóng chân trên địa bàn tỉnh để rà phá bom mìn. Đơn giá được tính ra khá cao, nhưng khi biết được sự nhiệt huyết trồng rừng đèo của Tín, thủ trưởng công binh đã muốn đóng góp một phần công sức của đơn vị cho sự nghiệp phủ xanh ấy. Cái hợp đồng được ký chỉ như là một văn bản ràng buộc trách nhiệm, không kèm dự toán, kinh phí. Lâm trường chỉ cần cung cấp đủ điều kiện ăn nghỉ, đi lại cho các chiến sĩ trong suốt thời gian thực thi nhiệm vụ.

    Thế là đã có quý nhân phù trợ!

    Đến chuyện tính kế làm cây giống.

    Ngoài sức của công nhân, lâm trường phải nhờ vào người dân làng Tờ Ling gần dưới chân núi.

    Đường lên thực địa dốc ngược. Mùa mưa là mùa trồng cây, leo núi cứ trơn trượt lầy lội nhoe nhoét, đưa được một bầu cây lên đỉnh núi chẳng phải là việc dễ. Như vậy rất khó đẩy nhanh tiến độ trồng rừng trên đỉnh đèo.

    – Cây giống phải ươm trên lưng chừng núi – Tổ trưởng tổ vườn ươm nêu ý kiến.

    – Ý cậu là sao?

    – Là tạo mặt bằng, làm lán trại trên lưng núi. Coi như mai phục sẵn trên cao!

    – Ừ, hay đấy nhỉ! Cứ như đánh trận thời chiến.

    – Đất này mưa đậm rồi, coi như hết đường lên!

    – Được, được lắm.

    Việc ươm trên cao đi lại khó khăn, chăm tưới cũng vất vả. Tuy nhiên ươm cây gần rừng, khi trời vừa mưa xuống đã có sẵn tại chỗ trồng ngay. Thế mới hiệu quả.

    Cách trồng rừng xưa nay, cây giống được ươm dưới các vườn ươm trong các khu dân cư. Dễ chăm sóc, đỡ vất vả. Cây tốt, mưa đậm mới đem cây đi trồng. Trời mưa tầm tã, với những dãy núi Cổng Trời vận chuyển số lượng cây lớn là rất khó khả thi. Cách ươm giống ngay trên núi là lời giải tốt cho phương án trồng cây trên đỉnh Cổng Trời vào mùa mưa!

    Việc xin được một khoản đầu tư từ giọt nước trên hóc núi về đến vườn ươm khá trầy trật, nhưng rồi Tín cũng đã thuyết phục được phần nào. Ngân sách hỗ trợ vật tư, lâm trường huy động nhân công, kéo ống nước từ trên đỉnh cao về đến lưng núi.

    Có được nguồn nước, vườn ươm càng tăng thêm tính khả thi. Người trồng rừng càng có thêm lòng tin về những mầm cây sẽ bám rễ trên sỏi đá. Ai cũng vui. Ai cũng hồ hởi với công việc gian nan mà tràn đầy hy vọng.

    Lâu lắm rồi làng Tờ Ling lại đốt lửa trại, gióng trống gõ cồng chiêng, chế rượu cần. Để có cuộc vui, Tín cho hẳn một con bò. Cuộc vui chơi kéo dài thâu đêm. Trước đó là lễ kết nghĩa giữa lâm trường Cổng Trời và làng Tờ Ling với thủ tục giản đơn mà thân mật. Già làng A Vớt giết một con gà, khui một ghè rượu nhỏ. Già và Tín cùng vít cần rượu trước sự làm chứng của các giàng, người làng và tập thể công nhân.

    Sau lễ kết nghĩa, Tín cho kéo một hệ thống nước từ trại ươm cây giống xuống đến thung lũng bìa làng Tờ Ling, làm một giọt nước. Có được nguồn nước rừng trong mát, làng Tờ Ling rất vui. Chiều chiều già trẻ trai gái tập trung ở giọt nước của làng tắm giặt, chuyện trò râm ran. Những người đàn bà con gái gùi bầu nước mát về cho gia đình, đỡ xa, đỡ cực.

    Đã lâu, khi về với Cổng Trời, suốt ngày leo núi, thói quen chạy xe đi chụp ảnh rừng suối bản làng của Tín hầu như cũng bị lãng quên. Anh chăm chút với công việc cuốc đất, ươm cây, phòng cháy.

    – Hình như bác Tín về đất này thì quên luôn cả chạy xe máy rồi. Suốt ngày toàn thấy cuốc bộ leo núi!

    – Rừng dốc thế này thì chỉ có xe cọc cạch mới đi được!

    – À, mà cái 67 của anh đâu rồi. Lâu không thấy!

    – Không đi nữa, cho thằng bạn mượn rồi.

    Nói cho qua chuyện rồi Tín lảng sang chuyện khác. Cái xe 67 tại thời điểm là một tài sản quý, có thể đổi được cả căn nhà phố mà anh nói cứ như đồ chơi, làm ai cũng ngạc nhiên.

    Khi cây pơ lang trơn thả bông đưa hạt đu bay trong bầu trời, lâm trường đã cho công nhân leo lên các sườn núi cheo leo, đảo các hố đất cho tơi đều. Việc đào hố trồng cây đã được thực hiện trong dịp mưa lớn năm trước. Khi núi đã no nước, việc đào đất đá cũng mềm bở hơn. Hố đào được sâu hơn. Qua một mùa mưa, đất mùn đã lấp cạn đến miệng hố. Nhiều người dân trong vùng biết vậy, cứ bảo Tín gàn ngược đời.

    Thực ra, đó là lợi dụng tự nhiên một cách khôn khéo. Năm trước đào hố trời mưa, năm sau đảo đất trời nắng, cả hai công việc đều thuận lợi và hiệu quả không ngờ. Cái cách gàn ấy hóa hay. Đất đã hả hoai, đá non đã được phong hóa, mưa mới đổ trận đầu lâm trường đã sẵn sàng đặt giống.

    Việc đưa bầu cây lên đỉnh núi cao chót vót cũng chẳng ai hình dung nổi.

    Từ vườn ươm lên vai núi, lâm trường dùng xe cọc cạch số mạnh chở cây vượt dốc theo đường đồng mức mà bám. Đó là một phương tiện chuyên chở đường núi hiệu quả bất ngờ. Đến đoạn vách núi dựng đứng thì huy động làng Tờ Ling gùi cây theo lối mòn đưa lên tận đỉnh cao.

    Cây được trồng sớm, hễ cơn mưa đợt hai, ánh sáng còn nhiều, rễ đã tua tủa, cành đã đâm lên lá mầm mươn mướt.

    Việc trồng cây lại cũng có vẻ ngược đời, cuốn chiếu từ trên đỉnh cao chót vót tràn dần xuống thấp.

    Những chuyện ngược đời ấy, có vẻ lại như là thuận lợi.

    Hai năm sau, đỉnh núi trọc lóc sỏi đá đã có những mầm cây non tơ, mang lại chút màu xanh của đại ngàn một thời. Theo thời gian, hơn ngàn héc ta đất núi trọc trơ hai bên sườn đèo Cổng Trời đã được phủ kín bằng những cánh rừng trồng cao ngất.

    Tiếp thu cách quản lý rừng theo tiểu khu của ông Quyết, Tín cho lâm trường phát những đường ranh cản lửa theo từng vuông rừng. Cuối mùa mưa thì bố trí nhân công đi phát quang cây cỏ, chia cắt mái rừng thành những ô vuông bàn cờ giữa mênh mang trời đất. Chẳng ai hiểu, thế để làm gì.

    – Keng keng keng, keng keng keng…

    Đang ăn cơm chiều thì vang lên tiếng kẻng báo động.

    – Cháy rừng, cháy rừng!…

    Mọi người ầm ầm la hét.

    Những bước chân chạy gấp.

    Cả lâm trường bỏ dở bữa cơm chạy ào lên dốc núi. Người thì mang sẵn cành lá lớn, người mang bao tải, có người cởi luôn áo quần đập lửa. Cuộc dập lửa kết thúc đã là mười giờ đêm. Mồ hôi nhễ nhại, bụng đói, chân lảo đảo, tay bủn rủn, đoàn người lần từng bước chân trở về như sau một trận đánh sinh tử.

    Rất may rừng đã được chia ô nhỏ. Việc cháy không lan rộng nên vẫn nằm trong tầm khống chế.

    – Chắc có kẻ làm phản!

    – Đừng nghĩ thế có tội!

    – Chắc là ai đó vô ý vứt mẩu thuốc ra rừng thôi mà. Mùa khô rất dễ bắt lửa!

    – Thôi, coi như là một kỷ niệm với rừng. Đừng nặng tâm suy nghĩ!

    Tắm rửa.

    Tiếp tục ăn xong bữa vào đúng hai giờ sáng.

    Rất khó để làm nên giấc ngủ trước bao nhiêu cung bậc cảm xúc.

    Coi như thức trắng!

    Khi gần hết diện tích rừng được bao phủ, đang trong trạng thái hân hoan, đơn vị lâm trường lại nhận được một tin không vui. Có đơn nặc danh kiện giám đốc Tín.

    – Trời ơi. Con người suốt đời làm toàn việc tốt thế mà còn bị kiện. Lạ thật!

    – Thế mới là cuộc đời. Chẳng ai biết hết chữ ngờ!

    – Chắc lại bọn ghen ghét phá hoại!

    – Mà vụ gì vậy?

    – Nghe nói sai quy trình định mức trồng rừng, lạm dụng kinh phí dự án mắc hệ thống nước cho làng Tờ Ling sai chế độ để lấy lòng, lợi dụng đồng bào!

    – Thật là “không ưa dưa hóa dòi”!

    Thanh tra làm việc trong một tháng.

    Thật ra việc không tuân thủ quy trình trồng rừng hóa ra lại là công, chẳng phải tội. Kết cục là hiệu quả trồng rừng rất cao, đạt chín mươi lăm phần trăm. Chi phí nhìn vậy hóa ra lại rất thấp!

    Riêng việc mắc hệ thống ống nước cho làng Tờ Ling, khi thanh tra ra mới biết đó là khoản tiền riêng của Tín. Anh bán chiếc xe 67 của cá nhân, lấy tiền mua ống nước cho làng. Vì tế nhị, trước mọi người anh cứ bảo chiếc xe 67 khi đến vùng núi không có nhu cầu sử dụng nên cho bạn mượn. Khi biết được sự thật, ai cũng thực sự xúc động. Mọi người càng trân quý anh hơn.

    Rốt cuộc thanh tra.

    Lâm trường như nở hoa tỏa hương.

    Trái với ý đồ của ai đó.

    Bao nhiêu hình ảnh nhờ vậy được rõ hơn, đẹp hơn!

    Người tốt, việc tốt không muốn nói đến, bỗng dưng có kẻ vạch ra trước mắt thiên hạ!

    Trên tất cả, rừng thì được phủ những mầm xanh hy vọng tốt tươi.

    Đã mấy năm không về nhà.

    Khi việc trồng rừng hòm hòm Tín muốn bứt ra ít ngày về thăm mẹ.

    – Lớn bằng từng ấy tuổi rồi mà đi về cứ lọm cọm một thân một mình vậy con. Thế cô gái Tây Nguyên đâu rồi, hay mày lừa mẹ? – Bà Thịnh buồn ray rứt.

    – Dạ, con xin lỗi mẹ. Cô ấy chê con nghèo nên đi với người khác rồi!

    – Tội nghiệp. Nghèo thì ế à. Thôi về đây. Tao hỏi vợ cho.

    Trường làng có cô giáo Hoa hơi cứng tuổi. Bà Thịnh có vẻ hợp. Mà hình như bà đã nhắm từ trước.

    Không ngờ cái việc vợ con lại đơn giản thế.

    Đợt phép về với mẹ là xong!

    Năm thứ tư, đèo Cổng Trời trở nên xanh mướt mát. Hai bên đường đèo, Tín cho di thực những cây hoa sữa như cổ tay cổ chân về trồng thành hàng bên ta luy âm. Đó là thứ cây đặt xuống đất là sống. Chỉ một mùa mưa cây hoa sữa đã đâm cành nảy lộc. Năm sau nữa đã cho hoa thơm lừng.

    – Ờ, cái hàng cây lãng mạn quá. Vừa mát vừa thơm. Đường đèo cứ như đường phố Hà Nội!

    – Chắc là ông Tín nhớ Hà Nội mà làm vậy. Thời xưa học ngoài ấy, thể nào chả có em Hà Thành. Ôm nhau dưới hàng hoa sữa lại không lãng mạn à. Biết đâu lại nhớ nàng mà cho trồng những hàng cây ấy.

    Các chị công nhân chiều nào qua đèo cũng lại bàn tán.

    Mà lãng mạn thật.

    Cây hoa sữa vốn là thứ mọc hoang trong rừng.

    Ở rừng.

    Hoa thế nào, hương ra sao chẳng ai để ý.

    Đến khi trồng thành hàng bên con đường đèo quanh co hóa đẹp huyễn mộng.

    Mùa ra hoa đêm đêm thơm nức.

    Đó là thứ hoa đã khắc ghi dấu ấn trên những đường phố Hà Nội. Nó đã đi vào bao áng thơ ca về tình yêu nồng nàn của tuổi trẻ.

    Cánh tài xế đường dài có chút màu xanh cây cũng trở nên tự tin hơn, ít choáng ngợp, tay lái vững vàng hơn. Cổng Trời không còn là con đèo tử thần với các loại xe vận tải nữa.

    Ở quê, cô Hoa đã sinh được cậu con trai. Trời mở lượng phúc lộc cho kẻ già kén kẹn hom. Tuy vậy chưa kịp mừng vui thì Tín lại phải nhận tin buồn. Cô Hoa ốm lắt lay cả năm, rồi hao mòn không rõ nguyên nhân dẫn đến cái chết. Đứa con hơn tuổi để lại cho bà nội.

    Vợ ốm đau, Tín không chăm được một ngày.

    Anh thấy mình thật là tội lỗi.

    Người xưa bảo: “Vợ chồng một ngày nên nghĩa”.

    Rồi con nhỏ nữa.

    Anh như kẻ trút bỏ trách nhiệm.

    Tín tự hứa với mình, ráng mấy năm nữa, khu rừng Cổng Trời đến ngày xanh tốt, anh sẽ về với mẹ già con nhỏ, sẽ cố làm bổn phận của mình.

    Bấy giờ, rừng, cây, cứ bám riết lấy kẻ ốm o là anh.

    Cũng bởi anh mê cái nghiệp trồng rừng.

    Anh vui buồn với cây.

    Rừng cứ như là nỗi niềm của kẻ xa xứ.

    Những đêm trăng, Tín lại lững thững leo từng con dốc, hứng từng ngọn gió mát tận cõi lòng. Ngắm trăng rừng trong tâm trạng cô đơn, mới đã làm sao.

    Sóng vàng ngập tràn thung lũng.

    Trăng mạ vàng lên từng ngọn cây.

    Trăng phết vàng lên từng phiến lá.

    Trăng tưới vàng lên những vầng mây ngờm ngợp.

    Mây sóng sánh bồng bềnh nhẹ lướt qua Cổng Trời.

    Trên kia dịu dàng như cõi tiên.

    Một đêm đi ngắm trăng như vậy, Tín bị rắn độc cắn. Rất may người làng Tờ Ling có vị thuốc lá thần diệu mà anh không mất mạng. Nhưng vẫn phải đi bệnh viện cấp cứu mất gần tháng, sự nguy kịch đi qua để lại cho anh một cái chân teo cơ khấp khểnh.

    Không thể trèo núi được nữa, Tín đành phải giã từ Cổng Trời về hưu, sống với mẹ già ở quê.

    – Cảm ơn các bạn, cảm ơn dân làng đã đồng hành cùng tôi qua những tháng ngày gian khó! – Tín rưng rưng thốt ra những lời vụng về từ tâm khảm mình.

    – Chúng tôi phải cảm ơn anh mới phải. Rừng núi mãi ghi ơn anh! – Một công nhân ngậm ngùi bịn rịn.

    – Hy vọng là chúng ta sẽ còn nhiều cơ hội gặp lại!

    Chia tay Tín nhiều người không cầm nổi nước mắt.

    Rừng như lao xao.

    Gió như hờn mát!