Author: editor editor

  • TTS feed content

    #Vietchualanh #VuLamHien_Thoigianchualanhnoidaucuocdoi DỰ THI “VIẾT CHỮA LÀNH” – BOOKAS THỜI GIAN CHỮA LÀNH NỖI ĐAU CUỘC ĐỜI Thời gian là vô hạn, là miễn phí nhưng trân quý vô cùng, không ai mua được thời gian. Thời gian trôi trôi nhẹ nhàng đến mức có khi làm người ta không thấy được, không cảm nhận được sự hiện diện của nó. Khi còn trẻ, quỹ thời gian của ta luôn đầy ắp. Thời gian để vui chơi, chạy nhảy, rồi học hành, nghỉ ngơi. Có thể, khi đó, giá trị thời gian chưa được đậm nét trong suy nghĩ của ta. Ta cứ vô tư để mỗi ngày trôi qua, mặc cho nó có thể là một ngày vô nghĩa, một ngày chẳng thích làm việc gì. Người trẻ thường lãng phí thời gian của mình mà chẳng chút bận tâm. Nhưng đến khi bừng tỉnh, đủ sự chín chắn và trưởng thành, thì ta mới biết thời gian trôi qua, khó mà quay lại. Sống hãy hết mình với hiện tại, thì mới không nuối tiếc thanh xuân. Thời gian không trao cho bất kỳ ai sự thiên vị hay sự ưu ái nào. Người giàu hay người nghèo, người quyền uy hay người cô thế thì thời gian dành cho mỗi người đều là 24 giờ một ngày. Thời gian là vô hạn nhưng đời người chỉ hữu hạn. Và diệu kỳ hơn nữa, thời gian như dòng nước tinh túy, cứ chậm rãi chảy qua cuộc đời mỗi chúng ta, làm chúng ta được tắm mát, được khai sáng, được tỉnh thức, và thậm chí còn làm những đau khổ bị phai lạt dần. Thời gian quả là liều thuốc tiên để đắp bồi cho mỗi chúng ta sự lớn lên dần dần, sự trưởng thành dần dần. Tóc của mỗi người, theo thời gian sẽ bạc đi, không còn đen nhánh nữa. Thời gian thật sự giúp chúng ta biết sống tốt hơn, ý nghĩa hơn từng ngày, nhưng cũng nhắc cho chúng ta thấm thía cần phải chủ động hơn, tích cực hơn khi đời người đang sắp khép lại. Trên cuộc đời, mỗi người chúng ta ai cũng đều nếm trải những thất bại như thi rớt, không tìm được việc làm như ý, không lấy được người mình yêu,…Những điều không mong muốn đó làm chúng ta cau mày, nhăn mặt, thậm chí rơi lệ, thậm chí bỏ ăn không ngủ không muốn gặp mặt ai nữa. Đó là những bóng đen nặng trịch, cứ phủ chồm lên tâm hồn, lên trái tim non nớt, chưa nhiều kinh nghiệm như chúng ta khi còn trẻ. Rồi khi thời gian trôi qua, chúng ta sẽ gặp thêm những niềm vui mới, rồi cũng thêm đôi lần thất bại nữa. Thất bại khi đến với chúng ta nhiều lần, có thể làm ta thêm đau đớn, tự ti, không dám mơ ước nữa. Khi nghịch cảnh đè nén lên chúng ta, chúng ta sẽ không dám nhìn lên, không dám nhìn ngay cả về phía ánh sáng mặt trời. Chúng ta chìm trong bóng tối u ám. Nhưng ngày qua ngày, ánh sáng mặt trời vẫn gắng gồng len lỏi, vươn tới chạm vào da thịt chúng ta. Liều thuốc thời gian xen lẫn những niềm vui trong cuộc sống sẽ nâng đỡ từng người chúng ta tỉnh thức. Và rồi, nhiều người biết tự học cách vượt qua sự thất bại của chính mình, biết tỉnh bơ mà sống, biết bỏ mặc và không nhắc nhớ đến thất bại. Cuộc đời luôn có nhiều con đường để đi, nhiều cánh cửa để mở ra, nhiều nguồn sáng sưởi ấm được…Thời gian sẽ cho chúng ta cơ hội mới, những cơ hội để chúng ta biết cố gắng thật nhiều, thêm lần nữa, để không bị đánh gục lần nữa. Chúng ta bị vấp ngã, hãy tự vấn lại mình, biết rút ra kinh nghiệm, biết đi tìm sách, tìm bạn bè thầy cô hỗ trợ để tìm ra giải pháp. Cơ hội thành công luôn chờ ở cuối con đường, dành cho những ai không chấp nhận dừng lại hay bỏ cuộc hay hèn nhát không dám dấn thân. Thời gian như người thầy đáng kính lẫn khó tính. Người thầy ấy dạy chúng ta hiểu rõ thất bại là không thể tránh, nhưng cũng dạy cho chúng ta biết, nếu biết trau dồi, cải tiến, và chờ đợi, thì tương lai, sẽ có những phần quà tươi đẹp dành cho người chiến thắng cuộc chơi. Thời gian thì im lặng, nhưng kết quả mà thời gian biết luyện tập đem đến thì luôn làm chúng ta bật lên thành tiếng nói, tiếng tán thưởng. Đơn cử như sự rèn luyện chạy bộ trong vài tháng đã giúp đạt giải nhất trong cuộc thi chạy toàn trường. Hay chuyện dành nhiều thời gian để học nấu ăn, trở thành đầu bếp chính là ước mơ của ai đó trong chúng ta. Thời gian ẩn chứa sức mạnh mà chúng ta nên học cách biết sử dụng. Thời gian làm cho chúng ta không còn nhớ trong ray rứt những thất bại đầu đời nữa. Khi không còn nhớ, chúng ta sẽ không còn đau khổ, tiếc nuối nữa. Thời gian xoa dịu tâm hồn mỗi người trong chúng ta là như vậy. Chuyện có 2 bạn thời thơ nhỏ khi chơi có đánh nhau kịch liệt rồi khóc to. Vậy mà khi thời gian trôi, nhiều chuyện đã xảy ra, khi gặp lại, hai bạn giờ đã trưởng thành, gặp nhau, chỉ còn biết cười xòa khi nhắc câu chuyện hồi nhỏ, cứ tưởng chả bao giờ làm hòa được. Thời gian cứ như dòng nước sạch, mỗi ngày đều cuốn trôi đi ẩn ức buồn bã trong chúng ta. Thời gian chữa lành vết thương tâm hồn, lẫn vết thương trên cơ thể. Vết sẹo rồi sẽ hết tấy đỏ, hết nhức nhối, lâu ngày dần chỉ còn là vệt mờ trên da. Tâm hồn lẫn cơ thể đều nhờ thời gian để phục hồi, để tươi tắn trở lại. Thời gian chính là giúp chúng ta trưởng thành hơn, giúp chúng ta biết được ước mơ nào, người yêu nào mới đúng chính xác phù hợp dành cho mỗi chúng ta. Có những ước mơ không đủ khát khao sẽ bị chúng ta buông tay, thả mất. Nhưng có ước mơ cứ to dần và thôi thúc, theo dòng thời gian cùng chúng ta. Thời gian cho chúng ta có đôi mắt sáng ra, biết nhìn nhận cuộc đời dịu dàng hơn, thi vị hơn. Chúng ta sẽ dần hiểu, cuộc đời thì gửi trao nỗi buồn lẫn cả niềm vui. Nhưng chúng ta nên học cách chủ động để vượt lên nỗi buồn, học cách yêu đời, yêu người, biết tạo ra niềm vui chớ không chỉ biết ngồi chờ sung rụng. Thi rớt lần đầu thì khóc lóc thảm thương, trốn mình ở nhà không giao tiếp. Thi rới lần nữa thì sao không đạp xe đi dạo, ngắm phố phường cho xả hơi nỗi buồn. Tự biết cách làm mình tươi mới hơn, có hy vọng tự tin nhiều hơn nữa. Khi biết mỉm cười, biết đứng dậy sau vấp ngã thì cuộc đời trong ánh nhìn của mỗi chúng ta cũng đáng yêu, đáng để trải nghiệm lắm cơ. Bạn bè hay người thân, thầy cô có thể rất nhiệt tình để giúp đỡ cho chúng ta vượt lên thất bại, nỗi buồn. Tuy thế, sự vượt lên nghịch cảnh như vậy, thiết nghĩ, chỉ có chính chúng ta, dùng thời gian để suy tư, phân tích, nhìn nhận vấn đề thì mới giải quyết được. Có thể 1 ngày, có thể 1 tuần, hay cả 1 năm, chỉ cần kiên trì ngẫm nghĩ về sự đời, về nhân sinh, mỗi người trong chúng ta sẽ biết mỉm cười với chính câu chuyện thất bại, chứ không còn dằn vặt với nó nữa. Cuộc sống là nhiều câu chuyện sự đời, có gập ghềnh, có căng buồm xuôi gió. Nhưng dù thế nào đi nữa, thời gian là người bạn vô hình, có thể xoa dịu, chữa lành cho mỗi chúng ta. Chúng ta trưởng thành theo thời gian, sẽ học được cách biết thong thả, tươi vui mà sống cùng nhau. Vì chúng ta hiểu, quỹ thời gian của chúng ta đang dần cạn. Chỉ còn cách biết sống hữu ích, có ý nghĩa, sống cho mãn nguyện nhất, và biết trân quý thời gian thì mới không phí một đời đã sống. Vũ Lam Hiền (Bút danh)

  • TTS feed content

    ÔNG GIÀ VÀ BIỂN CẢ: KHÚC CA KIÊN CƯỜNG DÀNH CHO NHỮNG CON NGƯỜI LAO ĐỘNG Trong lòng biển cả bao la, lão ngư Santiago, nhân vật chính của “”Ông già và biển cả”” hiện lên như một biểu tượng lặng lẽ mà kiêu hãnh của con người trước số phận. Lão già Santiago gầy gò, da nhăn nheo cháy nắng, bàn tay sần sùi vì kéo dây câu. Cái nghèo, tuổi già và 84 ngày trắng tay khiến người làng gọi lão là “”salao”” (tột cùng của sự xui xẻo). Nhưng lão không phải là kẻ cam chịu. Trong cái dáng vẻ tàn tạ ấy là một tâm hồn đầy sức sống, thông minh và sâu sắc. Lão vẫn ra khơi mỗi ngày, vẫn ngẩng cao đầu giữa ánh mắt giễu cợt của người đời. Sự kiên trì ấy chính là ngọn lửa âm ỉ của phẩm giá. Người bạn nhỏ Manolin, cậu bé từng đi câu cùng lão là nhân chứng cho thứ tình bạn hiếm có trong đời. Dù bị cha mẹ cấm, Manolin vẫn chăm sóc, tin tưởng và yêu quý lão vô điều kiện. Trong mối quan hệ ấy, ta thấy được sự kế thừa giữa các thế hệ, giữa niềm tin và lòng trung thành không điều kiện. Santiago yêu biển như yêu một người phụ nữ. Lão gọi biển là “la mar”, danh từ giống cái trong tiếng Tây Ban Nha, không phải để chinh phục, mà để tôn trọng. Lão hiểu biển như hiểu một người tình: “Ông lão bao giờ cũng nghĩ rằng biển là thứ gì đó đậm nét nữ tính, ban phát và từ chối những ân huệ lớn lao, và nếu nàng biển có tỏ ra hung dữ hay quỷ quyệt cũng là vì nàng không thể giúp họ nữa.” Lão đồng cảm với cá chuồn, thương chim nhạn biển nhỏ bé phải chống chọi với gió to, và yêu mến cả những con rùa, thứ động vật bị người đời xem thường vì chậm chạp. Santiago không đơn độc, lão có những người bạn dưới đại dương, là cá, là sóng, là gió. Nhưng biển đâu dễ chiều lòng người. Ở ngày thứ 85, Santiago câu được một con cá kiếm khổng lồ. Cuộc chiến bắt đầu, ba ngày ba đêm kéo dài đầy căng thẳng và tôn nghiêm. Lão không ghét con cá. Trái lại, lão gọi nó là “anh bạn”, “đối thủ xứng đáng”, và giết nó như một chiến binh giết một chiến binh, không vì thù hằn, mà vì sống còn. Thắng được cá kiếm nhưng lão thua đàn cá mập. Chúng đến theo mùi máu, rỉa nát xác cá kiếm khi lão đang cố đưa nó về bờ. Lão kiệt sức, chiến đấu bằng cả mái chèo, con dao, thậm chí cả cột lái thuyền. Nhưng rốt cuộc, về đến bờ, chỉ còn bộ xương trắng. Santiago nhận ra mình đã bị đánh bại.”Lão biết, giờ đây mình đã bị đánh bại hoàn toàn, không thể nào cứu vãn nổi” Nhưng bộ xương khổng lồ của con cá kiếm là minh chứng cho cuộc chiến vĩ đại của Santiago. Người đời thấy “xác con cá to lắm”, họ thì thào tôn kính. Nhưng chỉ có lão biết, thứ lão giữ được không phải là thịt cá, mà là phẩm giá. Ernest Hemingway đã dùng bút pháp tối giản mà sâu sắc, đặt từng câu chữ như lưỡi dao lạnh chạm vào cảm xúc người đọc. Không triết lý ồn ào, chỉ là những độc thoại lặng lẽ của ông già giữa đại dương, mà như chứa đựng cả câu hỏi về con người, số phận và niềm tin. “Ông già và biển cả” không chỉ là một câu chuyện câu cá. Nó là biểu tượng cho khát vọng chinh phục ước mơ, lý tưởng sống lớn lao, cho dù cái giá phải trả là sự mất mát. Câu chuyện ca ngợi tinh thần lao động chân chính, lòng dũng cảm, và phẩm giá con người, trong một thế giới nơi đôi khi chúng ta thua, nhưng vẫn có thể thua một cách kiêu hãnh vì “Con người có thể bị huỷ diệt, nhưng không thể bị đánh bại.”

  • TTS feed content

    TẬN CÙNG CỦA NGU DỐT LÀ ĐỐI XỬ TỐT VỚI QUÁ NHIỀU NGƯỜI Có bao giờ bạn tự hỏi vì sao lòng tốt của mình lại bị xem thường? Vì sao càng đối xử tử tế với người khác, bạn lại càng cảm thấy mỏi mệt, tổn thương và… đơn độc? Người ta thường dạy ta phải sống tốt, biết yêu thương và tha thứ. Nhưng ít ai nói cho bạn biết rằng: lòng tốt không có ranh giới, là con dao hai lưỡi. Khi bạn tử tế với tất cả, không phân biệt ai đáng hay không, thì lòng tốt ấy dần trở thành một thứ rẻ mạt, dễ bị lợi dụng, dễ bị coi thường. Khổng Tử từng được học trò hỏi rằng: – “Lấy đức báo oán có được không?” Ngài đáp: – “Vậy thì lấy gì báo đức? Phải lấy công bằng báo oán, lấy đức báo đức.” Đây không phải sự lạnh lùng, mà là một cảnh giới phân minh: tử tế đúng người, mới là tử tế có trí tuệ. Có một kiểu người luôn sợ bị ghét, sợ mất lòng, sợ bị bỏ rơi, nên cố gắng tử tế với tất cả. Nhưng thực ra, đó là sự yếu đuối trá hình dưới vỏ bọc thiện lương. Khi bạn dốc sức vì người khác, nhưng lại không dám nói “không”, không dám bảo vệ ranh giới, bạn sẽ bị rút cạn năng lượng mà không nhận được sự trân trọng. Tôn Tử dạy: “Biết người, biết mình, trăm trận trăm thắng.” Còn người không biết mình nên dừng ở đâu, nên tốt với ai, sẽ là kẻ trăm trận trăm thua, dù không cầm kiếm. Thực chất, tử tế không phải là bản năng mà là bản lĩnh. Bạn cần có trí tuệ để phân biệt giữa lòng nhân và lòng nhu nhược, giữa nhẫn nhịn và cam chịu. Lòng tốt không có ranh giới là thứ dễ bị lợi dụng nhất. 👉 Tử tế có giới hạn là một dạng trí tuệ. Bạn không cần làm vừa lòng tất cả. Hãy làm đúng với giá trị, và tử tế với những ai biết trân trọng. Hãy đọc “Trí Tuệ Của Người Xưa” để giữ mình vững chãi giữa nhân gian biến động, sống tử tế mà không đánh mất chính mình. Tốt thôi chưa đủ. Tốt, và tỉnh táo, mới là cách để sống an yên giữa đời.

  • TTS feed content

    Hồi nhỏ, ba mẹ đi làm, ba chị em con thường lên nhà nội chơi, có khi ở lại ngủ. Tối đến, sợ lắm. Giường nội nhỏ mà con không dám nằm sát cửa sổ. Mắc tiểu cũng ráng nhịn tới sáng. Nửa đêm nghe tiếng ông nội đọc Kinh, con rúc sâu hơn vô cái mền, hổng dám mở mắt nhìn. Ký ức về bà nội là ký ức của những ngày có bánh bèo bột xây, hến đãi ngoài sông rồi mang về nấu cho con cháu. Là những buồng chuối chín, những múi mít thơm, nội đều để dành, chờ con cháu lên chơi mới cho ăn. Mỗi lần tụi con tới, ông bà lại lục lọi tìm món ngon biểu con ăn cho hết. Ông bà nội hay mắng, mà mắng bằng thơ, bằng văn. Mắng riết mà tụi con lại khoái, vẫn cứ thích mò lên nhà nội chơi miết. Bà nội kể chuyện chiến tranh, chuyện ma, chuyện tình của ông bà hồi trẻ. Bà hay nói thơ, nói văn, mấy câu lạ hoắc mà con chưa từng được học. Vườn nhà nội thứ chi cũng có. Mỗi lần thèm món canh thập cẩm, chỉ cần lên nhà nội đi dạo một vòng là có ngay cả chục thứ rau xanh mướt. Tới giờ, con vẫn thèm cái mùi vị ấy — mùi của vườn quê, mùi của tuổi thơ. Trong nhà nội còn có một điều con thích nữa: những quyển kinh Phật. Con từng ngồi lật miết từng trang, đọc không hiểu, bà nội mới biểu: “Con nít đọc cái ni nè” – đó là cuốn “Vu Lan Báo Hiếu”. Con dạ, nhưng cũng đọc giữa chừng rồi bỏ dở. Con đi học xa, nhiều khi về rồi cũng quên ghé thăm, phải đợi ba mẹ nhắc mới nhớ. Mỗi lần lên chơi chỉ hỏi thăm vài câu, rồi lại ra vườn xem cây trái, tại con không biết nói chi. Tình cảm gia đình rất thiêng liêng nhưng cũng rất khó để bày tỏ. Khi nội ốm, con về thăm mà không dám ngồi gần. Nghe nội than “đau”, con ngồi bên là nước mắt con trào. Bà nội mắng: “Cha mi! Để dành tới hồi tau chết rồi khóc.” Mỗi lần con về, con hay hỏi: “Nội biết con là đứa mô hông?” Nội trả lời: “Con chó nhà thằng Khuyến” — rồi cười khì khì. Hôm nay, con đau lòng lắm, nhưng con mừng cho bà nội — hết đau rồi, hết buồn rồi nội! Nội về với Ông Bà, về với Phật nội nhé!

  • TTS feed content

    Buổi Sáng Trong Lành Sáng nay, khi ánh sáng ấm áp của bình minh vừa chiếu qua cửa, tôi nhìn ra ngoài và cảm nhận không khí trong lành, dễ chịu. Bất chợt, tôi nhớ đến một ngày trước đây, khi tấm ảnh chụp cầu vồng rực rỡ xuất hiện ngay trước nhà. Những sắc màu nhẹ nhàng nhưng sống động ấy làm lòng tôi thư thái, như một lời nhắc nhở về những điều đẹp đẽ trong cuộc sống. Dù không phải hôm nay, nhưng hình ảnh đó vẫn luôn khiến tôi cảm thấy nhẹ nhõm và tràn đầy hy vọng. Cầu vồng không phải lúc nào cũng xuất hiện, nhưng khi nó xuất hiện, nó mang đến cho ta niềm vui và sự bình yên. Khoảnh khắc đó, cũng giống như mỗi buổi sáng trong lành như hôm nay, là dịp để tôi dừng lại, cảm nhận những điều giản đơn và trân trọng những niềm vui nhỏ bé trong cuộc sống. Hy vọng rằng hôm nay, các bạn cũng sẽ tìm thấy những khoảnh khắc yên bình và vui vẻ, dù là qua những điều giản dị, hoặc một hình ảnh cầu vồng như tôi đã từng thấy.

  • TTS feed content

    TÁC PHẨM DỰ THI CUỘC THI ” VIẾT CHỮA LÀNH” DO BOOKAS TỔ CHỨC “QUẢ TRỨNG CÓ HÌNH TRÒN” – Tác giả: Trần Hoàng Mỹ “Quả trứng hình gì vậy ba?” – tôi ngây ngô cười hỏi. Ba vội vàng đáp lại: “Quả trứng có hình tròn.” Vậy là suốt bao năm đó, tôi đã tin rằng quả trứng có hình tròn. Một hình tròn trịa, chẳng có một góc chết. Tưởng như hoàn hảo, nhưng hóa ra, cho đến khi tôi đủ nhận thức, mới hiểu quả trứng chẳng đơn giản chỉ là hình tròn. Nhìn theo một góc độ bình thường, con người ai cũng nghĩ khi nhắc đến quả trứng thì phải đi đôi với hình tròn. “O tròn như quả trứng gà” – đúng không? Nhưng tôi lại không nghĩ như vậy. Nhắc đến quả trứng, là nhắc đến một nỗi đau, một vết cắt vô hình mà tôi chẳng có cách nào lành lại. Khi còn bé, bà tôi có nuôi một đàn gà. Chúng đông lắm, hiếu động lắm. Mỗi lần bà bưng bát thức ăn ra, gõ vào đó mấy cái là mặc nhiên “dân cư thưa” khi nãy lại đông đúc đến lạ thường. Chúng tranh nhau ăn, con này đá con kia, con kia lại đá con nọ, trông thích mắt lắm. Vậy mà đợt dịch năm đó đã cướp đi những sức sống mạnh mẽ ấy, chỉ để lại cho bà tôi một quả trứng và đôi mắt đượm buồn. Buồn vì bà chẳng thể làm gì để cứu chúng – những con vật mà bà thật sự yêu thương. Có chúng, bà mới có được chút niềm vui trong cuộc sống, nhất là khi các con bà đều ở xa. Lúc đó tôi không hiểu. Tôi khờ lắm, cứ đòi bà quả trứng cuối cùng đó. Vậy mà bà cũng cho. Bà tận tình chiên cho tôi ăn. Bà dịu dàng lắm, khác hẳn với sự cứng rắn thường ngày. Từ đó, tôi không còn thấy bà nuôi thêm con vật nào nữa, dù ba mẹ tôi và các cô chú đã đề nghị mua lại gà cho bà – tất cả đều bằng không. Lúc ba tôi đem những thi thể các con gà đi chôn, tôi không thấy bóng dáng bà. Bà nói bà xuống nhà cô Hai hóng mát để ba làm. Nhưng mắt bà lại đỏ hoe. “Bà khóc hả?” – tôi hỏi với thái độ lo lắng. Nhưng bà vội phủ nhận: “Bụi bay vào mắt thôi, có gì đâu.” Tôi không hỏi nữa. Mãi đến sau này, bà vẫn như thường ngày, nhưng tôi cảm giác bà ít cười hơn lúc trước. Có lẽ sau này tôi mới hiểu giá trị của quả trứng đó: là công sức, là tình yêu thương bà dành cho những con vật nhỏ bé. Lâu lâu tôi lại hỏi bà: “Thế con ăn quả trứng đó, bà tiếc không?” Bà trả lời một cách dõng dạc: “Không. Cháu của bà ăn cho mau lớn mà, tiếc cái gì.” Hình như chính giây phút bà cho tôi quả trứng ấy là lúc bà trao cho tôi sự buông bỏ, sự hy sinh, tình yêu thương, và cả hy vọng đặt vào đứa cháu này. Thực sự, quả trứng lúc ấy rất ngon – không chỉ vì hương vị, mà vì ý nghĩa của nó. Quả trứng của tình yêu thương, của sự chấp nhận và buông bỏ. Thời gian đưa tôi đến một khoảng trời mới – nơi tôi được cắp sách đến trường, được gắn với tri thức, với bạn bè. Lúc này, tôi được dạy rằng quả trứng không chỉ đơn giản như một vật thể hình tròn. Phía bên trong lớp vỏ ấy là một sinh linh đang ngày một trưởng thành và tiến gần hơn đến thế giới này. Nhưng chẳng ai dạy tôi rằng không phải quả trứng nào cũng nở được. Đôi khi là vì sức sống bên trong không đủ, thiếu chất dinh dưỡng để tồn tại. Hoặc có khi do những tác động bên ngoài can thiệp – đó có thể là các loài vật thù địch, mà cũng có thể là… con người. Tôi từng tự hỏi: Liệu mình có can thiệp vào vòng đời của một con gà đáng yêu, không cho nó được ra đời? Nhưng sau này tìm hiểu, tôi biết quả trứng đó không có phôi và không đủ điều kiện để nở ra một con gà hoàn chỉnh. Tôi cũng từng rất thích hát, từng líu lo suốt ngày, chê người này hát dở, người kia giọng không hay. Cho đến khi bản thân cất giọng trước đám đông và nghe lại… tôi mới nhận ra giọng mình “dở” đến nhường nào. Từ đó, tôi chẳng dám cầm micro nữa. Tôi nghĩ trốn tránh là cách tốt nhất. Nhưng ai mà muốn làm một quả trứng không phôi – một quả trứng không bao giờ được nở – đúng không? Hôm ấy, tôi đã cầm chiếc micro, tự tin lên thuyết trình. Tôi đã chấp nhận giọng nói của chính mình. Nó không “ghê” như tôi tưởng. Nó là một phần của tôi – một phần để “con gà trong quả trứng” được nở, được trưởng thành, được đối diện với cuộc sống khắc nghiệt này. Một phần cũng vì gia đình, đặc biệt là vì bà tôi nữa. Năm tháng đó thật đẹp. Quả trứng ấy được bà nuôi dưỡng rất tốt, chỉ mong nó đủ can đảm, đủ tin tưởng, đủ hy vọng để bước vào cuộc sống này – với hình dáng mà bà mong muốn. Và hình như, “đàn gà” của bà đã thành công trên chính lĩnh vực mà mình mong muốn. Bà nhớ không? Gia đình mình từng bị người ta khinh thường nhường nào – từ cái nghèo, cái khổ. Nhưng hiện tại, họ lại chủ động làm thân như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Con không trách lòng người đâu, con chỉ trách bà không còn ở đây để an ủi “chú gà con” mang đầy tâm sự. Nó không hiểu vì sao bản thân được ra đời. Nó cũng chẳng giỏi bằng người ta, cũng chẳng đủ bao dung cho những người từng làm tổn thương nó. Nhưng con lại nhớ đến câu: “Cháu của bà có lòng tốt mà” – câu bà từng nói khi con kể rằng cô giáo hỏi con giỏi về điều gì. “Lòng tốt thì làm gì được hả bà?” – con thắc mắc. Bà cười: “Lòng tốt làm được nhiều thứ lắm. Nhưng điều lớn nhất mà nó mang lại là… con vẫn là con.” Lúc đó, con chưa hiểu. Nhưng giờ con đã hiểu: Lòng tốt sẽ kết nối bản thân ta với những con người và nguồn năng lượng tốt hơn trong cuộc sống chật chội này. Có lẽ, vài năm nữa thôi, quả trứng đó sẽ không chỉ là nỗi đau, mà còn là cơ hội – mở ra những bước ngoặt lớn trong chính cuộc đời của một con người. Dù nó chẳng lúc nào có hình tròn hoàn chỉnh như trong sách, nhưng con tin nó sẽ nở ra một con gà kiên cường, chiến đấu hết mình cho cuộc sống này. #Vietchualanh #Quatrungcohinhtron @

  • TTS feed content

    TÁC PHẨM DỰ THI CUỘC THI “VIẾT CHỮA LÀNH” DO BOOKAS TỔ CHỨC “DÙ CÓ ĐAU VẪN CHỌN NGHỀ GIÁO: MỘT TÌNH YÊU KHÔNG HỐI TIẾC” (Tác phẩm dự thi số 5 của tác giả) Ai đó từng nói: “Thầy cô là những người gieo hạt giống yêu thương vào tâm hồn học trò.” Nhưng có lẽ ít ai hỏi: Tâm hồn của người gieo hạt, ai chăm sóc? Tôi không phải giáo viên chủ nhiệm, không phải người phải quán xuyến từng li từng tí chuyện học trò từ học tập đến hành vi. Tôi chỉ là giảng viên thỉnh giảng, dạy vài buổi cuối tuần và buổi tối ở một số trường đại học, cao đẳng. Vậy mà đã có lúc, tôi thấy mình kiệt sức. Học trò đại học giờ cũng đầy yêu sách: muốn học ít nhưng điểm cao, không thích bị nhắc nhở, coi nhẹ quy định nhưng phản ứng mạnh nếu bị xử lý. Có em lên lớp ngồi lướt điện thoại, nhưng đến kỳ lại xin giáo viên nâng điểm “vì hoàn cảnh”. Nếu nghiêm khắc, giảng viên sẽ bị phàn nàn là khó tính. Nếu linh hoạt, lại bị đánh giá là dễ dãi. Tất cả những điều ấy, nhỏ thôi, nhưng tích tụ dần thành mệt mỏi. Nhưng tôi chưa bao giờ chán nghề. Dù có khả năng làm nhiều việc khác, có thu nhập tốt hơn, tôi vẫn chọn đi dạy mỗi khi được mời giảng. Vì đó là giấc mơ thuở nhỏ, là tình yêu tôi dành trọn cuộc đời. Tôi học ngành tiếng Trung Quốc Sư phạm từ năm 1999 đến 2003 với mơ ước làm cô giáo. Nhưng ra trường không xin được việc đúng nghề, tôi phải làm phiên dịch tiếng Trung Quốc suốt bao nhiêu năm. Năm 2018, khi đã nhận bằng Tiến sĩ, tôi mạnh dạn xin chuyển công tác sang một trường đại học với mong muốn làm giảng viên tiếng Trung. Nhưng người ta từ chối, nói rằng: “Trường này không đào tạo ngành Ngôn ngữ Trung Quốc, không cần đến giảng viên có trình độ tiến sĩ, giảng viên có trình độ thạc sĩ là đủ dạy rồi.” Tôi thất vọng. Nhưng không bỏ cuộc. Tôi đành chấp nhận làm công việc chuyên môn ở vị trí không mong muốn và chủ động xin đi thỉnh giảng ở một số trường đại học, cao đẳng khác vào cuối tuần và buổi tối chỉ để được đứng trên bục giảng, được dạy đúng ngành mình học, đúng đam mê mình theo đuổi. Dù đã ra trường 22 năm, tôi chưa một lần hối tiếc vì đã học ngành Sư phạm. Tôi chưa bao giờ hết yêu nghề giáo. Tôi vẫn háo hức chuẩn bị bài, hồi hộp trước mỗi buổi dạy đầu tiên, vui sướng khi sinh viên nhắn tin cảm ơn vì tiết học truyền cảm hứng. Tôi vẫn chọn đi dạy, dù tiền thù lao thỉnh giảng ít ỏi không bằng công việc khác tôi làm thêm. Vì trong sâu thẳm, tôi biết: đó mới là nơi tôi thuộc về. Tôi đã từng giảng dạy cho sinh viên các trường cao đẳng, đại học ở nhiều địa phương khác nhau và dẫu môi trường có khác biệt, dẫu sinh viên mỗi nơi một tính cách, thì điểm chung vẫn là ánh mắt của các em khi hiểu ra một điều gì đó sau bài giảng, là sự thẹn thùng khi các em biết mình cư xử chưa đúng, là những dòng tin nhắn gửi muộn lúc 11 giờ đêm: “Cô ơi, mai em nộp bài được không? Em bị đau bụng cả ngày. Em xin lỗi cô ạ.” Tôi cảm thấy mình được sống thật, được là chính mình, mỗi khi bước vào lớp học. Tôi yêu từng tiết giảng, yêu tiếng cười rúc rích của sinh viên khi tôi kể một câu chuyện thú vị. Tôi yêu cả những buổi học lặng lẽ, khi tôi và sinh viên cùng nhìn lại một vấn đề xã hội dưới lăng kính giáo dục. Với tôi, bục giảng là nơi tôi thuộc về và nghề giáo là điều duy nhất khiến tôi chấp nhận đánh đổi thời gian, sức lực mà không so đo thiệt hơn. Tôi cũng biết, rất nhiều giáo viên khác vất vả hơn tôi rất nhiều. Nhất là giáo viên chủ nhiệm ở bậc phổ thông – nơi người thầy không chỉ là người dạy, mà còn là người dỗ dành, người quản lý, người xử lý khủng hoảng, người gánh mọi trách nhiệm nếu lớp có “biến”… Trong một buổi trò chuyện với người bạn cũ – cô giáo chủ nhiệm lớp 9 tại một trường công lập – tôi đã lặng người khi nghe cô kể: “Con trai mình sốt 40 độ, mình gửi tạm sang nhà bà ngoại để buổi chiều đi họp với phụ huynh có con vi phạm nội quy. Họp xong thì trời mưa như trút, quay về đón con thấy con nằm co ro trong chăn, sốt li bì. Mình khóc. Không biết vì thương con hay vì mệt.” Cô bảo: “Làm giáo viên chủ nhiệm, chẳng khác gì làm mẹ của 45 đứa con nhưng lại không có quyền quyết định điều gì cho trọn vẹn.” Một ngày của cô bắt đầu từ 6h sáng và kết thúc sau 11h đêm, với tin nhắn từ nhóm Zalo phụ huynh, học sinh, tổ chuyên môn, tổ công đoàn và cả nhóm “giáo viên chủ nhiệm khối 9”. Học sinh thì muôn mặt: đứa hiền lành nhưng u uất vì bố mẹ ly hôn, đứa nghịch ngợm vì thiếu tình thương, đứa học giỏi nhưng bị bắt nạt, đứa ngỗ ngược vì muốn gây sự chú ý. Cô chủ nhiệm là người phải hiểu hết, nhớ hết và chấp nhận hết mọi tính cách của học trò. Công việc không tên nhiều không kể xiết: soạn giáo án, giảng dạy, tham dự cuộc họp, tổ chức sinh hoạt chủ điểm, đưa học sinh đi khám sức khỏe, nhắn tin, gọi điện trao đổi với cha mẹ học sinh về những trường hợp mắc lỗi, vi phạm kỷ luật, giải quyết các công việc trên lớp, tổ chức cho học sinh tập văn nghệ, thể thao tham gia sự kiện, hưởng ứng phong trào thi đua của Nhà trường, rồi tổ chức ngày lễ, sơ kết học kỳ, tổng kết năm học, tham gia thi giáo viên dạy giỏi…Tất cả trong một đồng lương không đủ nuôi con mình. Ngày nay, cô giáo chủ nhiệm là tổng đài 24/7, là “người đại diện pháp luật” cho một tập thể trẻ vị thành niên, là người quản lý thông tin trên mọi nền tảng số: Google Meet, Zalo, VNEdu, Teams, Classroom, … Có học sinh trốn tiết, lên mạng nói xấu cô, quay clip lén, ghép video châm biếm. Một cô giáo ở miền Trung từng bật khóc trên lớp vì bị tung clip “bắt lỗi sai tiếng Anh” trong giờ và clip đó lan khắp các nhóm học sinh. Chưa rõ cô sai tới đâu nhưng hậu quả là cô phải viết bản kiểm điểm, phụ huynh yêu cầu đổi giáo viên và lớp học thì vỡ kỷ luật từ đó. Sự tổn thương không nằm ở lỗi sai mà nằm ở cách xã hội phản ứng với người làm nghề giáo. Khi người thầy bị “treo” lên mạng xã hội, thì cái sai của họ, nếu có, bị phóng đại và những năm tháng cống hiến của họ bị phủi sạch. Càng đau đớn hơn, khi không chỉ có lời nói tổn thương người giáo viên, mà còn có cả hành động bạo lực thể xác. Năm 2020, dư luận chấn động trước vụ việc phụ huynh có con học ở Trường Tiểu học – THCS Lộc Giang (Đức Hòa, Long An) xông vào lớp học, tát giáo viên chấn thương và ngất xỉu khi cô đang giảng dạy. Năm 2023, sự việc “cô giáo bị học sinh nhốt, xúc phạm, ném dép” xảy ra tại Trường THCS Văn Phú, huyện Sơn Dương. Cụ thể, khi cô P.T.H. dạy hết tiết 4 môn âm nhạc tại lớp 6A, một số em học sinh lớp 7C sang lớp 6A, dồn cô vào góc lớp, có phát ngôn và hành vi thiếu chuẩn mực đối với cô (nói tục, có hành vi xúc phạm giáo viên, quay video và đăng tải lên mạng xã hội). Mỗi sự việc là một vết dao đâm vào lòng tự trọng của những người làm nghề giáo. Càng yêu nghề bao nhiêu, càng thấy nghẹn ngào bấy nhiêu khi bị xúc phạm, bạo hành trong chính nơi lẽ ra phải là vùng an toàn – lớp học. Tôi từng nghe đồng nghiệp kể câu chuyện tại một trường THPT, có một giáo viên dạy Văn lớp 10, chủ nhiệm lớp chuyên. Hôm ấy, em học sinh bị phát hiện mang bài giải sẵn vào lớp kiểm tra. Cô giáo mời phụ huynh đến trao đổi. Nhưng thay vì hợp tác, người mẹ gay gắt: “Cô phải hỏi lại cách ra đề của mình đi. Nếu đề không quá khó, con tôi đâu phải gian lận? Cô dạy khó như thế thì học sinh làm sao học được.” Cô giáo ấy chỉ im lặng. Về nhà, cô viết thư tay cho học sinh, không trách móc, chỉ tâm sự. Em học sinh sau đó nộp lại bài kiểm tra, lần này viết bằng nước mắt và để lại dòng chữ nhỏ ở cuối: “Em xin lỗi. Em biết lỗi rồi cô ạ. Nhưng em sợ mẹ hơn sợ sai.” Câu chuyện khiến tôi day dứt nhiều ngày. Có những sai lầm không bắt nguồn từ học sinh, mà từ những bức tường vô hình do người lớn dựng lên. Và giáo viên chủ nhiệm, một lần nữa, lại là người chịu đựng thay. Những giáo viên tôi biết dẫu mệt, dẫu buồn vẫn không bỏ nghề. Họ bảo: “Mỗi lần muốn nghỉ, lại có một học sinh gửi tin nhắn: “Cô ơi em nhớ cô lắm”. Vậy là lại gượng dậy, lại soạn giáo án, lại đứng lớp. Một cô giáo ở vùng cao kể: “Học trò nhà nghèo, đi học phải băng qua suối. Có hôm mưa lũ, cả lớp chỉ có 3 đứa. Nhưng sáng nào cũng có học sinh gõ cửa nhà cô: ‘Cô ơi đi học với con nhé”. Vậy là không nỡ nghỉ.” Họ chữa lành mình bằng chính tình cảm chân thành của học sinh, bằng nụ cười của một đứa trẻ vừa học được điều tử tế, bằng lời cảm ơn trong ngày tổng kết năm học, bằng một bó hoa dại trong ngày 20 tháng 11 nhỏ thôi, nhưng đầy ắp yêu thương. Người thầy không phải siêu nhân. Người thầy là con người có mệt, có tổn thương, có đổ vỡ. Và họ xứng đáng được chữa lành, không chỉ bằng yêu thương của học sinh, mà bằng cả sự thấu hiểu của xã hội. Phụ huynh hãy đặt mình vào vị trí giáo viên. Hãy nhớ rằng: khi con bạn đến lớp, thầy cô chính là người thay bạn dạy chúng biết đúng sai, tử tế, yêu thương. Và thầy cô, dù rất giỏi, cũng không thể làm điều đó một mình. Nhà trường, chính sách giáo dục cũng cần thực chất hơn: không chất chồng hồ sơ hình thức, không đòi hỏi giáo viên phải có “mọi thứ đều phải hoàn hảo trong một con người”. Không ai có thể duy trì lòng nhiệt huyết trong một môi trường luôn lo sợ bị quay lén, bị đưa lên mạng xã hội, bị đánh giá chỉ qua điểm số và bình chọn. Tôi mơ một ngày, học sinh không chỉ viết “em yêu thầy cô” trong vở, mà còn biết kính trọng từ hành động. Phụ huynh không chỉ tặng hoa 20 tháng 11, mà còn sẵn sàng bảo vệ giáo viên khi họ làm đúng. Mạng xã hội không còn là nơi kết tội người thầy, mà là nơi lan tỏa sự thấu hiểu và biết ơn. Tôi mơ một ngày, người thầy không cần phải “tự chữa lành” nữa, vì quanh họ, có một xã hội sẵn lòng nâng đỡ. Cám ơn những người thầy vẫn đang đứng lớp, không vì danh tiếng, không vì tiền bạc, mà vì một niềm tin lặng lẽ: thế giới này sẽ tốt đẹp hơn, nếu hôm nay có thêm một đứa trẻ biết yêu thương, biết học hỏi, biết làm người. Tôi vẫn luôn mang trong mình một ước mơ nhỏ mà thật ra là rất lớn: ước mơ rằng, một ngày nào đó, người thầy cũng sẽ được đến trường với niềm vui nhẹ nhõm như học sinh. Tôi ước, thầy cô có thể bước chân vào lớp học với tâm thế hạnh phúc, không nặng trĩu lo toan, không sợ điều tiếng, không khép mình giữa những ranh giới vô hình của định kiến và đòi hỏi. Tôi ước, giáo viên sẽ không phải làm việc trong căng thẳng và lo sợ, mà sẽ được sống đúng với bản chất đẹp đẽ của nghề dạy học – một nghề gieo mầm hy vọng và yêu thương. Tôi ước, nhà trường không chỉ là nơi để “giữ trật tự và hoàn thành chương trình”, mà sẽ là một ngôi nhà đúng nghĩa – nơi thầy cô được chia sẻ, được thấu hiểu, được nâng đỡ bởi cả phụ huynh, học trò và xã hội. Tôi ước, ở tương lai không xa, sẽ có những trường học mà cả học sinh lẫn giáo viên đều mong đến mỗi sáng, không vì điểm số, không vì thành tích, mà vì ở đó, họ tìm thấy niềm vui, sự tử tế, và những điều làm họ lớn lên mỗi ngày. Bởi vì, người thầy cũng là một con người cần được yêu thương, cần được chăm sóc, cần được mơ ước và sống trong một môi trường tử tế như chính những gì họ đang cố gắng gieo vào học trò. Người thầy cũng cần được chữa lành. Không phải vì họ yếu đuối mà vì họ là con người – những con người biết yêu thương, biết hy sinh, nhưng cũng biết mỏi mệt và tổn thương. Họ đứng trên bục giảng bằng cả trái tim, nhưng trái tim ấy không phải là sắt thép. Họ cũng có lúc bật khóc trong đêm, có lúc rơi vào trống rỗng, có lúc tự hỏi: “Mình còn đủ sức để tiếp tục không?” Và không ai có thể gieo yêu thương mãi mãi từ một tâm hồn đã cạn kiệt. Khi người thầy bị dồn ép bởi áp lực thành tích, bởi những đòi hỏi khắt khe từ phụ huynh, học sinh và xã hội, khi họ không còn không gian để thở, để nghỉ ngơi, để được là chính mình, thì yêu thương cũng hóa thành vết thương. Và nếu không được chữa lành, vết thương ấy sẽ gặm nhấm dần niềm tin vào nghề. Họ cũng có những lúc muốn buông bỏ, khi nước mắt rơi lặng lẽ trong lớp học trống, khi bị học sinh xúc phạm, khi bị phụ huynh chỉ trích, khi bị xã hội quay lưng vì một đoạn clip cắt ghép thiếu thiện chí. Người thầy đôi khi chỉ cần một lời động viên, một ánh mắt tin tưởng, một cái gật đầu đồng thuận để họ biết rằng, họ không đơn độc. Rằng sự tận tâm của họ vẫn được nhìn thấy, dù đôi khi là trong thầm lặng. Chúng ta kỳ vọng người thầy sẽ luôn mẫu mực, điềm tĩnh, sáng suốt và bao dung. Nhưng người thầy cũng có lúc mỏi mệt, cũng có khi nổi giận, sai sót. Và chính trong những khoảnh khắc dễ tổn thương ấy, người thầy cần một vòng tay nhân ái của cả cộng đồng để chữa lành chứ không phải những lời phán xét lạnh lùng. Chúng ta cần một xã hội biết thấu cảm cho người thầy, biết đứng về phía họ khi họ làm đúng, biết tạo ra môi trường để họ được phát triển, được sống đúng với thiên chức của mình. Một nền giáo dục chỉ có thể vững bền khi người thầy được bảo vệ, được trân trọng và được chữa lành. Vì nếu không còn ai đủ sức gieo mầm tử tế, thì làm sao chúng ta có thể mong một thế hệ trưởng thành tử tế? Giáo viên không cần được tung hô. Họ chỉ cần được thấu hiểu, được hỗ trợ, được bảo vệ khi bị xúc phạm vô cớ, được sống đúng với danh xưng “người gieo hạt” mà xã hội vẫn ngợi ca. Khi người thầy được chữa lành, họ sẽ tiếp tục lan tỏa những điều tốt đẹp. Bởi không ai có thể gieo mầm yêu thương nếu chính trái tim mình đã nứt vỡ. Người thầy chỉ cần được nhìn nhận như những con người – những con người đang gồng mình dựng xây nhân cách cho thế hệ tương lai và xứng đáng được yêu thương, chăm sóc, sẻ chia. Bởi chỉ khi người thầy còn lành lặn trong tâm hồn, mới có thể tiếp tục truyền đi ánh sáng của tri thức và tình yêu thương cho con trẻ. Hà Nội, ngày 13 tháng 7 năm 2025 TS. Vũ Thị Minh Huyền #Vietchualanh #Ducodauvanchonnghegiaomottinhyeukhonghoitiec

  • TTS feed content

    TÁC PHẨM DỰ THI CUỘC THI “VIẾT CHỮA LÀNH” DO BOOKAS TỔ CHỨC “CÓ NHỮNG VẾT THƯƠNG KHÔNG CHẢY MÁU VÀ NHỮNG TRÁI TIM VẪN CÒN CHIẾN ĐẤU” (Tác phẩm thứ 4 của tác giả) Tháng Bảy, trời thường hay mưa. Những cơn mưa bất chợt, ào ào rồi tạnh lặng, cứ như có ai đó trên cao đang khóc vội. Mưa tháng Bảy không lạnh, mà cứ lành lạnh. Nó làm dịu lòng người, nhưng cũng khiến lòng người lặng đi. Và có lẽ vì thế mà tháng Bảy luôn gợi nhớ đến những người lính. Tôi sinh ra khi đất nước đã yên bình. Nhưng tôi lớn lên trong những câu chuyện chưa từng có cái kết thật sự – những câu chuyện về người lính. Họ là những người đã đánh đổi thanh xuân, máu thịt, giấc mơ và cả tình yêu, để đổi lấy điều tưởng như rất bình thường: sự bình yên mà hôm nay tôi đang sống. Nhưng điều tôi không ngờ, là trong sự yên bình đó lại có rất nhiều vết thương vẫn chưa lành. Có những vết thương nằm sâu trong tim người lính, không hiện ra bằng hình hài, nhưng cứ dai dẳng nhói lên mỗi khi tiếng mưa đêm rơi, mỗi lần thấy chiếc mũ tai bèo trong bảo tàng, hay mỗi ngày 27 tháng 7 về. Tôi viết bài này không phải để kể lại chiến công, cũng không để ca tụng hào quang. Tôi chỉ muốn lắng nghe và kể lại những gì sâu hơn thế: một hành trình lặng thầm, kiên cườngvà đầy yêu thương của chữa lành. Tôi từng có cơ hội gặp ông Năm – một người lính năm xưa. Ông sống trong một căn nhà nhỏ ở ngoại ô thành phố, bên cạnh khu rừng trồng Bạch đàn do chính tay ông chăm sóc. Người ta bảo ông lặng lẽ như cái cây, ít nói, trầm tư và có gì đó xa vắng. Nhưng tôi lại thấy nơi ông một điều khác – một nỗi buồn được gấp gọn, cất kỹ, nhưng chưa bao giờ biến mất. “Cháu biết không,” ông nói, mắt nhìn xa xăm về phía chân trời tím nhạt, “ở chiến trường, người ta quen với cái chết. Nhưng người ta không quen với việc sống sót. Mỗi lần đồng đội ngã xuống, mình sống tiếp, mình thấy mình mắc nợ… mà không biết trả sao cho đủ.” Ông kể, năm đó ông 25 tuổi, là lính trinh sát. Một trận đánh ác liệt ở biên giới đã khiến ông bị thương nặng. Mất một chân. Đồng đội của ông – 30 người chỉ còn lại hai người. Ông sống, nhưng lòng thì chết lặng từ ngày ấy. Ông về quê, đi làm hợp tác xã, rồi cưới vợ, sinh con. Mọi người nhìn ông như một anh hùng. Nhưng ông nói: “Anh hùng gì cháu ơi. Có ai hiểu những đêm mình không ngủ, vì cứ mơ thấy máu và tiếng gào thét của đồng đội?” Ông là một trong hàng triệu người lính Việt Nam – những người không chết vì chiến tranh, nhưng đã mang chiến tranh về trong tâm hồn mình. Những vết thương không chảy máu. Những nỗi đau không biết tỏ cùng ai. Chữa lành với người lính như ông Năm không bắt đầu bằng thuốc men, bệnh viện hay viện trợ. Nó bắt đầu từ một điều tưởng như nhỏ nhất: một cái ôm từ người vợ trẻ đêm ông trở về. Một cái chạm tay đầy nước mắt từ mẹ già run rẩy. Một câu hỏi vụng về từ đứa con đầu lòng: “Ba ơi, sao chân ba không giống chân người ta?” Rồi thời gian trôi. Người vợ ấy là người đầu tiên chữa lành cho ông. Bà không nói nhiều, nhưng luôn kiên nhẫn. Có lần, thấy ông thức trắng đêm, bà chỉ ngồi cạnh, đặt tay lên vai ông, không một lời. Có lần, ông bật khóc giữa bữa cơm vì nghe đài phát bài hát cũ, bà không hỏi han, chỉ gắp cho ông miếng thịt, gật đầu nhẹ như nói: “Cứ khóc đi, ông à.” Chữa lành đến từ những điều rất người, rất đơn giản. Là cái nắm tay. Là cái nhìn thấu hiểu. Là tiếng gọi “ông ơi!” của một đứa cháu nhỏ khiến ông bật cười sau bao năm chỉ biết cau có. Là một buổi chiều cầm cuốn sổ, ông viết những dòng thơ ngắn về đồng đội và thấy tim mình nhẹ đi đôi chút. Có những ngày, ông ra bờ rào, tưới cây, ngắm mấy chậu hoa giấy đứa cháu gái mới trồng. Và ông thở ra nhẹ nhàng. “Sống tiếp không phải để quên họ… mà để giữ họ bên mình bằng những điều đẹp đẽ nhất.” Một lần, trường học gần nhà tổ chức hoạt động “Em kể chuyện chiến tranh” – giáo viên chủ nhiệm dẫn học sinh đến nhà ông Năm để nghe kể chuyện. Lúc đầu, ông từ chối. “Có gì hay đâu mà kể.” Nhưng cô giáo năn nỉ mãi. Cuối cùng, ông đồng ý, trong tiếng cười rúc rích của mấy đứa học sinh cấp hai. Và hôm đó, lần đầu tiên sau 40 năm, ông kể lại cả trận đánh cuối cùng, kể từng tên đồng đội, từng con suối, từng ngọn đồi, từng tiếng súng, tiếng bom… mà không rơi nước mắt. Khi lũ trẻ òa lên: “Ông ơi, ông thật là dũng cảm!”, ông chỉ cười: “Dũng cảm là tụi nó – những đứa không về.” Nhưng hôm đó, khi bọn trẻ ra về, ông đi chậm rãi vào nhà, mở tủ, lấy cuốn sổ cũ, bắt đầu viết. Những dòng hồi ký đầu tiên. Người ta nói: đôi khi, chỉ cần một người chịu lắng nghe là đủ để một người khác bắt đầu hành trình chữa lành. Với ông, lũ trẻ, dù vô tình, đã trở thành người giúp ông mở khoá trái tim. Và kể từ đó, mỗi năm ông đều kể. Mỗi năm, ông lại viết. Những trang viết nối nhau như những con đường đưa ông rời xa dần bóng tối chiến tranh. Thực ra, trước đó, ông Năm sống khá khép kín. Mặc dù hàng xóm đều quý mến, nhưng ông ít giao tiếp, ít mở lòng. Có những đêm, ông giật mình thức dậy giữa cơn ác mộng, mồ hôi túa ra như vừa bước ra từ chiến trường. Vợ ông kể: “Ông ấy ngủ không tròn giấc đã mấy chục năm. Cứ đến ngày rằm hay giao thừa là hay mơ thấy đồng đội cũ.” Có những lúc, ông thẫn thờ nhìn bầu trời chiều, như thấy lại những khu rừng lửa đạn năm xưa. Những ký ức chiến tranh không buông tha ông. Chúng ám ảnh trong từng giấc ngủ, từng hơi thở. Ông từng sợ âm thanh pháo hoa, từng không thể chịu nổi tiếng còi xe cứu thương hay tiếng sấm sét đột ngột. Mỗi lần như vậy, ông lại co người, mắt đỏ hoe, tay run run, rồi lặng lẽ rút vào trong phòng, không nói một lời. Chỉ đến khi có học sinh tìm đến, có hàng xóm ghé qua, có những cán bộ phường, đoàn thể tới thăm, mời ông chia sẻ, viết bài, kể chuyện thì ông mới dần mở lòng. Càng nói ra, ông càng nhẹ nhõm. Càng được lắng nghe, ông càng cảm thấy được đồng hành. “Tôi từng trốn tránh quá khứ vì sợ nó nhấn chìm mình. Nhưng giờ tôi đối diện với nó, kể lại nó, và nhận ra: quá khứ là một phần của mình không phải để quên, mà để nhớ cho tử tế.” Chính quyền địa phương cũng rất quan tâm đến ông. Cán bộ phường thường xuyên đến thăm, hỗ trợ ông sửa lại mái hiên, thay bóng đèn hỏng, làm lại sổ hộ khẩu điện tử, tặng ông túi quà vào dịp Tết. Hội Phụ nữ phường kết nối để các cháu nhỏ đến thăm ông dịp Trung thu, tổ chức văn nghệ và tặng quà. Đoàn thanh niên đến dọn dẹp sân vườn, lắng nghe ông kể chuyện chiến trường và sau đó viết thành bài đăng trên fanpage của phường. Ông cảm động nhất là lần được mời tham gia buổi giao lưu “Người lính kể chuyện” tổ chức tại hội trường Ủy ban phường. Ông ngồi trên sân khấu, dưới ánh đèn ấm áp, kể về trận đánh cuối cùng trong đời binh nghiệp. Cả hội trường lặng đi. Có tiếng sụt sùi. Và sau đó là một tràng pháo tay dài đến nghẹn ngào. Tối về, ông nói với vợ: “Lần đầu tiên tôi thấy quá khứ của mình được đón nhận bằng tất cả tình người như vậy.” Có một nhóm học sinh sau buổi kể chuyện hôm ấy đã quay lại nhà ông Năm. Các em mang theo máy ghi âm, một bó hoa nhỏ và cả một cuốn sổ tay để chép lại lời ông. “Bọn con muốn viết lại chuyện của ông để gửi báo ạ.” Ông bật cười, đôi mắt ánh lên một niềm vui không giấu nổi. Từ đó, mỗi cuối tuần, căn nhà nhỏ của ông có thêm tiếng cười. Các em học sinh đến phụ tưới cây, dọn dẹp, rồi cùng ông đọc lại nhật ký chiến tranh. Có em rủ ông đi bộ quanh xóm, kể chuyện ở trường học để ông đỡ buồn. Một bạn lớp 9 còn vẽ ông trong bộ quân phục, bức tranh được treo trang trọng trong phòng khách nhà ông. Tình yêu thương, sự lắng nghe và đồng hành của thế hệ trẻ đã giúp ông Năm thực sự hồi sinh. Ông bắt đầu tích cực tham gia sinh hoạt ở Hội Cựu chiến binh ở địa phương, làm cộng tác viên viết bài cho báo về chủ đề người lính và còn được mời phát biểu tại Lễ kỷ niệm 27 tháng 7 ở phường. Dù đi xe lăn, ông vẫn đội mũ tai bèo, ánh mắt rạng rỡ. Từ ngày nhà ông thường xuyên có tiếng cười con trẻ, bà con hàng xóm cũng ghé lại nhiều hơn. Cô Hòa bán rau đầu ngõ hay biếu ông vài bó hành, mớ rau thơm. Bác Dũng ở tổ dân phố thi thoảng lại sang uống trà, đánh cờ, kể chuyện ngày xưa. Cô Lan – cô giáo hưu trí gần nhà – mang tặng ông những cuốn sách văn học chiến tranh cũ. Ông đọc chậm rãi từng trang, có lúc rơm rớm nước mắt, rồi lại lặng lẽ ghi chép vào sổ tay. “Bây giờ tôi không còn viết cho riêng mình nữa, mà viết để kể lại cho lớp trẻ,” ông nói. Người vợ hiền của ông – bà Lương – vẫn là ngọn đèn dịu dàng trong căn nhà ấy. Bà bây giờ đã yếu, hay ngồi ghế tựa cạnh cửa sổ, đan len và nhìn chồng với ánh mắt ấm áp như ngày nào. Mỗi sáng, ông dậy sớm, tự chuẩn bị bữa sáng, rồi đẩy xe lăn sang phòng bà, hỏi: “Mình ăn gì hôm nay?” Rồi hai người cùng uống trà, kể cho nhau nghe từng chuyện vụn vặt. “Bà là người đã giữ tôi ở lại với cuộc sống này,” ông bảo. Cuộc sống hiện tại của ông Năm đã bình yên hơn rất nhiều. Không còn ác mộng mỗi đêm. Không còn nỗi hoảng sợ âm thầm mỗi khi nghe tiếng pháo giao thừa. Thay vào đó là thói quen dậy sớm, viết nhật ký, tưới cây, trả lời thư từ của các học sinh – những em nhỏ từng nghe ông kể chuyện và viết thư cảm ơn. Ông bảo: “Tôi sống khỏe mạnh mỗi ngày là để không phụ lòng tụi nhỏ.” Hội Cựu chiến binh phường năm nay đã đề cử ông là tấm gương điển hình. Ông từ chối lên truyền hình, chỉ nhận lời viết một bài ngắn cho báo địa phương với lời nhắn nhủ: “Hãy luôn tin vào tình người. Vì chính tình người đã cứu tôi khỏi vực sâu của bóng tối chiến tranh.” Ngày 27 tháng 7 hàng năm, ông Năm mặc bộ quân phục cũ. Chiếc áo đã bạc màu, nhưng vẫn gọn gàng, sạch sẽ. Ông tự đi xe lăn ra nghĩa trang liệt sĩ, nơi có những ngôi mộ không tên – đồng đội ông nằm đó. Ông ngồi thật lâu, đọc từng bài thơ ông viết cho họ. Không có tiếng kèn truy điệu. Không có khẩu hiệu. Chỉ có ông và một tấm lòng không đổi. Nếu có một điều ước dành cho tháng Bảy, tôi sẽ không ước quay ngược thời gian, cũng chẳng xin xóa hết những mất mát đau thương. Tôi chỉ xin một điều giản dị mà lớn lao: ước cho tất cả những người lính trở về sau chiến tranh, dù mang trên mình thương tật, dù lặng lẽ với những vết đau không tên, đều được chữa lành. Ước cho họ được sống trong vòng tay ấm áp của gia đình, trong sự sẻ chia từ bạn bè và trong lòng biết ơn của xã hội. Để không ai phải tiếp tục chiến đấu âm thầm với ký ức. Không ai phải mang nỗi đau đi qua cả một đời mà chẳng ai hay biết. Người ta thường nghĩ 27 tháng 7 là ngày buồn. Nhưng với ông, đó là ngày của hy vọng. “Mỗi năm còn sống, là mỗi năm được thắp hương cho tụi nó, là còn cơ hội để kể lại cho bọn trẻ nghe: sống tử tế là biết ơn.” Ngày 27 tháng 7 năm nay, ông sẽ tiếp tục đến nghĩa trang như mọi năm, mang theo cuốn hồi ký, bó hương và lòng thành. Nhưng lần này, sẽ có thêm vài học sinh, vài người bạn già đi cùng. “Tụi nó bảo năm nay không để ông đi một mình.” Người lính không phải ai cũng cần sự thương hại. Họ cần sự thấu hiểu. Sự tôn trọng. Sự tiếp nối. Chữa lành cho họ không chỉ là dựng tượng đài, làm phim tài liệu, hay đặt tên đường. Mà là trong đời sống thường ngày, ta học cách sống tử tế hơn như cách họ từng chiến đấu để ta được sống. Và khi ta yêu thương nhau hơn, khi ta biết ơn sâu hơn, thì chính ta cũng đang được chữa lành. Tôi viết bài này trong những ngày tháng Bảy mưa nhiều – những cơn mưa gợi nhớ và gợi thương. Gặp ông Năm, được lắng nghe, được chứng kiến hành trình ông bước qua bóng tối để đến vùng sáng, tôi như học lại bài học đầu tiên về lòng biết ơn và sức mạnh của tình người. Người lính không chỉ chiến đấu với bom đạn, mà còn phải chiến đấu để giữ lấy trái tim mình sau cuộc chiến. Và điều kỳ diệu là: trái tim ấy, nếu được sưởi ấm bằng yêu thương, vẫn có thể đập nhịp dịu dàng, bình yên. Tôi biết mình không thể thay đổi được những mất mát ông đã trải qua. Nhưng tôi có thể kể lại câu chuyện của ông như một cách nói lời tri ân. Xin được cúi đầu trước tất cả những người lính, đã, đang và sẽ mãi là những người giữ gìn bình yên cho chúng ta. Cảm ơn ông, ông Năm – người đã dạy tôi rằng: chữa lành không phải là quên đi, mà là yêu thương hơn, từ trong sâu thẳm. Xin biết ơn những người lính. Xin biết ơn những người đã và đang khoác lên mình màu áo Tổ quốc. Và xin cầu chúc cho mọi hành trình chữa lành, dù muộn, cũng sẽ về đến nơi bình yên. Hà Nội, ngày 12 tháng 7 năm 2025 TS. Vũ Thị Minh Huyền #Vietchualanh #Conhungvetthuongkhongchaymauvanhungtraitimvanconchiendau

  • TTS feed content

    GIỮA HAI MÙA HOA Tác phẩm dự thi “Viết chữa lành” Mở đầu – Hoa trong tim Tôi từng nghĩ mình quá mong manh để chở che một sinh linh nhỏ bé, khi ngoài kia cả thế giới dường như đồng loạt khép cửa. Nhưng rồi, giữa những tháng ngày tăm tối nhất, một ánh sáng le lói vẫn thắp lên – từ đôi mắt trong veo như giọt sương mai và tiếng cười tinh khôi của bé con. Nhưng ánh sáng ấy chưa đủ để xua tan mùa đông lạnh giá đang bủa vây. Mùa đông kéo đến không chỉ bên ngoài cửa sổ, mà còn len sâu vào trong tim. Phần I – Đông Tàn Có những mùa đông trôi qua lặng lẽ. Mọi thứ trong đời tôi dường như mất hết màu sắc, chỉ còn xám xịt và u uất. Tôi từng nghĩ mình sinh ra để hứng chịu bão tố, để làm nền cho người khác bước qua, để mãi mãi không biết đến yêu thương trọn vẹn. Ngày được đưa vào phòng mổ, ánh đèn trắng lóa trên trần làm tôi hoa mắt. Cơn đau ruột thừa quặn lên từng cơn, nhưng tim tôi còn nhói hơn khi bác sĩ buông một lời lạnh tanh, không chút xúc cảm: “Cô có thai. Muốn giữ lại hay xử lý?” Câu hỏi đó rơi xuống như lưỡi dao sắc ngọt, trần trụi và tàn nhẫn. Tôi mười tám tuổi. Dại khờ đến mức còn chưa biết cách chăm sóc bản thân, huống hồ nuôi một đứa bé. Tôi còn quá trẻ để làm mẹ, còn quá yếu đuối để gánh cả thế giới. Nhưng khi nhìn tờ giấy siêu âm với nhịp tim nhỏ xíu đang hiện lên, tôi nghe rõ một tiếng nói vang lên trong lòng: Hãy giữ con lại. “Cháu sẽ giữ con” tôi đáp. Không chút ngập ngừng. Tin tôi mang thai như một cơn bão quét qua căn nhà nhỏ. Mẹ biết chuyện, bà nhìn tôi, ánh mắt đẫm nước pha lẫn thất vọng và nỗi đau khó diễn tả. Vừa đau vừa giận, bà trút lên tôi những lời cay nghiệt nhất bà có thể nghĩ ra. Từng câu, từng chữ như những nhát roi quất vào da thịt, để lại những vết đau âm ỉ mãi trong tâm hồn. Ba không mắng, nhưng ông già đi thấy rõ. Ông ngồi hàng giờ trên hiên, ánh mắt lạc lõng, mái tóc bạc thêm chỉ trong vài tuần. Đêm đến, tiếng mẹ nức nở hòa với tiếng thở dài nặng nhọc của ba, phủ lên căn nhà một nỗi buồn lặng câm, chồng chất giữa day dứt và bất lực. Gia đình bên cha đứa bé đến. Họ mặc đồ chỉn chu, nhưng ánh nhìn lạnh lẽo. Họ bước vào nhà như để giải quyết một gánh nặng, không phải đón nhận một sinh linh. Không ai hỏi tôi có ổn không, cũng không ai nhắc đến đứa trẻ. Tôi vẫn nhìn về phía cửa, hy vọng một lần, chỉ một lần thôi, anh ta sẽ bước vào. Tôi tưởng tượng cảnh anh ta đứng đó, dứt khoát nói rằng sẽ cùng tôi chịu trách nhiệm. Nhưng cánh cửa vẫn im lìm. Anh ta không đến. Sự vắng mặt ấy nặng hơn bất kỳ lời nói nào. Nó lấp đầy căn phòng bằng một khoảng không mơ hồ, đến mức tôi nghe rõ tiếng tim mình đập, lạc lõng và trống rỗng. Họ cất giọng thản nhiên, pha chút mỉa mai: “Ai biết đó có phải con cháu nhà tôi không?” “Nếu cô muốn giữ thì tự lo. Đừng kéo chúng tôi vào.” “Nếu cô dám bế nó đến, thì đừng trách bị đưa thẳng vào cô nhi viện.” Tôi đứng đó, tay ôm bụng, thấy lạnh buốt từ ngoài vào tận tim. Mỗi lời họ nói như nhấn thêm một nhát vào niềm tin vốn đã rạn nứt. Tôi cố gắng đứng vững, không rơi nước mắt trước mặt họ. Nhưng khi họ nói đến chuyện bỏ con, mọi xúc cảm trong tôi vỡ vụn. Không phải là nước mắt, mà là sự tỉnh táo đến đau đớn. Ngay khoảnh khắc này, tôi biết mình phải buông bỏ, buông bỏ người đàn ông không đủ dũng khí đến bên tôi, buông bỏ một gia đình đã lạnh lùng chối bỏ chính máu thịt của họ. Chỉ giữ lại điều duy nhất tôi có, là con. Tôi siết chặt bàn tay, thầm hứa với chính mình: Dù cả thế giới có quay lưng, tôi vẫn sẽ giữ con lại. Bên ngoài, hàng cây khô trụi lá lay động trong gió. Đông đã tàn, nhưng cái lạnh vẫn còn đó. Tôi cũng không biết ngày mai sẽ ra sao. Nhưng giữa những vô định, tôi bỗng cảm nhận rõ, bên trong tôi, một mầm sống nhỏ bé đang âm thầm lớn lên. Tim tôi đập nhanh hơn, một cảm xúc lạ lẫm lan khắp người, vừa xao động, vừa ấm áp đến lạ kỳ. Phần II – Xuân Chớm Mùa đông rồi cũng qua, nhưng cái lạnh dường như vẫn chưa rời hẳn. Tôi ôm con vào lòng, bé nhỏ và yếu ớt như một chồi non đang run rẩy giữa những cơn gió đầu xuân. Chỉ mới mười ngày tuổi, con đã dị ứng sữa công thức. Đôi mắt nhỏ sưng húp, da mẩn đỏ từng đốm li ti. Tôi sợ hãi đến mức tay chân bủn rủn khi bế con chạy hết bệnh viện huyện này đến bệnh viện tỉnh khác. Những đêm dài, tôi ngồi co ro trên ghế nhựa lạnh toát nơi hành lang, tôi chỉ cầu mong con đừng bỏ tôi lại. Tiếng máy móc “tít tít” liên hồi, tiếng khóc yếu ớt của con vọng lại, khiến lòng tôi chông chênh giữa một mùa dài lê thê. Có những đêm dài, khi con ngủ vùi trên tay, tôi cầm điện thoại lướt mạng xã hội. Bạn bè cùng trang lứa người rạng rỡ trong lễ tốt nghiệp, người khoe công việc mới, người vi vu khắp nơi với thanh xuân phơi phới. Tôi lại nhớ về ước mơ của mình ngày trước, từng ao ước mình trở thành hướng dẫn viên du lịch, được đi nhiều nơi, khám phá những vùng đất mới, sống một cuộc đời rực rỡ. Nhưng hiện thực của tôi giờ đây chỉ là những ngày lặp đi lặp lại: đi làm thuê, về nhà tất bật với tã sữa và những đêm thức trắng ru con. Một nỗi tủi thân, nhục nhã dâng lên nghẹn ngào. Tôi thấy mình bị bỏ lại phía sau, lạc lõng giữa thế giới đang rực rỡ ngoài kia. Ba mẹ vẫn chưa nói gì với tôi từ khi con chào đời. Nhưng dường như cơn giận dữ đã nguôi ngoai dần. Mẹ lặng lẽ đặt thêm chăn lên vai tôi lúc tôi ngủ gục bên nôi. Ba để sẵn ly sữa nóng trên bàn bếp, không cất một lời. Thời gian trôi đi. Những tưởng sau giông bão, mọi thứ sẽ bình yên hơn. Nhưng khi tròn ba tuổi, con vẫn chưa biết nói. Tôi bắt đầu lo lắng. Đêm nào cũng thao thức, sợ những tháng ngày mang thai đầy căng thẳng đã để lại vết sẹo trong con. Tôi tìm đọc đủ loại bài viết về trẻ chậm nói, đôi khi hoảng loạn đến mức không dám nhìn vào đôi mắt to tròn ngây thơ kia. Mỗi ngày, tôi vẫn kiên trì nói chuyện, hát ru, đọc sách cho con nghe. Dù con chỉ nhìn tôi, không đáp lời. Rồi một buổi chiều mùa xuân, khi tôi đang xếp lại đồ chơi, con bất ngờ kéo tay tôi, đôi môi run run thốt ra hai tiếng yếu ớt:“Mẹ… ơi.” Tôi chết lặng. Hai tiếng ấy như tia nắng xuyên qua bầu trời xám xịt. Tôi ôm con vào lòng, nước mắt rơi không kìm được . Trong giây phút ấy, mọi nỗ lực bé nhỏ của con dường như đã được đền đáp. Từ hôm đó, con bắt đầu cất tiếng nhiều hơn. Ban đầu còn ngọng nghịu, chậm rãi, nhưng rồi dần rõ ràng hơn. Mỗi tối, tôi dành thời gian trò chuyện và chơi đùa với con. Chỉ vài tháng sau, bé con đã có thể nhận biết chữ cái, đọc vanh vách bảng cửu chương, đam mê những con số và câu đố logic. Người ta nhìn con ngạc nhiên: “Thông minh quá!” Tôi mỉm cười, siết chặt bàn tay con. Trong ánh mắt sáng ngời ấy là cả một hành trình mà mẹ con tôi đã đi qua, đầy nước mắt nhưng cũng khắc sâu dấu chân của lòng kiên cường. Một buổi tối, khi hai mẹ con đang tô màu trong phòng khách, con bất chợt hỏi bằng giọng non nớt: “Mẹ ơi… ba con đâu rồi?” Tôi khựng lại. Câu hỏi ấy không oán trách, chỉ là một thắc mắc rất đỗi hồn nhiên, vậy mà lại khiến lòng tôi đau nhói. Tôi vuốt tóc con, kéo con vào lòng ôm thật chặt. Tôi im lặng. Một giọt nước mắt lăn xuống má. Không phải vì đau đớn, mà vì tôi nhận ra mình vẫn chưa sẵn sàng nói về điều này. Có lẽ đến lúc nào đó, tôi sẽ đủ can đảm để kể cho con nghe. Mùa xuân năm ấy, bão vẫn chưa tan, nhưng giữa những đêm mưa lạnh, tôi đã nghe thấy tiếng chim hót yếu ớt báo hiệu bình minh. Phần III – Giữa ánh Lửa Đỏ Mùa Hạ Xuân qua đi, mầm non dần cứng cáp, còn tôi lại bước tiếp vào một mùa khác – mùa của thử thách, của những ảo ảnh rực rỡ mang tên tình yêu. Mùa hạ đến, nắng gắt phủ khắp con đường. Giữa những ngày oi ả như thiêu , tôi dạy con những bước đi đầu tiên. Con chập chững, đôi chân bé xíu run run, gương mặt rạng rỡ khi nắm được tay mẹ. Mỗi lần con ngã, tôi lại kiên nhẫn đỡ dậy, dịu dàng chỉ dạy con. Con bé vẫn luôn là cả thế giới của tôi. Đôi mắt trong veo, tiếng cười hồn nhiên như mưa đầu hạ. Tôi cố gắng từng ngày, chỉ mong hai mẹ con có một cuộc sống yên bình hơn. Chúng tôi sống giản dị. Tôi đi làm thuê, tối về ôm con ngủ. Dần dần, tôi cũng quen với cuộc sống của một người mẹ đơn thân. Vừa làm mẹ, vừa làm cha, vừa làm, Không ai đỡ mình khi mỏi, nhưng tôi học cách tự đứng vững. Dù vất vả, tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn. Rồi anh ta xuất hiện, vào một buổi chiều nắng cháy. Anh ta là quản lý của tôi, một người đàn ông thành đạt, ăn nói khéo và luôn tỏ ra quan tâm đến mẹ con tôi. Tôi biết anh ta không phải bến đỗ, cũng chẳng phải chỗ để dựa. Nhưng những lời ngọt ngào và quan tâm vụn vặt đủ làm tôi lầm tưởng mình có thể nương nhờ. Tôi đã nghĩ mình mạnh mẽ hơn sau từng ấy chuyện, nhưng hóa ra, trái tim từng rạn nứt lại dễ mềm trước một chút ấm áp. Tôi tin tưởng đến mức đưa anh ta toàn bộ số tiền mình chắt chiu mấy năm trời. Tin tưởng đến mức tự nhủ việc ở bên tôi đã là một sự thiệt thòi cho anh ta. Cho đến một ngày, tôi thấy tin nhắn yêu thương của anh ta gửi cho người con gái khác, ngọt ngào, dịu dàng, nhưng không phải dành cho tôi. Tim tôi đau thắt. Tôi không khóc, không la hét. Chỉ thấy trong lòng trống rỗng, nặng như cái nóng ngày hè đè chặt lên ngực. Tôi bước đi. Gió trưa hầm hập, cơn mưa hạ lất phất rơi trên vai. Tôi không phân biệt nổi đâu là mưa, đâu là nước mắt. Tóc tôi ướt đẫm, từng lọn dài rũ xuống. Tôi cầm kéo, cắt phăng đi, từng nhát, từng nhát, như cắt bỏ những tháng ngày ngu ngốc, những hy vọng bị phản bội. Tôi nhìn con, rồi nhìn ba mẹ, cổ họng nghẹn đắng. Một nỗi hối lỗi âm ỉ dâng lên, vì tôi đã từng để họ hy vọng vào một người không xứng đáng, để rồi tất cả cùng thất vọng. Tôi cúi đầu, để mặc đôi mắt nhòe đi trong im lặng. Tôi biết mình không thể ở lại đây, không thể để sự yếu đuối của mình làm ảnh hưởng đến gia đình mình. Tôi đành để bé con ở lại với ông bà, chấp nhận chuyển công tác đến một nơi xa. Mùa hạ năm ấy, nắng không còn rực rỡ. Nó thiêu cháy mọi niềm tin mong manh, chỉ để lại trong tôi vết tro tàn lặng lẽ, chẳng thể xóa nhòa. Phần III – Thu Về Bên Khung Cửa Tôi đã rụi tàn trong mùa hạ ấy, rực lên rồi vụn vỡ. Mất nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, tôi mới học cách nhặt nhạnh từng mảnh vỡ của mình, tự vá lại chúng bằng thời gian. Tôi học cách tha thứ, không phải cho những người từng làm tôi đau, mà cho chính bản thân mình những ngày dại dột. Tôi và bé con chuyển đến một thị trấn nhỏ, nơi thu về sớm hơn. Ở đó, gió thoảng nhẹ, mang theo mùi lá vàng và chút nắng dịu. Bé con đã lớn, đôi chân nhỏ thoăn thoắt chạy khắp sân, mái tóc mềm khẽ bay theo gió. Thỉnh thoảng con quay lại nhìn tôi, đôi mắt lấp lánh như chứa cả bầu trời. Con bé hiếu động và tinh nghịch, nhưng cũng rất ngoan và hiểu chuyện. Con hay lăng xăng giúp mẹ, vẽ tặng những bức tranh nguệch ngoạc, gấp những con hạc giấy nhỏ xíu rồi trịnh trọng trao cho tôi. Mỗi món quà con bé tặng, dù vụng về bé nhỏ nhưng đắp thêm từng chút lên tâm hồn tôi, khiến những vết xước cũ thôi nhức nhối. Tôi tìm lại chính mình giữa tiếng cười con trẻ và những ngày bình yên. Tôi quay lại giảng đường, vẫn tất bật với công việc nhưng đã bắt đầu học cách tự yêu thương bản thân. Không còn tủi thân khi nhìn bạn bè cùng lứa đã tiến xa, đã thành đạt, rạng rỡ trong thanh xuân của họ. Tôi nhận ra, thanh xuân của mình vẫn còn đó, nó chỉ mang một hình hài khác. Mỗi người có một con đường riêng, và con đường của tôi dù quanh co, chậm rãi, vẫn có thể đưa tôi đến nơi mình cần đến. Tôi đi chậm hơn, nhưng tôi vẫn đang bước tiếp, và mỗi bước đi đều có đôi bàn tay bé xíu ấy nắm lấy, tiếp thêm cho tôi sức mạnh. Ước mơ năm xưa của tôi từng là được đi khắp nơi, khám phá thế giới rộng lớn ngoài kia. Giờ đây, ước mơ ấy đã đổi thay, nhỏ bé hơn, giản dị hơn, nhưng chưa bao giờ tắt. Hai mẹ con bắt đầu những chuyến đi nho nhỏ, khi thì dạo công viên gần nhà, khi thì rong ruổi trên chuyến xe về vùng biển xa. Chúng tôi không có một cuộc sống hoàn hảo, nhưng mỗi ngày đều đầy ắp tiếng cười, những cái ôm và đôi khi cả những giọt nước mắt hạnh phúc. Tôi hiểu, mình vẫn đang sống một thanh xuân rực rỡ, một thanh xuân đủ đầy yêu thương. Và rồi, khi bình yên dần trở lại, tôi mới nhận ra: bên tôi không chỉ có con, mà còn có gia đình. Mẹ cưng bé con lắm, bà chăm từng bữa ăn, từng cái áo cái quần. Ba ít nói, nhưng mỗi lần đưa đón cháu đi học, ông đều cười hiền hậu.Tôi chợt thấy nghẹn lại khi nghĩ đến những năm tháng trước đây, chính tôi đã làm ba mẹ buồn lòng nhiều đến thế nào. Những giọt nước mắt, những đêm dài họ thao thức lắng lo. Giờ đây, tôi chỉ muốn sống tốt hơn, không chỉ để bé con có một cuộc đời hạnh phúc, mà còn để ba mẹ có thể an lòng. Tôi học cách quan tâm đến họ nhiều hơn, cùng mẹ nấu bữa cơm ngon, nhắc ba mặc ấm khi trời trở lạnh, góp nhặt từng chút để phụng dưỡng và đền đáp những hy sinh lặng lẽ mà họ dành cho tôi. Không còn những đêm dài khóc ròng, không còn ác mộng rượt đuổi. Vết thương cũ giờ chỉ còn là vết sẹo mờ, không còn đau, chỉ nhắc tôi rằng mình từng vượt qua. Sau tất cả, tôi nhận ra: gia đình vẫn luôn là nơi an toàn nhất, và giờ đây tôi đã đủ mạnh mẽ để trở thành nơi an toàn cho chính những người tôi yêu thương. Rồi anh đến, không ồn ào, không hứa hẹn. Anh là đồng nghiệp ở nơi làm mới, hiền lành và chân thành. Anh thường nán lại sau giờ làm, giúp tôi những việc nhỏ, đôi khi chỉ đặt ly cà phê nóng trên bàn mà chẳng cần nói gì. Anh bước vào cuộc đời tôi, nhẹ như cơn gió thu, không khuấy động, nhưng đủ để hơi ấm len vào những góc tối trong tim. Ở bên anh, tôi lần đầu tiên nhận ra mình có thể thở nhẹ nhàng, những phòng tuyến trong tim lặng lẽ sụp đổ mà không sợ bị tổn thương. Tôi có thể khóc thật to, mà không cần kìm nén. Có thể cười, hồn nhiên như đứa trẻ. Có thể nổi giận, trách móc, thậm chí lặng im nhiều ngày, và anh vẫn ở đó, không rời đi, không lay động. Anh trở thành nơi tôi tựa đầu những lúc mệt mỏi, là bờ vai đủ rộng để gánh cả những hỗn loạn trong tôi. Khi tình cảm dần sâu đậm, chúng tôi vấp phải sự cấm cản từ gia đình anh. Tôi từng nghĩ sẽ buông tay, vì không muốn anh kẹt giữa tình yêu và sự kỳ vọng của gia đình. Tôi đã quen với việc lùi bước để người khác dễ lựa chọn hơn. Nhưng anh thì không. Anh chọn ở lại, lặng lẽ thuyết phục từng người trong gia đình, giải thích cho họ hiểu về quá khứ của tôi, về những năm tháng tôi đã trải qua. Anh không bảo vệ tôi bằng những lời hứa khoa trương, mà bằng sự tôn trọng và tình yêu giản dị. Xung quanh chúng tôi, những lời bàn tán cũng từng dấy lên. Người ta nhìn tôi bằng ánh mắt nửa thương hại, nửa dò xét. Nhưng anh chỉ nắm tay tôi chặt hơn, im lặng đồng hành, để sự kiên định của anh thay câu trả lời cho tất cả. Tôi chợt nhận ra, người ta ở lại không phải để cứu rỗi hay xóa nhòa nỗi đau, mà chỉ để nhắc tôi rằng: tôi có quyền yếu đuối, có quyền vỡ òa sau những năm tháng gồng mình chịu đựng, rằng tôi không cần phải mạnh mẽ mọi lúc, cũng chẳng cần cố gắng hoàn hảo để có được hạnh phúc, rằng ngay cả khi trái tim này đầy rẫy những vết xước, tôi vẫn xứng đáng được nâng niu, được yêu thương trọn vẹn, theo cách dịu dàng nhất. Bé con ban đầu gọi anh là “chú” đầy rụt rè, nhưng chẳng bao lâu sau, con bé đã cười khúc khích mỗi lần anh xuất hiện, bàn tay nhỏ níu chặt lấy ngón tay anh. Tôi nhìn thấy trong ánh mắt anh sự dịu dàng, kiên nhẫn, thứ tình yêu không ồn ào mà sâu lắng đến tận đáy tim. Ngày tôi tốt nghiệp đại học, anh đứng lặng lẽ ở cuối hội trường, tay ôm bó hoa lớn, nụ cười nở rộ như ánh nắng trời thu. Bé con chạy đến, nắm tay anh, kéo vào giữa đám đông, bước thật nhanh về phía tôi.Ba mẹ tôi đứng bên, không còn vướng lại những nỗi buồn xưa, chỉ có ánh mắt ấm áp mà suốt nhiều năm tôi chưa từng thấy lại. Tôi khẽ nhìn ra, bên ngoài khung cửa, những chiếc lá vàng chao nghiêng như đang nhảy múa. Lần đầu tiên sau rất lâu, tôi thấy lòng mình thật sự bình thản. Mọi thứ từng vỡ nát giờ đang dần được chữa lành lại, từ từ, chậm rãi, và tôi biết: cuối cùng, những vết thương cũng đã ngủ yên trong hơi ấm dịu dàng của mùa thu. “Giữa hai mùa hoa, tôi từng sợ trái tim mình mãi đông cứng trong giá lạnh. Nhưng rồi, khi gió đã thôi gào rít, khi nắng không còn bỏng rát, tôi hiểu ra rằng: chỉ cần kiên trì yêu thương, hoa vẫn có ngày đơm nở rực rỡ.” Leo Kim #Vietchualanh #Giuahaimuahoa

  • TTS feed content

    “ĐÁM ĐÔNG KHÔNG CẦN LÝ LẼ CHỈ CẦN CẢM XÚC MẠNH “Lý trí của một người trong hoàn cảnh bình thường sẽ nhìn thấy sự thiếu mạch lạc nhưng đám đông gần như mù quáng trước sự thật ấy và thực tế là họ bị bóp méo bằng trí tưởng tượng áp đặt lên đó.” (Trích Diễn biến tâm lý đám đông) Bạn có từng thấy một ai đó bị “ném đá” dữ dội mà không hiểu vì sao? Bạn có từng thấy một xu hướng vô nghĩa lan truyền rầm rộ mà chẳng ai dừng lại để hỏi: “Việc này để làm gì?” Nếu từng, bạn đã chứng kiến quyền lực đáng sợ của “tâm lý đám đông”. Gustave Le Bon đã chỉ ra rất rõ: Đám đông không suy nghĩ, chỉ cảm nhận. Và đó là lý do vì sao cảm xúc trong đám đông luôn vượt ngoài tầm kiểm soát. Ông liệt kê ra các đặt điểm về cảm xúc và đạo đức của đám đông như sau: 1. Tính bốc đồng, tính dễ thay đổi và sự cáu kỉnh của đám đông Le Bon chỉ rõ, đám đông phản ứng theo bản năng. Không suy xét. Không phân tích. Không cần sự thật. đám đông bị chi phối bởi những nguyên nhân kích thích bên ngoài và phản chiếu lên những biến đổi không ngừng giữa họ. Đám đông cả nể và dễ tinh theo một gợi ý nào đó. Vụ việc Johnny Depp và Amber Heard là minh chứng điển hình. Khi Amber lần đầu lên tiếng tố cáo, cả thế giới quay lưng với Johnny mà chưa có một bằng chứng rõ ràng nào. Các hãng phim cắt hợp đồng, người hâm mộ quay lưng. Đó không còn là công lý mà là hiệu ứng đám đông. Mãi đến khi phiên tòa được công khai, sự thật mới sáng tỏ. Nhưng ai chịu trách nhiệm cho những mất mát mà đám đông gây ra? 2. Sự phóng đại và ngây thơ của cảm xúc trong đám đông Trong đám đông, ta không còn phân biệt được nghi ngờ lành mạnh với niềm tin mù quáng. Chính vì thế, đám đông dễ tin theo thuyết âm mưu, lời đồn thổi, hay “một chiếc idol thần thánh hóa”. Sự thật thì phức tạp, nhưng đám đông chỉ muốn thứ gì đơn giản, giật gân – và dễ thỏa mãn cảm xúc. Trong mùa đại dịch COVID-19, có một giai đoạn người dân đổ xô đi mua… giấy vệ sinh. Không phải vì thiếu mà vì ai cũng sợ không còn. Một vài hình ảnh “trống kệ” trên mạng đủ khiến cả thành phố hỗn loạn. Không cần lý do. Chỉ cần sợ hãi lan tỏa. Đó là “tâm lý bầy đàn” một dạng tâm lý đám đông mà Le Bon gọi là “mù quáng tập thể.” 3. Sự không khoan dung, độc tài và chủ nghĩa bảo thủ của đám đôngKhi một tư tưởng mới xuất hiện, một nhân vật đi ngược số đông nổi lên, phản ứng thường là gì? Chống đối. Tẩy chay. Mạt sát. Vì sao? Vì đám đông không chịu được cảm giác bất an khi niềm tin cũ bị thách thức. Sự bảo thủ là lá chắn chống lại nỗi sợ mất kiểm soát. Ngày xưa, Steve Jobs từng bị chính hội đồng Apple sa thải vì những ý tưởng “quá khác người”. Họ sợ thay đổi. Sợ rủi ro. Và đám đông ban đầu đâu có ai tin rằng một cái “iPhone không bàn phím” sẽ thay đổi thế giới? May thay, lịch sử vẫn luôn ưu ái những kẻ dám đi ngược đám đông. 4. Đạo đức của đám đông Đám đông có thể trở nên rất nhân đạo hoặc cực kỳ tàn ác chỉ trong vài giờ. Tùy vào người dẫn dắt họ chạm vào phần nào trong cảm xúc: cao đẹp hay hèn hạ. Đám đông không xấu nhưng dễ bị dẫn dắt về phía xấu nếu không có một tiêu chuẩn lý trí để soi đường. Trong bóng đá, đôi khi chỉ một tình huống trọng tài bị nghi là thiên vị, đám đông trên khán đài có thể từ reo hò thành… đập phá. Những vụ như Heysel 1985 hay Indonesia 2022 từng cướp đi sinh mạng của hàng trăm người vì cảm xúc tức giận lan truyền. “Thời đại của chúng ta là thời đại của đám đông nhưng chỉ những ai giữ được lý trí cá nhân mới không bị cuốn trôi.” Đừng dễ dàng tin theo. Đừng vội chia sẻ. Đừng để cảm xúc của người khác thay thế tư duy của chính bạn.