Author: editor editor

  • Không như vẻ ngoài

    Ở đây làm gã nhớ ngày ở quê vô cùng, chẳng cần đến đồng hồ báo thức làm gì cả, cứ như mọi người đều tự nguyện mong muốn thức dậy để được sống và lao động, không cần một vật vô tri nào lôi họ dậy khỏi giấc mộng dài. Chim vừa hót vài tiếng bên kia hồ thì tiếng máy cày cũng đã đến trước cổng, bác Tư thức giấc lúc nào không hay, con chó già đã ngóc đầu lên và tỉnh táo lại hơn hôm qua nhưng vẫn chưa đứng dậy được. Dinh dọn chỗ ngủ rồi đi rửa mặt sau đó bước ra ngoài tưới mấy chậu hoa, vài hạt giống hoa dại đã nảy mầm, còn mấy nhánh cây dăm hôm trước đã tươi rói không còn héo nữa. Bố thụt lùi thùng xe lại gần trước xưởng rồi đổ đất sét ra một tấm bạt xanh bác Tư trãi sẵn ra đó. Cả ba người xới xáo đống đất lên để vứt đi nhiên viên đá sỏi còn lẫn vào trong đất, bên cạnh chuồng gà là một nồi khoai lang luộc đang đỏ lửa sôi sùng sục, bầy gà cùng con heo mọi đã được thả đi ăn, trong giây lát Dinh nhìn ra phía hồ xem có ai ở đó không nhưng mặt hồ sáng vẫn lặng mịch như mọi hôm. Lựa sỏi đá một lúc xong thì Bố lại lên xe đi lấy tiếp một đợt thứ hai, anh ta nói phải chở ba xe mới đủ. Bác Tư kéo vòi nước lại để xịt một ít nước rồi cùng Dinh dẫm lên đống sét nhão để trộn đều, trông họ không khác gì hai đứa trẻ đang nghịch bùn cùng nhau cả.”Trong sét có nhiều lỗ khí nên phải trộn đều nước để nó len lỏi từ từ vào, đến khi vừa đủ thì mới tạo hình dễ, ít quá sẽ cứng nhiều quá thì chúng không đủ độ dính và sức căng”bác Tư vừa dặm vừa nói to cho Dinh hiểu. Gã trung niên nhớ về chuyện con người cũng cấu thành phần nhiều từ nước, gã cảm giác ai đó đã nặn ra mình, bản thân gã mang luôn tinh thần và ý chí của tạo hóa, đa dạng và biến hóa vô chừng. Bên trong đống đất hòa nước này là muôn vạn khoáng chất, dịch chuyển vào nhau, biến đổi cùng nhau, tự dưng nghĩ tới đậy gã hiểu ra hai chữ ”Tương tác”mà bác Tư ghi vào giấy rồi dán lên kính hôm trước.

    “Con người có vẻ giống một món đồ gốm, trãi qua nhiều tương tác nhào nặn tưởng tượng hình dung rồi cả mơ ước vọng tưởng mới bắt đầu thành hình được”– Dinh vừa nhào nặn đất bằng tay vừa quay sang nói với bác Tư.

    “Đúng vậy, nhưng chỉ là mới bắt đầu thành hình thôi”.

    Đợt đất thứ hai cũng đã tành tạch kéo đến bởi Bố, công việc lại quay trở lại công đoạn lọc đá sỏi. Giờ Dinh mới nhận ra, trước khi nhào nặn cùng nước, sỏi đá và những thứ gây khó khăn cho quá trình tạo hình gốm cũng phải được loại bỏ, gã nhớ ra quyển sách”Đất và Người”trên kệ sách rồi tự nói một mình:”Cái tựa sách hay thật”. Bố đang làm thì chợt nhớ ra hỏi xem con chó thế nào rồi, lát ai sẽ chở nó đi khám, Dinh nhận công việc này nhưng bác Tư bảo anh không rành đường nên để lát phòng khám mở cửa bác sẽ gọi điện xem sao rồi tính. Họ tiếp tục làm việc với một chút lo lắng cho chú chó già.

    “Lát mày ghé ngang con Phi xem may xong mấy cái tạp dề vải chưa lấy luôn, sao mấy nay không thấy nó đến, hôm qua bác nghe nói chồng nó lại quậy phá gì đó”.

    “Thằng cha đó giờ còn quậy được gì nữa, chắc lại đem tiền cho bọn tà ma kia ăn rồi làm khổ con nhỏ chứ gì, mẹ nhiều khi chết quách đi sống chi làm điên làm khùng”.

    “Im mày, không giúp được thì thôi chửi cái gì”– Bác Tư ném cục đất vô đầu Bố với gương mặt nghiêm nghị.

    “Bọn tà ma”cụm từ này làm Dinh nghe lạ lẫm, không biết có chuyện gì đã xảy ra, gã không hỏi gì vì cũng đang cảm thấy thú vị với công việc nhào nặn bản thân mình. Bác Tư dặn lại một lần chuyện với Phi rồi kêu Bố đi nhanh về còn ăn sáng khoai lang phụ bác nhiều việc lắm. Bố cười ha hả đòi tăng tiền công, bác Tư ok hứa đãi một chầu nhậu xả ga khi xong chuyện, nhìn anh ta hớn hở ra mặt hẳn, nhảy tót lên máy cày rồi đi lấy đất đợt cuối cùng. Hai người ở nhà tập trung nhào đất cho đợt đất thứ hai, mặt trời đã nhá nhem bên kia hồ, ánh nắng đi qua cửa vào ngay chỗ chú chó già bị thương, trông từ xa nó mệt mỏi nhưng vẻ mặt bình thản lắm, lâu lâu lại nhìn ra vẫy đuôi liên tục rồi lại ngã đầu ra ngủ tiếp. Bác Tư đi trở củ lang đang luộc, đem cho bọn gà heo dê một ít thức ăn, rồi thả chúng ra lang thang khắp nơi.

    Chân tay gã trung niên bắt đầu run lên vì mỏi, gã không dừng lại mà muốn xem giới hạn của mình ở đâu, và nếu vượt qua nó chuyện gì sẽ xảy ra. Gã liên tục nhào nặn dẫm đạp lên đất sét như thể xả hết mọi ưu tư ra ngoài vậy, có lúc gã dừng lại, thử nặn ra một hình hài nào đó, nhưng đất và nước thì chưa sẵn sàng thành một hình hài cụ thể. Dinh tiếp tục dù đã thấm mệt, thế rồi gã trượt chân ngã ịch mông xuống đất, đất văng lên đầy mặt, hình dáng chưa ra làm sao thì gã trung niên đã đeo lên cái mặt nạ bùn đất. Gã nắm lấy một bụm đất rồi ngồi dậy, gã nặn qua nặn lại ra hình một con trâu nhỏ,”Cuối cùng cũng được”, gã nói thầm trong đầu. Bác Tư đứng ngay bên cạnh nói Dinh thử đẩy nhẹ cái đầu con trâu, gã làm theo và thế là đầu con vật quẽo ngang rơi xuống đất. Gã phát cáu hét to”Á Á Á sao thì mới đúng”.

    “Nước và đất phải đi vào nhau chậm rãi, nó còn phải giao tiếp với nhau thì mới thu xếp chỗ cho nhau được, anh vội vàng như vậy nên nó chỉ mượt ở vẻ bề ngoài, trên lớp mặt thôi, còn bên trong anh thấy nó vụn vỡ thế kia không, làm sao kết nối được mà thành hình”– Bác Tư cầm cái đầu con trâu lên chỉ chỗ đứt gãy cho Dinh rồi nói.

    “Nhưng làm sao biết mức độ nhào nặn tương tác thế nào là đủ, và làm sao nhận biết đất nước đã hòa vào nhau đúng yêu cầu để thành hình được sau đó”– Gã đứng lên bước ra ngoài vừa rửa mặt vừa hỏi.

    “Nhịp điệu lao động của anh phải từ tốn, nhận biết thì dễ thôi, nó không làm chân tay cơ thể anh quá đau nhức khi làm, các cơ không gồng căng cứng lên mà còn tận dụng vào trọng lực và sức nặng cơ thể. Ngoài ra, tâm trí của anh không được hỗn loạn, hễ thấy không chịu đựng nổi không đủ kiên nhẫn thì cứ dừng lại, khi nào bên trong yên ắng rồi thì quay lại làm tiếp, càng ép anh càng làm bậy thôi. Còn khi nào đất và nước đạt yêu cầu thì anh phải hỏi tụi nó, ý tôi là anh phải thử trên tay anh, cảm giác xem anh có dễ chịu khi nhào nặn nó không hay vẫn còn cứng hay quá mềm để tạo hình. Những người có kinh nghiệm như tôi thì dễ nhận biết hơn vì tôi còn dùng nhiều giác quan khác để nhận biết, người mới như anh thì cứ dựa vào xúc giác. Chung quy xúc giác là khởi đầu quan trọng cho nghề này, sau đó anh sẽ nâng cấp bản thân lên thông qua các giác quan khác, việc đó thì tùy cơ duyên và căn cơ, trước tiên là thông qua cái chạm đã”– Bác Tư vừa dặm lên đất vừa từ tốn giải thích, hơi thở bác đều đặn không hề bị ngắt quãng theo nhịp dặm của đôi chân.

    Ngã lưng ra thảm cỏ gần đó, Dinh nghe kỹ từng lời của bác Tư nói, gã thấy một chút kinh ngạc vì cái nghề có vẻ tay chân này lại ẩn chứa quá nhiều nội hàm ngụ ý hấp dẫn và có phần gã cảm thấy thiêng liêng gắn kết với chuyện học làm người, một suy nghĩ lóe lên trong đầu về việc đổi sang nghề làm gốm hiện lên trong đầu.”Hình hài của tự do là gì, liệu mình có nhạo nặn ra được chúng không”, gã nghĩ ngợi khi nhìn đàn chim bay liệng trên bầu trời mùa hè không một gợn mây.

    Chuyến xe chở đất cuối cùng cũng đến, công việc nhào nặn tưởng chừng nhàm chán thô lỗ giờ đây trở nên thú vị vô cùng với gã trung niên. Cảm giác đôi tay Dinh giờ đã tốt hơn, gã bắt đầu cảm nhận được sức căng bề mặt của sự hòa quyện giữa đất, nước và của da thịt mình. Tay chân gã giờ đây không còn đạp loạn xạ nữa, có những giao tiếp khó diễn tả thành lời, như hòn đất nói hắn hãy nhào bên phải bên trái, cũng có lúc chúng xin gã một ít nước hoặc thêm đất vào. Hồi đầu gã còn nghĩ mình ảo giác, nhưng không chúng nói chuyện thật sự, nói chuyện sâu bên trong tiềm thức, những lay động rất nhẹ nhàng nhưng rõ nét lạ thường. Dinh nhớ lại ngày xưa khi chưa cưới nhau, vợ gã từng là người thích vẽ, cô cũng từng kể về những nếp nhăn, vết ố trên giấy trò chuyện cùng cô, gọi cô nên vẫy cọ đưa bút như thế nào. Lúc đó gã chỉ ậm ờ cho qua chuyện, thậm chí còn nghĩ cô và mấy gã nghệ sĩ chỉ nâng cao quan điểm chứ thứ ảo ảnh đó làm gì có tồn tại. Vậy mà giờ đây những lời thì thầm ấy lại rõ nét đến không thể phớt lờ, phải chăng như người bạn bác Tư tùng nói, con người phải đi qua chuyện gì đó thì mới học được. Gã không chắc chắn về điều đó lắm, nhưng thứ giờ đây gã thấy tiếc khi đó không lắng nghe và thể nghiệm những thứ ấy cùng vợ mình một cách chân thành hơn, nhớ lại chuyện ấy gã tự chửi mình là kẻ vô lại giả dối.”Khi về nhà mình sẽ kể lại cho em chuyện này”, gã nghĩ như vậy khi đang nặn lại một con trâu trên tay.”Về nhà ư, sao mình lại nghĩ đến chuyện về nhà, mình muốn quay về rồi sao”, gã tự chất vấn mình.

    “Đi ngang thấy nhà con Phi đóng cửa rồi, con có hỏi thăm hàng xóm thì đúng là có chuyện gì đó hôm qua nghe cãi vã ầm ỉ”– Bố ngồi xuống cỏ nghỉ mệt, tay chống về phía sau ngẩng mặt lên trời cao.

    “Vậy thì lạ, nào giờ nó hiền khô có nghe nói lớn tiếng bao giờ đâu”– Bác Tư vớt khoai lang ra đĩa mang lên bãi cỏ để mọi người ăn sáng.

    “Có khi một lát để con chạy đi coi thử, chứ con thấy cũng ngộ”.

    “Thôi được rồi, để bác gọi điện bác sĩ thú ý rồi mày chở con chó đi khám xong ghé hỏi thăm coi con Phi có làm sao không”.

    “Để cháu đi với Bố”.

    “Cũng được hai thằng đi để có chuyện gì không hay còn phụ, mà anh là người lạ nên làm theo lời nó, dân trong thị trấn không phải như ở đây đâu. Mà thằng Bố cẩn thận, hể dính tới cái đám chồng con Phi dây vô thì đừng có tự ý làm gì, phiền phức lắm, cái lũ ấy không biết đâu mà lần”.

    “Biết rồi, con cũng chẳng dại, dù đôi khi cũng muốn tẩn bọn ấy lắm nhưng thôi kiếm tiền ngon hơn bóc lịch như lần trước”– Bố nói hai chữ bóc lịch mà mặt anh ta có vẻ rất bình thường làm Dinh một chút hơi quan ngại, nhưng nhìn lại ánh mắt thì tên này cũng không có nét ác tợn.

    Bác Tư gọi xong đi ra thông báo là phòng khám hôm nay có mở cửa, họ ngồi nghỉ ngơi ăn sáng cùng nhau, bác Tư dặn hễ nó nặng quá mà cần ở lại điều trị thì nhớ an ủi nó trước khi về, còn tiền bác đã chuyển cho bác sĩ thú y trước rồi. Ăn uống xong, Bố xịt rửa cái thùng xe máy cày, lau khô rồi lót vải lên trên, bác Tư bồng con chó già đặt lên rồi vuốt ve nói với nó là đi khám bệnh đừng lo, nó ngoan ngoãn ngoắc đuôi rồi hứ hé vài tiếng liếm tay chủ mình. Mắt Dinh tự dưng đỏ hoe khi nhìn cảnh đó, thứ gì đó giản dị mà âm thầm cuồn cuộn chảy vào trong gã trung niên, như dòng nước mát chảy qua khô cằn sỏi đá, đã bao lâu rồi gã mới thấy những thứ không hào nhoáng mà lay động đến vậy. Con chó cuối cùng mà gã nuôi đã chết vào năm cuối đại học, chính xác thì mẹ con gã nuôi khi còn ở quê học cấp ba. Những năm học đại học mỗi lần về thì điều làm Dinh háo hức nhất là được tắm sông cùng nó. Rồi một ngày khi về quê, thì nó không còn nữa, lúc ấy gã Im lặng cả ngày, mẹ đã lo lắng cho gã đến mức phải gọi bạn bè gã sang chơi, nhưng gã vẫn chẳng nói gì. Trưa ngày hôm sau, khi tắm sông gã còn mơ màng tưởng mình đang bơi cùng nó, gã thiếp đi mà không hay biết, suýt chút nữa thì chết đuối. Nỗi sợ lìa xa ấy làm gã không nuôi thêm con vật gì về sau nữa, đến nỗi gã đã phát cáu với con gái khi nó đòi mua một con vẹt Nỗi bất an của con người không biết là đúng hay sai, có thật sự tồn tại không, nhưng nó khiến cho mọi thứ thêm ngăn cách, nó như bức tường vô hình tự động bật lên khi ai đó tiến vào vùng an toàn ấy. Gã nghĩ nếu lúc ấy kể ra cho con mình nỗi sợ và suy tư của cha nó, có khi hai cha con đã hiểu nhau hơn, con gái có thể vẫn đòi nuôi nhưng có thể sẽ tạo ra một mối liên kết khác. Nhưng giờ đây, gã chỉ muốn toàn tâm chăm sóc cho chú chó già trước mặt, mong sao nó có thể vượt qua.

    Mặt trời đã lên cao hơn một chút, giờ này nếu ở nhà Dinh có lẽ chỉ mới thức dậy, mệt mỏi và đắn đo tại sao mình phải bật dậy đi làm. Còn giờ đây gã lại đang tành tạch trên con máy cày cũ, đi cùng một tên chắc hẳn đã từng vào tù ra tội, cùng nhau họ đi giải cứu con chó già trọng thương và có thể cả một người đàn bà. Ngồi trên chiếc xe cà xịch cà lụi nhìn qua hai bên đường, ai cũng có thể vượt mặt bọn họ, những chiếc ô tô xe máy vội vã bóp kén để xin đường.”Họ đang vội vàng vì điều gì, những ngày trước đây mình vội vã vì điều gì”, gã xoa đầu con chó nghĩ về nhịp sống của một đời người.

    “Này anh, em phải kể trước một chuyện, anh xích lên đằng này chút nghe cho rõ”– Bố quay người lại nói thật to, Dinh di chuyển về phía đầu xe máy cày.

    “Em không giải thích rõ được, nhưng thằng chồng Phi nó tham gia một nhóm tà giáo, bọn này dễ kích động lắm, đụng đến nó giãy nãy còn không làm điên làm khùng không luôn đó. Một lát nếu, em nói là nếu nha, xui rủi mà có giáp mặt tui kia thì anh ở yên xa ra, dù gì anh cũng không ở đây lâu đụng vô tụi nó có chuyện gì phiền thêm, để mình em thôi anh lo cho con chó đi”– Câu chuyện ngắn của Bố làm Dinh một chút bồn chồn, dù vậy gã không hỏi thêm mà ra hiệu tay là đã hiểu rõ.

    “Dặn trước vậy thôi chứ anh đừng lo, ban ngày tụi nó cũng không dám làm bậy đâu”– Bồ nói tiếp sau một hồi im lặng.

    “Tôi không lo mà cậu làm tôi lo thêm rồi đó”– Cả hai cùng cười vang trên xe, thật ra họ cố tình làm giảm bớt căng thẳng, bọn họ đều linh cảm có gì đó không mấy tốt đẹp phía trước.

    Sắp vào thị trấn, nhà dân cũng đông đúc hơn, quán xá bắt đầu nhộn nhịp, không khí chộn rộn hơn trong khu vực nhà bác Tư, nhưng với Dinh thì như quay về ngôi làng đầy biến động mà quen thuộc của mình.”Xuống hết đoạn dốc này đi hết dọc cái hồ thì vào trung tâm, đi một chút là đến phòng khám, em đậu xe ở chỗ công viên nơi mấy thằng chở hàng xe ba gác đậu, rồi em chỉ đường cho anh ẵm nó đi khám nha”, Bố vừa nói lớn vừa chỉ tay cho Dinh biết, tiếng ồn đầu máy làm gã không muốn trả lời mà chỉ giơ ngón tay cái lên để ra hiệu. Con đường dọc bờ hồ trong thật lạ lẫm, lần cuối gã đến đây là ngày sinh nhật 3 tuổi của con gái, khi ấy mối quan hệ vợ chồng gã bắt đầu tệ đi, to tiếng với nhau suốt nên gã rời khách sạn đi dạo dọc bờ hồ. Khi ấy mấy quán café hiện đại này chưa có, chỉ vài người đàn bà lớn tuổi bán rong những món ăn dân dã. Gã còn nhớ mình ngồi cạnh bếp lửa ăn một trái bắp nướng và nghe đôi tình nhân bên cạnh hứa hẹn với nhau. Gã còn nhớ cảm giác lúc ấy chỉ muốn hét lên”đừng có tin chuyện đó”nhưng rồi lại thôi, đứng lên rời đi ăn quả bắp nướng trên băng ghế đá lạnh lẽo gần đó. Giờ đây những quán café sang trọng mọc lên khác xưa quá, nhưng có lẽ những đôi tình nhân thì vẫn vậy, hứa hẹn với nhau đủ điều, rồi vài năm sau họ lại quên mất hết cả. Dinh cảm giác mình nằm trong một vòng lặp bất tận của loài người, thừa hưởng u mê khờ dại từ ngàn năm trước, đi trên đúng con đường của những con ngựa già kéo chiếc xe lộng lẫy, nhưng rồi tất cả đều lọt vào cái hố sâu sầu bị, để lại trên đường những cái bẫy không sao thoát được.

    Vừa đến chỗ đậu xe, Bố chào hỏi mấy người lái ba gác đang đợi khách, họ nói chuyện chào nhau vài câu, văng tục cười cợt trông rất vui vẻ. Bố xin anh bạn tờ giấy, một mặt giấy ghi chi chít mấy con số, Dinh đoán là số đề ghi vội, mặt còn lại thì trống. Bố lấy cây bút trong túi áo vẽ nguệch ngoạc vài đường rồi đưa cho Dinh bảo đây là bản đồ đến tiệm thú y cách đó 200m rồi quơ tay chỉ chỏ đủ đường.

    “Anh ẵm nó đến chỗ thú y dùm, em đi loanh quanh hỏi thăm bọn bạn chuyện con Phi, xong sớm anh ra đây đợi, mấy cha nội này người quen không à an tâm. Có gì trễ thì em vào gặp anh trong đó sau, mà anh có điện thoại không ?”– Bố choàng vai Dinh qua một góc rồi nói nhỏ như sợ ai đó nghe thấy.

    “Hôm trước say tôi quên điện thoại và ví chỗ cô Lanh chưa lấy về”.

    “Thôi không sao em cho anh mượn 100k dằn túi này, đưa tay đây em viết số em cho có gì mượn điện thoại mấy ông này gọi cho em, đừng lo không sao đâu”– Bố ngó ngang ngó dọc, thầm thì trong khi dùng một tay che miệng.

    “Anh thấy cậu mới đang lo lắng đấy, nhớ lời bác Tư dặn đó, thôi đi đi cảm ơn cậu”.

    Hai người chia nhau ra hai đường, Dinh mượn một tấm vải của người lái xe ba gác để quấn con chó già lại tạo thế sao cho nó đừng bị đau trên đường đi, anh bưng nó lên rồi bắt đầu đi theo bản đồ vẽ quoa loa của Bố. Đi một trăm mét thì vào khu chợ tấp nập, có một bà bán trái cây nhận ra con chó nên chặn gã người lạ lại hỏi thăm dò, bà ta sợ anh ta bắt chó của ông Tư, khi đã biết chuyện thì bà nhiệt tình chỉ đường cho Dinh rồi còn dúi quả quýt đường vào túi quần gã. Đi theo sự hướng dẫn của bà bán trái cây có khi còn dễ hơn xem tấm bản đồ. Sắp đến cái hẻm chỗ bác sĩ thú y, Dinh bỗng nhiên đứng khựng lại trong 5-10 giây, gã quay đầu lại nhìn dáo dác vừa nghĩ:”Hình như mình mới thấy bà ni sư đi ngang qua mà sao đâu mất rồi, không lẽ lẹ dữ vậy”. Chú chó cũng tự dưng ngốc đầu lên rồi vẫy đuôi lia lịa. Dinh nhanh chóng dẹp chuyện đó ra khỏi đầu để tập trung tìm tiệm thú y vì đó là việc chính lúc này. Rẽ vào trong hẻm vài ba căn nhà là tới phòng khám, mùi thuốc tây và chó mèo bay ra rất dễ nhận ra khi vừa vào đầu hẻm. Bên trong mọi thứ khá sạch sẽ, cũng đầy đủ thiết bị với một thành phố nhỏ như Chạm, vài vị khách đang ôm chó mình đợi đến lượt, người trợ lý đang lấy ven truyền nước cho một chú chó phốc bé xíu. Dinh ngồi xuống cạnh một đứa nhỏ 5-6 tuổi đi cùng mẹ, nó đang ôm một con chó cỏ màu đen không được lấy gì là sạch sẽ trong tay. Mặt thằng nhỏ buồn thiêu, mắt nó đỏ rướm như đang sắp khắp òa tới nơi, mẹ nó đang dỗ dành và hứa rằng con chó sẽ khỏe lại.

    “Nó bị sao vậy bác”– Thằng nhỏ nhìn qua con chó già rồi ngước mắt hỏi Dinh.

    “À nó bị té nên mệt thôi con, còn con chó của con bị sao?”– Dinh xoa đầu nó và con chó nhỏ.

    “Nó nhặt được gần nhà rồi đòi tui chở đi khám đó”– Mẹ nó quay qua cười rồi trả lời.

    “Nó không phải chó, nó là Đen, người lớn xấu tính bỏ rơi nó”– Thằng nhỏ cùi gầm mặt nói thì thầm nhưng đủ để nghe thấy.

    “Bác sĩ ở đây giỏi lắm, Đen sẽ khỏe lại thôi, người lớn chắc là bỏ quên nó chứ nó dễ thương mà không ai bỏ rơi đâu”– Dinh vuốt lưng cho cậu bé rồi nói, gã chợt nhớ ra mình còn chưa biết tên anh bạn chó già nhà bác Tư.

    “Anh là khách nhà bác Tư phải không anh ?”– Bác sĩ trợ lý ngước mặt lên nhìn rồi hỏi Dinh.

    “Đúng rồi, bác Tư có gọi trước giờ tôi mang nó đến”.

    “Anh mang nó vào để bọn em chụp X-quang và khám kỹ cho bé, chắc phải mất một ít thời gian anh đợi một xíu xong bác sĩ sẽ gặp anh trả lời cụ thể”– Người trợ lý đã truyền nước xong cho chú chó phốc, cô đứng lên hướng dẫn Dinh mang chú chó vào trong.

    Sau khi ẵm chú chó vào trong, Dinh miêu tả tai nạn trong rừng của họ gặp phải cho bác sĩ, gã miêu tả thêm tình hình chú chó chiều tối qua và sáng nay. Sau khi cung cấp đầy đủ thông tin, Dinh vuốt đầu khích lệ và an ủi con chó, sau đó đi ra ngoài cho thoáng, đã lâu gã không nghe mùi chó mèo trong một tiệm thú y nên có phần hơi khó chịu.”Nếu là hồi nhỏ thì mình sẽ dễ dàng quen cảnh này”, gã nghĩ vậy mà trong đầu hiện lên mấy chú chó mình từng nuôi. Gã đi ra đầu hẽm mua một gói thuốc rồi ngồi uống một ly nước mía mà trong lòng biết ơn 100k của Bố tận đáy lòng, đôi khi một ít tiền trong một hoàn cảnh cụ thể lại đáng giá và quý báu biết bao nhiêu, gã trầm ngâm nghĩ lại về vai trò của đồng tiền trên đời này, nhớ lại những toan tính vụn vặt mà ngày nào gã cũng tự làm cho mình khổ não, gã khì cười một nụ cười nhạo báng chính mình.”Có nhiều tiền không hẳn đã là tệ, nhưng khổ não vì nó thì thật nực cười”, gã thầm nghĩ rồi đốt một điếu thuốc lá. Khu chợ ngày một đông hơn, người đi làm về sớm bắt đầu ùa ra mua sắm, họ trả giá, tự kì kèo rồi tự bất mãn hằn hộc nhau, gã nghĩ họ buôn bán nhỏ thì hờn giận nhỏ, còn gã đã chứng kiến những hận thú của những kẻ buôn bán lớn có văn hóa cao mà gã gặp hàng ngày, gã là một trong số chúng. Ngồi ở quán nước mía lề đường, nghe mọi người rầy rà chửi nhau vài câu vậy mà làm hắn thấy dễ chịu, còn hơn phải căng thẳng phẫn nộ với đám người luôn coi mình là thượng đẳng mà bên trong thì hạ cấp.”Lại một lần nữa, trong đó có mình”, gã chốt lại bằng câu này trong đầu.

    Đột nhiên bà chủ quán nước mía hoảng hốt nhìn về phía xa,”Cái gì vậy trời, thằng đó dí cướp chắc hay sao chạy dữ vậy”, bà ta nhóm gót lên ngó ra vì quá lùn. Vài giây sau tiếng chân thình thịch ào tới, một người thanh niên chạy nhanh ngang qua mặt Dinh. Ngay lập tức gã nhận ra đó là Bố đang bán sống bán chết đuổi theo gì đó. Dinh không kịp suy nghĩ đứng bật dậy, gã đưa 100k cho chủ quan rồi nói”khỏi thối”xong thì bỏ luôn ly nước mía dang dở rượt theo Bố. Trên phố đông người nên gã không gọi Bố mà cố lòn lách đuổi theo cho kịp. Chạy được một lúc thì ra khỏi khu dân cư nên người đi lại ít đi, Dinh tiếp tục đuổi theo lên một con dốc rồi rẽ vào một con ngõ đường đất, gã không hô gọi vì thầm nghĩ đang có chuyện gì hệ trọng nên cứ đến nơi rồi hỏi. Con đường đất xấu nhưng xung quanh lại có rất nhiều nhà lầu khang trang, nhưng điều kỳ quái là một vài ngôi nhà phía trước treo một lá cờ màu đen với biểu tượng kỳ lạ như hình sừng sơn dương cong tròn màu trắng ở giữa. Không đủ thì giờ để quan sát kỹ hay suy nghĩ, Dinh chỉ thấy một chút ớn lạnh vì vài gã từ mấy căn nhà có treo cờ bước ra nhìn hai người họ đang chạy. ánh mắt chúng trông rất hung tợn.

    Phía trước mặt Dinh là cuối con hẻm đường đất, một ngôi biệt thự to đằng sau một cánh cổng cao kín bít, phía trên cổng có tận ba cái camera an ninh. Nhìn kỹ một chút thì trước cổng là một người đàn bà đang quỳ gối nhìn lên camera, gã nhận ra ngay đó là Phi thông qua cách ăn mặc có phần nhạt phai của cô. Bố đến trước mặt cô lôi cô đứng dậy, phủi bụi chân cô, anh ta cố giữ bình tĩnh nhưng cuối cùng cũng phải hét thật to, Dinh đứng cách họ ra một chút để xem động tĩnh vì dù gì gã cũng là người ngoài.

    “Mày làm cái gì vậy hả, sao cứ phải khổ vậy làm gì, kệ mẹ nó đi, cho nó chết đâu chết kệ mẹ nó đi”.

    “Không được, không được, ảnh chỉ đang không tỉnh táo, tao không bỏ được”.

    “Mày mới là đứa không tỉnh táo đó, đồ con điên, đi theo tao về rồi tính”– Nhìn sắc mặt có vẻ người không tỉnh táo lại là Bố.

    “Bỏ ra, chuyện của tao, tao chưa bỏ ảnh được, phải cứu ảnh ra rồi tính”– Phi trông không có vẻ gì là mất bình tĩnh.

    Bố đi đi lại lại, giơ hai tay lên đầu rồi đá chân xuống đất, xong lại đi qua đi lại. Phi thì vẫn kiên quyết quỳ gối nhìn lên camera, trông cô như đang cầu xin ai đó đằng sau màn hình cái camera đó. Mỗi khi cô quỳ xuống Bố lại lôi cô đứng dậy, cứ thế dằn co, hai người họ đúng là một cặp trời sinh về khoản dai lì. Một lúc sau Bố nhấc máy điện thoại, giờ anh ta mới thấy Dinh đứng cách đó độ chục mét. Anh ta chưa vội nói chuyện điện thoại mà chạy lại chỗ Dinh nói:”Anh coi chừng nó dùm, tôi đi quay lại ngay, đừng bỏ nó một mình dù có chuyện gì”. Dù là một gã thành thị buồn chán, nhưng ở cái tuổi này nó cũng cho gã một sự điều tiết khi gặp phải chuyện bất thường, gã gật đầu rồi tiến về phía Phi mà không nói lời nào. Bố vừa chạy đi vừa nói lớn trong điện thoại:”Tụi mày nhanh đi, tao đứng ngay cái dốc chợ đi lên một chút, lẹ đi càng đông càng tốt”.

    Dinh tiến về phía Phi, anh nhìn vào ngôi nhà rồi đi quanh hàng rào của biệt thự xem thực hư ra sao. Trên tầng hai của biệt thự đang có hai người đàn ông đứng ngoài ban công nhìn ra, Dinh tránh ánh mắt của ho rồi quay lại đứng gần Phi một chút. Dinh quay người về phía đầu con hẻm, vài người trong mấy ngôi nha có lá cờ đen kỳ quái cũng đang nếp vào một góc theo dõi động tĩnh của họ, lâu lâu lại nghe thấy tiếng chó sủa, vài người hàng rong vừa rẽ vào đầu hẻm lai vội vàng quay đầu đi ra. Không gian im lặng bị phá vỡ bằng tiếng gì đó của đám đông trong biệt thự vang lên, âm thanh không rõ nghĩa nhưng nghe như đang cầu nguyện hay đọc kinh gì đó.

    “Có chuyện gì trong đó vậy, tôi có thể làm bất cứ việc gì cho cô không?”– Gã trung niên ngồi khụy một gối xuống nhìn trực diện Phi hỏi.

    “Anh nên đi đi, liên lụy mắc công”– Phi lau nước mắt, hít một hơi sâu trả lời chậm rãi.

    “Ít ra cô cũng cho tôi biết đang đối mặt chuyện gì để chuẩn bị tinh thần, chứ tình cảnh này làm sao tôi bỏ đi được, dù có là người lạ đi ngang thôi cũng chẳng thể ngó lơ khi thấy một người đàn bà quỳ gối dưới đất giữa đường như này, cô nói có đúng không ?”– Tuy là nói vậy, nhưng trong lòng Dinh lại nghĩ, nếu là mấy ngày trước trong thành thị mà gã thấy cảnh này chắc gã sẽ ngó lơ rồi tránh chỗ khác để khỏi phiền phức, cùng lắm gã sẽ nhấc điện thoại rồi báo công an phường.

    Phi không trả lời, mắt cô vẫn hướng về camera, nhìn ánh mắt cương quyết không giống cầu xin mà như cô đang muốn nói với người trong kia rằng cô sẵn sàng làm tất cả vì chồng mình. Dinh thật sự không rõ chuyện gì đang xảy ra, chồng cô đang bị giam bên trong hay sao? Hay anh ta đang bị ép tham gia vào hoạt động kỳ quái nào đó đằng sau cánh cổng này, cũng có thể là bọn buôn bán nội tạng, đủ mọi kịch bản được gã trung niên nghĩ ra để cho mình các dự đoán ứng phó tình huống sắp xảy ra. Dinh nhớ ra cô đã nói chồng mình cô đơn chới với trong nghịch cảnh,”Anh ta có khi nào bị phá sản rồi quẩn trí, hay là lỡ dại dính vào mấy nhóm này nhóm kia rồi không dứt ra được”gã trung niên lại đoán già đoán non trong khi nhìn ra đầu hẻm xem Bố đến chưa, gã định sẽ đi tìm người giúp nếu 5-10’ nữa không thấy anh ta quay trở lại.

    Đột nhiên tiếng ồn ào từ đâu ùa vào ngoài đầu hẻm, nhìn kỹ một chút Dinh nhận ra đó là Bố dẫn theo một đám thanh niên khác tầm hơn chục người, bọn họ không có vẻ gì độc ác nhưng trông cũng có chút hùng hổ đáng sợ. Dinh nhớ lời dặn của bác Tư nên vội tiền về phía Bố cùng đám thanh niên xem họ định làm gì.”Anh an tâm phá cho tụi nó đi ra thôi, tôi đang rất bình tĩnh”chưa kịp hỏi thì Bố đã giơ tay chặn họng gã rồi nói vội. Đám người dừng lại cách chỗ Phi độ chục mét rồi nghe chỉ dẫn của Bố.

    “Tụi mày nghe đây, không đánh nhau, mang họa đó, bọn này nó hay ăn vạ mà bọn mày thì treo trên đầu vài cái án nên đừng kích động quá. Chỉ làm ồn phá dụ tụi nó để tụi nó đi ra, giả sử tụi nó mà có kéo ra đông thì cũng không đánh nhau, xô đẩy chửi rủa gì cũng được nhưng đừng gây chiến trước, thấy không ba cái camera đấy. Trừ phi tụi nó đánh mình, mình nhịn vài ba cái đầu rồi sau đó nhào vô dứt tụi nó, vậy thì chỉ là tự vệ có nghe không hả, đừng có dại mà ăn thêm án vô đầu”– Bố đứng chống nạnh rồi nói với đám thanh niên.

    “Em cũng gai mắt tụi này lâu rồi anh, giả thần giả quỷ, con nhỏ em họ em vô đây về rồi nói bậy nói bạ lung tung beng, moi tiền má nó đi cúng cho tụi này”– Một anh bạn to con, gương mặt có vẻ còn rất non chỉ tay vào ngôi biệt thự nói lớn.

    “Đúng rồi đó mạy Bố, không phải chỉ có con Phi mang họa vì tụi này đâu, trong chợ tao nghe nhiều lời ra tiếng vào lắm rồi, xử tụi nó luôn thôi”– Một người trạc tuổi Bố giọng khàn khàn trên tay có một vết sẹo không lớn lắm nhưng đủ nhận ra, anh ta đứng song song Bố nhìn về phía căn nhà to trước mặt nói.

    “Im mẹ tui mày đi, định đi tù thêm hả, xử xử cái gì, nghe tao nói không hả, làm ồn quấy rối thôi, không đánh nhau khi tụi nó chưa ra tay trước, có nghe không”– Bố tai đầu anh bạn trẻ tuổi hơn rồi đi quanh đám thanh niên hét vô mặt họ.

    Nhóm người trẻ giận dữ gật gù tỏ vẻ đã nhớ lời Bố nói, nhưng nhìn họ có vẻ không phải những người đáng tin cậy về khoản giữ bình tĩnh. Dinh lôi Bố ra một góc vì cảm thấy bất an, nhắc anh ta về lời dặn dò của bác Tư, anh ta chỉ cười rồi nói nhỏ vào tai gã:”Anh yên tâm em chuẩn bị rồi”. Với nụ cười gian xảo trên môi cùng ánh mắt tự tin, có vẻ anh ta đã chuẩn bị một màn kịch gì đó và cũng rất cẩn trọng. Nghĩ vậy nên Dinh chỉ tập trung vào việc bảo vệ cho Phi nếu có chuyện gì xảy ra gã quyết định lôi cô thoát khỏi đó. Đám thanh niên bắt đầu theo sau Bố tiến về phía cổng căn biệt thự, Dinh đỡ Phi đứng lên trong khi cô đang không biết chuyện gì đang diễn ra. Mấy anh bạn thanh niên bắt đầu ngước lên camera chỉ chỏ, chửi bới thách thức, vài người còn sút vào cửa sắt kêu đùng đùng, có hai gã đang đùng đình nhau cho cao lên để nhìn thằng vào camera. Một lúc sau không thấy trong nhà có động tĩnh gì, vài người tỏ ra quạu hơn trước, đằng xa vài người trong mấy ngôi nhà có treo cờ đen bước ra ngoài do dự định tiến về phía đám thanh niên nhưng vẫn đang đứng im theo dõi. Có anh bạn thanh niên tìm thấy thanh tre dài, thế là tiến đến ve vẫy chọt chọt vào camera, người khác lại ném đá vào cửa, một cậu trẻ măng thì ném thẳng qua cánh cửa cao vào trong nhà.

    Mọi chuyện bắt đầu hỗn loạn hơn, đá cùng cây hèo đã xuất hiện quơ quào bay nhào khắp nơi, tiếng ồn chửi rủa cũng nhiều hơn, Phi bắt đầu lôi Bố ra kêu anh ta dừng họ lại nhưng đám thanh niên đã bắt đầu trở nên quá kích động. Nhóm người đứng nhìn theo dõi bắt đầu tập hợp lại bàn tán, sau vài giây họ kéo đến chỗ đám thanh niên đang hô hào. Thấy vậy, Bố lấy điện thoại ra nhá máy cho ai đó mà không nói gì cả xong thì tắt, Dinh nghĩ chuyện bắt đầu không ổn, dễ vào vòng mất kiểm soát. Dinh kéo Phi về phía sau lưng mình rồi nói có gì cô và anh sẽ cùng chạy ra ngoài thoát khỏi đây trước rồi tính, Phi gật đầu đồng ý với ánh mắt bắt đầu có chút hoang mang.

    Hai nhóm người bắt đầu va vào nhau, thật tình Dinh thấy gương mặt cùng ánh mắt của những người trong con hẻm này còn đáng sợ hơn đám thanh niên có phần hơi ngỗ ngáo, nhưng suy cho cùng họ đều đang rất kích động, chỉ cần một kẻ không làm chủ được hành vi là mọi thứ sẽ thật khó lường. Gã trung niên để ý thấy sau cổ mấy người mới đến đều có xăm hình hai vòng xoáy ra hai bên như sừng sơn dương. Điều làm Dinh rùng mình hơn cả là họ xô đẩy huýt vai mấy tên thanh niên nhưng lại im lặng không lên tiếng một lời nào, cảm tưởng họ đang tận hiến cho những đấng thiêng liêng của mình vậy. Mọi thứ trở nên nhốn nháo, vài người xém chút thì ngã lăn ra, họ bắt đầu va chạm mạnh hơn vào nhau, rồi có tiếng cánh cổng căn biệt thự mở ra. Trong nhà bước ra năm sáu người nam nữ cầm mấy cây gậy gỗ, họ vẫn đứng trong phần đất căn nhà mà không bước ra, chỉ gõ vào cửa sắt kêu boong boong. Một cậu thanh niên đi cùng Bố đến hô to:”Nhào dô đi tụi mày”tất cả đều hùng hổ lao lên nhưng vẫn chí khoa tay múa chân chứ chưa ai dám động thủ. Ngay lúc ấy đột nhiên đám người có hình xăm quái lạ tản ra quay về phía nhà mình, hóa ra là xe công an đến ngoài đầu hẻm. Bố dang rộng tay can đồng bọn ra rồi hô to:”Công an đến rồi, làm theo kế hoạch nghe không tụi mày”, miệng gã lại cười cười một cách gian xảo như đang bẫy được con mồi to rồi vậy.

    Đám đông tản ra chỉ đôi khi còn vài lời thách thức từ đám thanh niên, mấy người trong căn biệt thự định đóng cửa đi vào nhưng bị công an ra hiệu ở yên đó. Thật kỳ lạ khi có đến bảy người công an đến, ngoài ra ba người khác còn chặn hàng rào ngoài đầu hẻm, chỉ là cùng lắm mất trật tự công cộng thôi mà sao họ lại đến đông và nhanh, hành động thì như đã có kế hoạch trước vậy. Vị công an có vẻ đang chỉ đạo tiến đến phía Bố đang đứng cạnh Phi hỏi chuyện, cô kể cho người này nghe rằng chồng cô bị lôi đi vào đây trị bệnh nhưng không có sự đồng ý của cô, cô bảo hiện tại mình là người giám hộ vì anh chồng mất khả năng vận động cùng tâm trí không ổn định. Đám thanh niên đứng kế bên thì hùa theo nói đủ thứ chuyện, nào là bọn lừa đảo, nào là kêu ca tụi nó đang cầm hung khí họ thì không, nào là khích tướng rằng chính quyền phải lo mấy vụ an ninh trật tự này chứ. Do quá ồn ào nên vài người bị mấy viên công an ra lệnh im lặng, vài người đi lại thu giữ gậy gộc đám người trong căn biệt thự.

    Sau một hồi nghe giải trình thì vị chỉ huy tiến vào căn biệt thự yêu cầu gặp chủ nhà để khám soát ngôi nhà, còn ra lệnh cho những người cấp dưới giữ trật tự đám thanh niên đang bát nháo hùa theo nói lung tung lên hết cả. Chủ nhà bước ra trong một đồ màu đen từ trên xuống dưới, nhìn có vẻ là một bộ váy dài, bên trong người này mặc chiếc quần dài cũng màu đen. Nhìn từ xa thật sự Dinh không biết đó là nam hay nữ, trông người này có nước da xanh nhợt nhạt có một chút bóng loáng như dầu trên mặt, môi thoa son một màu tím than và luôn nở nụ cười tỏ ra thản nhiên và sẵn sàng hợp tác. Bố dẫn Phi đi cùng người chỉ huy và ba thuộc cấp của anh ta đi vào nhà làm việc với nhóm người bên trong, Dinh ở ngoài nếp vào một góc im lặng để tránh sự dò hỏi, giấy tờ tùy thân anh cũng chưa lấy lại từ Lanh nên sẽ thật phiền phức nếu gây sự chú ý.

    Đủ mọi kịch bản chạy liên hồi trong đầu Dinh khi đứng ngoài đợi, gã liên tưởng đến một hội ma quái trong những quyển tiểu thuyết thao túng có thể gọi ma quỷ nhập vào để sai khiến, rồi hình dung rằng nhóm giáo phái này đã ăn sâu bám rễ ra toàn quốc chi phối mọi thứ, hay đây là một chi nhánh của một tổ chức còn lớn hơn như thế. Có một anh bạn của Bố trong đám thanh niên bước đến Dinh bắt chuyện, hai người nhỏ to vài ba chuyện, Dinh thắc mắc hỏi thêm với vẻ lo lắng về nhóm người trong ngôi nhà này. Anh bạn của Bố cười to rồi nói thầm vào tai Dinh,”Anh đừng lo bọn này lừa đảo thôi, người ở đây và cả chính quyến cũng ngứa mắt lắm, nhưng không có dịp và tìm không ra cớ để kiểm tra khám xét, để coi ông Bố ổng múa sao để hốt tụi này”. Nghe lời này của thanh niên kia cũng làm Dinh an tâm hơn, gã cũng không muốn dính vào mấy chuyện ly kỳ siêu thực lắm, làm gốm có vẻ nhân văn và hữu ích hơn mấy tranh cãi dây dưa vào mấy sinh hoạt mơ hồ kiểu này, nhưng nếu có cơ hội gã cũng muốn nghe tâm tư của mấy người tham gia vào mấy tổ chức thế này dù nghĩ chúng thật phiền phức.

    Sau hơn 30’ thì từ trong nhà đi ra bốn người, Bố cùng Phi và một người đàn ông ngồi xe lăn được công an dẫn ra bên ngoài, bên trong viên chỉ huy còn ở lại với hai thuộc cấp của anh ta. Người công an đi ra lệnh giải tán đám thanh niên và chỉ nhắc nhở vì chung quy cũng không có xô xát và không mang hung khí gì nguy hiểm. Anh ta quay sang nói với Phi sẽ đến nhà lấy lời khai sau, bảo cô quay về nhà đợi trước. Mọi thứ đều êm xuôi, duy chỉ một thứ lạ khi người công an có vẻ là phó chỉ huy ấy lại vỗ vai rồi tạm biệt Bố, họ còn hẹn nhau gặp sau nữa, Dinh nghi ngờ tên Bố này đã làm gì đó mờ ám. Bố chạy lại chào đám thanh niên, họ còn rủ nhau đi nhậu vào một dịp khác, Dinh thật sự chẳng rõ là có chuyện gì trong mớ hỗn độn này. Bốn người bọn họ cùng nhau quay về, trên đường họ ghé qua phòng khám thú y thì được biết chú chó già đã được gây mê để phẫu thuật vì phát hiện nó bị xuất huyết bên trong, cô trợ lý thông báo đã gọi cho bác Tư và sẽ thuê xe chở nó về khi nó hồi phục tỉnh lại nên họ rời đi.

    Nhà của Phi nằm trong con hẻm cách chỗ giữ xe máy cày 200m về phía ngược lại với phòng khám, nó nằm trong một khu hành chính của thành phố nên mọi thứ sạch sẽ ngăn nắp và yên tĩnh hơn so với khu vực chợ vừa rồi.”Màu sắc quần áo của Phi quả là hợp với không khí khu vực này”, Dinh nhìn quanh nghĩ như vậy. Trên đường về họ chẳng nói gì, ai cũng quá mệt với tình huống xảy ra vừa rồi, cảm tưởng sự hồi hộp của họ đã xài hết cho tuần này. Phía trước nhà hai vợ chồng họ là hàng cau đuôi chồn với dàn phong lan bám trên thân, bên dưới gốc là nha đam loại bẹ to mọc chen nhau rất tốt, giữa sân nhà là cây si lớn xõa bóng mát như làm dịu đi cái oi bức giữa hai vợ chồng họ. Nhìn tình cảnh của họ hiện tại mà duy trì được sự ngăn nắp sạch đẹp như vậy có vẻ họ phải có nền tảng gia đình hai bên rất tốt hoặc Phi phải rất giỏi dang mới làm được như thế này, Dinh ngó ngang ngó dọc quanh nhà nghỉ. Vừa vào nhà bác Tư đã gọi cho Bố hỏi thăm, bác dặn cứ đi làm việc của mình khi nào chú chó tỉnh lại phòng khám sẽ đưa nó về, Bố kết thúc cuộc gọi bằng câu nói:”Hai vợ chồng nó về rồi, để con đi lấy đồ cho bác”. Trước khi rời đi Bố quay người chỉ vào mặt người chồng rồi bảo:”Mày sống cho yên phận mà thương nó”, Phi hét lên đuổi Bố ra ngoài, anh ta nói Dinh ở đây đợi một chút, anh ta phải đi mua vài món đồ lặt vặt cho bác Tư sẽ nhanh quay lại rồi cả hai cùng về. Phi mang lên cho vị khách một ly trà đá và một ít bánh ngọt, cô bảo phải làm việc nhà do sáng giờ chưa làm được gì, ngoài ra cô phải đi soạn mấy cái tạp dề đã may xong mà bác Tư đặt cho lễ hội.

    Dinh đẩy người chồng ra dưới gốc cây ngồi cho mát, mắt anh ta như chẳng nhìn vào đâu cả, trông không sầu bi nhưng lại một chút chán ngán việc sống của mình. Cũng phải thôi, trên tường nhà khi nãy Dinh để ý có treo hình anh ta cách đây chắc chỉ vài năm, trông phong độ và sáng sủa lắm, dường như còn có tấm họ chụp ở khu vườn Tuileries với hai hàng cây đặc trưng. Bất kỳ ai đột nhiên bị cuộc đời ngược đãi sau một giai đoạn dài ân sủng đều khó lòng chấp nhận, mọi đức tin và lý lẽ đều đổ sập dưới chân. Một kẻ đang chu du trên biển lớn bằng con thuyền kiên cố, thình lình bị ném khỏi thuyền, bơ vơ giữa bao la trơ trọi, không một thanh gỗ để bám trụ, thật không hình dung được họ phải trải qua cảm giác như thế nào. Biển không thay đổi nhưng ánh mắt nhìn của người hoàn toàn khác đi, Dinh ngẫm nghĩ đặt bản thân vào tình cảnh của anh ta không biết gã sẽ thế nào.”Không biết có giống với lúc mình đang mong đợi về quê tắm sông cùng con chó rồi chẳng bao giờ gặp lại nó nữa, mà nó tên gì nhỉ, dường như mình chưa bao giờ đặt tên cho tụi nó thì phải”, gã nhớ lại cảm giác lúc đó tìm xem có gì đó có thể tương đồng cảm thông với con người đang lay lắt sống trên chiếc xe lăn bốn bánh này không. Gã nhớ rõ lúc ấy im lặng chẳng muốn nói gì, nhưng cảm giác những gì xảy ra xung quanh rất rõ. Những an ủi của mẹ, đám bạn ráng bày trò nói chuyện, không khí ấy thật làm gã buồn nôn. Chẳng ai hiểu cảm giác lúc đó cả, mất đi một người bạn thân thiết, một cảm giác yêu thương hồn nhiên hiếm hoi còn sót lại, vậy mà mọi người muốn gã nhanh chóng vượt qua để lao vào niềm vui cùng họ, có gì vui sau đó đâu kia chứ.”Nếu ngày đó họ chỉ cần để mình yên vài hôm, có khi nào mình trở thành con người khác không, khi ở lại với niềm thương tiếc thuần khiết ấy, bây giờ gã còn có khuynh hướng trốn chạy như bao kẻ khác không”, Dinh ngồi nhìn người chồng và nghĩ về chuyện đời mình. Gã quyết định chẳng hỏi thăm an ủi gì cả, gã uống nước và ăn bánh rồi tận hưởng bóng cây cùng anh ta, dù không rõ anh ta còn có thể tận hưởng sự mát lành từ cây và tình nghĩa của người đàn bà trong nhà đang chật vật kia không.”Mình đang thắc mắc về anh ta hay về chính mình, mình có bao giờ để tâm thật sự tới gia đình chưa ?”, gã lại nhớ về người vợ mình ở nhà, nghĩ đến cái nóng trong bếp mà cô phải chịu suốt những năm qua và cả cái lạnh từ chính gã. Một người đàn bà phải chấp nhận cả hai thứ nóng lạnh như vậy, gã thở ra một hơi thật sâu cảm thán.

    “Tôi chỉ nuôi hy vọng trở lại bình thường mà thôi”– Người chồng đột nhiên mở lời, mắt anh ta vẫn như không trụ vào đâu mà trôi dạt một miền quên lãng nào đó.

    “Bác sĩ nói thế nào”– Dinh thật sự không muốn an ủi anh ta, gã hỏi với một chân tình thật sự, bổng gã thấy nhẹ lòng vô cùng, gã đã không còn cố gắng dỡ trò cảm thông nữa.

    “Bọn đó chỉ biết tiền tiền, chúng có quan tâm gì tôi đâu”– Anh ta bổng lên giọng rồi ghịch ghịch hai thanh để tay của xe lăn.

    “Anh có quan tâm gì người đàn bà kia không ?”– Một phần trong Dinh không thoải mái với câu phán xét về bác sĩ trên vì gã có người chị làm bác sĩ và đó là một người làm nghề tốt bụng.

    “Quan tâm thì tôi mới lăn lộn tìm cách hồi phục”– Anh ta quay sang nhìn Dinh, anh mắt đã có chút cảm xúc, giọng cũng bớt gắt gỏng đi một chút.

    “Anh có trao đổi cùng cô ấy về bệnh tình và phương pháp điều trị không ?”.

    “Họ coi tôi như một tên phế thải, khù khờ cứ ra lệnh phải làm thế này thế kia”

    “Với tình cảnh của anh hiện giờ nghe lời một chút cũng chẳng chết đâu, tôi có một đứa em gặp tai nạn ô tô cụt một chân, nó bảo tôi, một thằng què thì nên ngoan ngoãn một chút để người ta thương thì chẳng có gì là sai hay kỳ thị cả. Tôi không nói là anh phải giả bộ hèn hạ mà thực tại nó là như vậy, anh cần được giúp đỡ tại lúc này, như tôi cũng cần giúp đỡ của bác Tư và mọi người nơi đây”.

    “Mà anh lại ai, bồ mới vợ tôi hả”.

    “Trời đất, đâu ra vậy cha nội, tôi là khách của bác Tư”.

    “Tôi chưa thấy anh bao giờ, tôi hỏi vì gần đây tôi thấy cô ấy biểu hiện lạ, hay về khuya và đọc tin nhắn cười cười”– Anh ta thở dài ra trong khi nhắm mắt lại.

    “Tôi chỉ là một gã lạc đường ở nhờ vài hôm. Mà cái hội anh tham gia là thế nào, tôi tò mò thôi chứ không có ý phán xét”– Dinh cố tình tránh né những nhận biết về biểu hiện lạ của vợ mình từ phía anh chồng, dẫu sao đó không phải việc của gã.

    “Tôi chỉ tụ lại với họ để được nói chuyện thôi chứ mấy trò ma quỷ đó tôi không tham gia, chỉ là Phi tưởng tôi bị bắt đi trừ tà, đúng là họ có mấy trò đó nhưng tôi cũng đâu có mất trí, đúng là đôi khi tôi hơi lơ mơ nhưng không khờ dại gì sau đợt bệnh đó cả”– Anh ta khoác tay tỏ vẻ có chút bực mình.

    “Vậy sao nghe nói có dấu hiệu lừa đảo là sao, hay họ vòi tiền trị bệnh ?“.

    “Các người không rơi vào hoàn cảnh này nên không hiểu nổi, mấy người vào đó không chỉ là họ hết hy vọng rồi quẫn trí làm điên làm khùng, mà ở nhà họ bị xa lánh nói gì ra thì cũng bị coi như bệnh tật khùng điên, người nhà bảo chăm sóc tận tình lắm nhưng thật ra có ai bỏ hết tất cả để đi sát bên cạnh trị bệnh cho họ đâu, toàn giả dối. Rốt cuộc họ cũng phải tìm cách khuây khỏa, họ và tôi trả tiền để mua người nói chuyện, như các anh bỏ tiền đi nhậu thôi, khác gì nhau”– Thật tình trong giây lát Dinh cũng có chút đồng tình thậm chí là thấy lời anh chồng rất thuyết phục.

    Từ phía sau lưng, Phi bước chậm rãi lên trước mặt chồng mình, cô nhìn gã chầm chầm vài giây rồi tát gã một cái, vừa tát mà cô lại khóc như cô đang đánh chính mình vậy. Cô đi đi lại lại như đang không biết làm gì tiếp theo, không biết đâu là đúng sai đâu là việc nên làm. Đầu gối cô trầy xước đỏ hoe còn một chút máu chỉ vừa mới đông lại, nhưng vết thương bên trong dường như đang mở ra toang hoác không sao khép lại được. Cô đi vào trong nhà rồi lục tìm gì đó trong ngăn hộc bàn, tiếng giấy lột xột trong phẫn uất nghe rất rõ, còn bên ngoài thì tay người chồng run, miệng sụt sùi như đang cắn răng muốn hét nhưng cố nén lại. Cô bước ra ngoài vứt đống giấy tờ vào đùi của chồng mình, cố hít một hơi thật sâu, tay gạt nước mắt, cô muốn bình tĩnh mà nói ra sự thật, cô không muốn bị kẻ khác cứ xoa dịu cô rồi khuyên răng hãy bình tĩnh nữa, cô muốn nói mình đang rất bình tĩnh.

    “Anh bảo mọi người giả dối coi thường anh à, xem đi anh đã bỏ lỡ bao nhiêu buổi tập vật lý trị liệu. Đây hóa đơn tiền điện thoại của anh , cả ngày anh nằm cắm mặt vào nó, anh coi gì đừng tưởng em không biết. Còn kê khai này là chuyển khoản cho giáo phái kia, anh bảo tiền trả cho trò chuyện sao, một cuộc tâm sự của anh thật sự đáng giá cả tháng may vá của bao nhiêu con người ở xưởng may nhà mình hả. Anh đã xảo biện thì em cho anh xem luôn, hình này là người ta chụp được anh đang phì phà cái gì hả, ai đang ngồi trên đùi anh cười cợt kia, anh xem cho rõ đi. Em bỏ qua chuyện này không phải vì em không hay biết, cũng không phải vì thương hại anh, mà là hy vọng, hy vọng từ cái tình yêu thời trẻ, tình nghĩa từ những ngày mình làm vợ chồng. Anh thì sao, anh mất niềm tin em hiểu chứ, dễ dàng gì đâu, nhưng anh nghĩ bất hạnh chỉ có mình anh thôi sao, anh nghĩ khổ đau này từ ai mà ra, em hay ông trời, xã hội tàn nhẫn giả dối sao, anh tìm ra nguồn gốc thống khổ thì nó có biến mất không, nó có tự nhiên tan biến không. Mọi người khuyên anh cố gắng thì anh coi đó là thương hại giả dối, em nhắc lịch uống thuốc rồi tập trị liệu nhắc anh trên điện thoại để em còn phải đi làm kiếm tiền, anh nghĩ thuốc men anh rẻ lắm sao, vậy mà anh còn trách móc mọi người không sát cánh cùng anh, vậy vai trò của anh trong chính cuộc đời khốn cùng này là gì. Là cầu nguyện cùng đám lợi dụng moi tiền anh rồi anh gọi chúng là những người thấu hiểu sao, là khuây khỏa trong phê pha gái gú rồi anh ngụy biện anh giải trí như bao người à ít nhất anh cũng phải thấy ngần ngại khi xài tiền mình không làm ra chứ. Em nói cho anh biết, cha mẹ anh đã không còn gửi tiền về hơn nửa năm nay rồi, anh nghĩ em in tiền được sao. Nếu anh cười nhạo gió trăng, xem thường thế sự, ngó lơ với vật chất thì những thứ anh đang lao vào không phải vật chất thì là gì, không phải trăng trong hồ bóng trong gương thì là gì. Tỉnh lại đi anh, em đợi anh tỉnh lại rồi mới nghĩ tới chuyện chia tay, không phải em cam chịu đâu mà đơn giản là không nỡ, em không thể làm được. Tỉnh lại đi anh, anh khỏe lại hẳn rồi mình chia tay, giờ thì không”.

    Nước mắt của Dinh rơi xuống, gã chỉ là người ngoài cuộc mà lại rơi lệ. Đó không phải là sự thương xót cho người đàn bà, một con người như Phi mà tỏ ra xót xa cho cô thì chẳng khác gì sỉ nhục cô, đấy là dòng nước mắt của sự choáng ngợp. Lời của Phi đẫm tình người nhưng lại không ủy mị, lý trí nhưng lại dạt dào xúc cảm, gã khách phương xa không rõ có thể đọc được nó ở bất kỳ truyện nào không nữa. Dòng thác của Phi kết thúc bằng một câu kỳ quái mà anh chưa nghe thấy bao giờ,”Tỉnh lại đi rồi mình chia tay”, gã không thể diễn tả nó bằng ngôn từ nào nữa, Dinh chỉ rùng mình nổi gai óc rồi rơi nước mắt trong lặng thinh. Dứt lời sau đó vài phút, Phi quay sang xin lỗi Dinh, cô mang đống giấy tờ vào trong nhà rồi vô phòng mình đóng cửa lại, bỏ lại hai gã đàn ông đang mất hồn.

    “Nhiều lúc tôi muốn tự sát”– Người chồng gục mặt nói thầm trong miệng.

    “Anh biết không, những người muốn chết họ cứ thế âm thầm mà biến mất, như cha tôi vậy. Hồi trẻ tôi nghĩ ông ta vô trách nhiệm nhưng càng ngày tôi thấu cảm được phận làm người, tôi hiểu ra ông ta đã phải vật vã đối mặt khổ đau, tôi không thông cảm cho lão đâu tôi chỉ hiểu mọi việc chẳng dễ dàng gì. Anh đang có một người đàn bà phi thường sẵn sàng dẫn anh qua hố sâu, anh cần gì đến thần thánh siêu nhiên nào nữa, cứ đi theo cô ấy, chẳng có gì xấu hổ khi đi theo một người đàn bà như vậy cả. Hãy vượt qua giai đoạn khó khăn này để tự giải thoát cho chính mình giải phóng cho người đàn bà anh đã từng yêu thương, tôi không dạy dỗ anh đâu, tôi đang tự chất vấn mình đấy. Khi anh nói anh muốn chết, tôi biết anh sẽ còn sống lâu đấy, vì anh có một người vợ đáng quý bên cạnh. Đừng hiểu lầm dùm tôi cái, tôi không có ý gì cả, tôi sẽ sớm biến khỏi đây thôi”.

    Người đàn ông trên xe lăn nở một nụ cười rồi chia tay ra bắt tay gã, Dinh đứng lên rồi lấy hai tay vỗ lên hai vai người chồng nói”Cố lên”. Cả hai người ngồi dưới bóng cây si, không khí giờ đây đã thật sự mát lành lên một chút, bên trong lẫn bên ngoài, chỉ là không biết nó duy trì được bao lâu mà thôi, trời tối rồi lại sáng kia mà. Họ kể nhau nghe về đủ thứ chuyện, câu chuyện không phải lúc nào cũng dễ chịu vui vẻ, nhưng sự cởi mở này phần nào đó giúp ích cho cả hai, kẻ tìm nguồn năng lượng để sống tiếp còn người đang đào bới để hiểu hơn về đời mình. Có lúc họ cười, có lúc mắt lại đỏ cay, họ vỗ vai nhau rồi thở dài một tiếng cho nhẹ lòng trong một chốc.

    Sau ba mươi phút đi mua đồ, Bố quay lại với lỉnh kỉnh vật dụng trong tay, anh ta vừa bước vào thì nhanh miệng gọi hỏi Phi về mấy cái tạp dề rồi nói Dinh bước vào nhà lấy. Phi có vẻ đã ngủ sau một buổi sáng chồn chân mỏi gối, cũng có thể đang tự tiêu hóa những gì mình đã nói ra, Dinh đoán như vậy khi không nghe Phi đáp lời. Trước khi đi Bố còn dằn mặt người chồng lần cuối:”Ráng mà sống cho đáng hoàng, tao không cần biết mày một chân một mắt hay một mạng, ai cũng khổ hết, làm điên là tao sẽ dứt mày không thương hại cái mẹ gì hết, nghe không hả”. Người chồng quay mặt đi chỗ khác nhưng lần này trông anh ta không còn bị kích động, dẫu sao cũng không thể thay đổi một con người với vài từ ngữ. Dinh và Bố chia ra vác đồ đi ra chỗ để xe máy cày, trên đường đi Dinh thấy chiếc máy cày trở nên đáng giá vô cùng, không hiểu sao cái cảm giác được ngồi trên thùng xe nhìn ngược chiều xe chạy nó lại trở thành điều mong mỏi nhất của gã trung niên.”Hay là về đây học bác Tư làm gốm”suy nghĩ ấy lại âm vang trong đầu, nhưng sau đó lại là hình ảnh bà chủ Quán Rụ nhỏ.

  • Nhìn xung quanh để hiểu mình

    Con đường về nhà cũng chẳng có gì thay đổi, chỉ hai bên đường nhiều người hơn và nhiều cái vẫy tay chào nhau hơn. Chú chó già vẫn còn tỉnh táo nhưng có vẻ như đang rất mệt, vai bác Tư đã được Bố chỉnh khớp lại nên đã bớt đau hơn. Về đến nhà bác Tư thì cũng đã sắp giữa trưa, mặt trời đã lên cao, bên kia hồ đang có ai đó chèo thuyền câu cá, bọn gà đang quậy tung tóe lên vì chú chó vắng nhà, ngoài sân có một chiếc xe đạp cũ của ai đó vừa đến. Đó là Gấm, hôm nay chủ nhật cô bé không đi học, chắc là đến đây để tránh lời chí chóe với ông anh trai mà cô xem là ngốc nghếch. Vừa chạy ra khi xe máy cày tắt máy, cô bé mặt bỗng mếu máo khi nhìn thấy con chó già bị thương, cô chẳng nói chẳng rằng tự bồng nó vào nhà nằm chỗ tấm thảm xơ dừa. Bác Tư vào nhà gọi điện cho thú y nhưng họ bảo hôm nay chủ nhật nên chiều tối họ mới ghé được, mọi người đều lo lắng cho chú chó, một người bạn vui vẻ trung thành của họ và cả với người khách lạ. Bố nói với bác Tư là kiểm lâm nói trên kia xả lũ mà không báo trước nhưng một lát xế họ đóng đập, họ quyết định đi lên khu vực khác để lấy đất rồi xế chiều ghé lại chỗ con suối lúc sáng. Bác Tư nhờ Gấm và Dinh coi nhà rồi chăm sóc cho chú chó đợi chiều bác sĩ sẽ đến khám, hai người họ đều đồng ý.

    Gấm lấy gối nằm xuống cạnh chú chó vuốt ve nó,”ngoan nha chiều người ta tới khám cho, khỏe lại còn tiếp khách tới đốt lò như mấy năm trước đó”, cô bé nói với nó như vậy. Dinh thì lục tìm một ít đồ ăn để nấu bữa trưa, gã nhớ ra con cá hôm qua còn rọng trong lu ngoài chuồng gà nên ra đó để mần cá. Gã trung niên đứng nhìn con cá đang bơi, hắn thoáng một chút do dự.

    “Chú làm được không đó, hay lại tội nghiệp như mấy bà chị họ ngoài thị trấn lớn của con, tội xong mình mần họ lại ăn ầm ầm”– Gấm đứng sau lưng có vẻ cười cợt.

    “Tội chứ con, nhưng tội một biết ơn chín”.

    “Lại cái giọng điệu của dân thành thị rồi”– Cô gái trẻ tỏ vẻ không thích luận điệu của gã trung niên, cô quay lưng định đi vào nhà.

    “Hồi nhỏ ở quê mẹ chú dạy chính vì tội và biết ơn nên phải ra tay dứt khoát để chúng không đau đớn. Mẹ chú nói cũng như bất kỳ việc gì trong đời, hoặc chấm dứt hoặc thả cho nó ra sông bơi đi mà không bận lòng gì, day dưa sẽ khiến hành động của mình không tới nơi tới chốn, nửa vời, có khi làm kẻ khác đau đớn. Bởi vậy chú đang nhớ lại xem mần cá như thế nào để kết liễu nó nhanh và chính xác”.

    “Nghe có vẻ giống chuyện của cháu và chị Phi”– Gấm đứng đó một hồi rồi nói.

    “Có phần giống, nhưng thôi lát nói chuyện sau giờ chú sẽ nấu ăn cho hai đứa đây”

    Cô gái trẻ lặng lẽ bước vào nhà để gã trung niên ở lại cùng mớ đạo lý mần cá của mình, cô không thoải mái tí nào với những lời nói ấy của gã, nhưng đúng là có gì đó lay động lắm. Cô đi lấy nước cho chú chó uống và dỗ dành nó, cô thì thầm kể cho chú chó nghe chuyện gì đó rồi tự cười vui vẻ. Một hồi sau Dinh cũng làm xong cá, gã mang vào nhà nhờ Gấm phụ mình chuẩn bị bữa trưa. Họ làm món cá chiên ăn cùng rau luộc, họ dọn ra bàn rồi gỡ cho chú chó ¼ con cá đặt cạnh nó, một bữa ăn giữa những người vài hôm trước còn chẳng biết về sự tồn tại của nhau trên đời. Lạ lại hay, lạ chẳng nhìn nhau với định kiến, lạ sẽ tìm hiểu nhau, đặt nhiều câu hỏi hơn là mặc nhiên, nếu mọi người giữ được trạng thái lạ này với những người quen xung quanh mình thì tốt biết bao nhiêu, cô gái trẻ thầm nghĩ khi đang ăn cùng vị khách lạ. 

    “Cháu có biết ai đang câu cá trên hồ không, chú thấy họ ở đó cũng lâu rồi”– Dinh vừa bới cơm cho Gấm vừa nhìn về phía hồ hỏi.

    “Đâu có ai, lúc cháu mới tới đâu có thấy ai”.

    Gã trung niên nhìn kỹ lại thì trên hồ đã không còn ai nên gã cũng không hỏi thêm nữa. Dinh kể lại câu chuyện hôm nay cho cô gái trẻ nghe, cô ngồi xuống vuốt đầu con chó già, nó vẫn chưa chịu ăn gì, kiến đã bò vào trong chén cá họ gỡ cho nó, cô mang lên cất đậy nắp lại để dành một lát xem sao. Gấm kể cho vị khách mới quen về tối qua, cô bảo anh cô sẽ còn lèm bèm lâu lắm, nhưng tính khí của anh cô hiểu rõ, nhìn vậy thôi chứ mau cho qua và cũng thuộc dạng nhanh chóng phớt lờ kẻ khác. Họ không hỏi gì thêm chuyện cá nhân mà trò chuyện với nhau về âm nhạc, phim ảnh, chỉ là kể lại những thứ họ thích. Dinh bất giác cảm thấy kì lạ, sao gã lại cởi mở như vậy trong khi mỗi lần nói chuyện cùng đứa con gái thì lại chỉ toàn là chủ đề tương lai sự nghiệp, thứ mà ngay cả bản thân gã cũng không thể chắc chắn và đang cảm thấy bất an về nó. Gã nhận ra có một cái rào cản như tự động bật ra, một bức tường ngày một dày lên do chính bản thân gã xây nên năm này qua tháng nọ.”Mình đá chán chường vậy mà lại muốn quăng con mình vô cái hồ chán chường ấy”, Dinh nghĩ vậy khi nhìn gương mặt rạng ngời của cô gái trẻ miền sơn cước kể về mong muốn thay đổi cách làm nông lâm của người quanh cô.”Sao chúng ta không thể duy trì đức tin vào lẽ phải ấy khi về già, có phải chính vì ta không đủ can đảm để thực hiện nên đã hèn hạ quay lại phỉ báng những điều thiêng liêng và coi rằng nó không tồn tại”, gã chất vấn khi nhớ lại tiếng gào thét của chính mình trên con thác dữ lúc ban sáng. Ở nơi đây có cái gì đó làm hắn dày vò tâm can, nhưng cái dày vò này lại trong sáng, nó âm ỉ len lỏi vào bên trong nhận thức sâu nhất của sự hiện tồn, chúng không phải sự dày vò đay nghiến mà gã gặp trong những năm tháng qua.”Thật kỳ lạ khi sự dày vò cũng có nhiều tính chất như vậy”gã nghĩ khi đang rửa chén dĩa sau khi ăn xong. Tiếng chuông điện thoại của Gấm vang lên làm mạch suy tư của Dinh lặn xuống một lúc, cô gái trẻ nói gì đó về chuyện giao hàng và kể về lễ hội làm gốm sắp đến. 

    “Con bán mấy món gốm cho ông Tư trên online ấy mà”– Thấy Dinh nhìn mình có vẻ tò mò nên cô tự nói ra, cô đã cảm thấy quen hơn với sự hiện diện của gã.

    “Bán thế nào ?“.

    “Thì chụp hình tạo fanpage, con hỏi giá ông Tư nói bao nhiêu thì con để giá tăng 20% hehe”– Cô gái trẻ cười có một chút gian xảo nhưng một chút lại ngại ngần có lỗi. 

    “Ông Tư có biết không”.

    “Không cháu chỉ nói là người quen mua, nhưng không sao đâu, ông Tư có biết chắc cũng bình thường”– Gấm tránh ánh mặt của Dinh. 

    “Nhưng sao phải dấu”.

    “À ông Tư hay nói hoặc làm cho, hoặc chỉ bán cho những người ông biết hoặc hiểu việc của ông, nếu cháu kể có khi ông không chịu”.

    “Cháu cảm thấy sao khi giấu giếm”.

    “Nói thiệc là cũng hơi khó chịu, nhưng cháu nghĩ mình dùng tiền đó để mua sách thì cũng tốt, cháu không dùng nó mua linh tinh”.

    “Có khi nào cháu đang sợ nói sự thật mình sẽ mất cái lợi cho mình rồi ngụy biện sau đó im lặng không, chú không có ý phán xét, thật ra bản thân chú cũng thường xuyên đứng trước những lưỡng lờ tương tự”.

    “Chú nói đúng, sự khó chịu nó vẫn ở đó, có khi ông Tư không khó chịu như cháu nghĩ”– Gấm im lặng một hồi lâu rồi mới lên tiếng.

    “Quan trọng nhất là gì cháu biết không, đây chỉ là chú kể trên bản thân mình thôi, cháu sẽ quen với hành vi che đậy, dần cháu sẽ cảm thấy ổn hoặc tệ hơn là mình đang làm việc tốt. Như một kẻ vào nhà thờ ăn trộm quyển kinh thánh về cầu nguyện vậy”. 

    Dinh vừa dứt lời thì cả người hắn rùng mình nổi hết da gà, những lời vừa rồi không phải của gã, giống ai đó thông qua gã để nói về chính bản thân gã vậy. Gã trung niên ngồi xuống ghế sofa, nhìn miệng cô gái trẻ nhấp nháy mà không còn nghe thấy gì trong giây lát, những lời nói sáo rỗng bưng bít cho sự xấu xa của chính gã ùa về như cơn lũ sáng nay. Lạ thay, giống như cơn lũ ấy, cảm giác khi nó đến thì nặng nề nhưng khi trãi qua và nhìn thẳng vào nó, chúng lại biến mất để lại một sự nhẹ nhõm kì lạ, như ai đó đã cấy vào người gã một điều gì đó vô cùng mới mẻ vậy. Gã nhìn sang cô bé đang nằm bên cạnh chú chó sau khi nó đã chịu ăn ít cá, cô kể nó nghe về chuyện cô quan tâm Phi như thế nào mà không quan tâm gì đến sự có mặt của gã, thật là một cảnh tượng đẹp đẽ đến lạ thường. Tự nhiên và thoáng đạt như bầu trời trong xanh mùa hè hôm nay vậy. Cô kể được vài chuyện thì ngủ thiếp đi, tay đặt lên hai bàn chân của con chó già, cả hai chắc là đang cùng mơ một giấc mơ, mơ về ngày chú chó khỏe lại chơi đùa cùng mọi người.

    Gã trung niên nhìn cô gái trẻ và nhớ về những ưu tư mơ ước thời trẻ của mình, tự hỏi chúng đã lạc nơi đâu trên cuộc đời này. Trước ngày cha gã bị lòng tham dìm chết trong những đụn cát, gã nói với cha mẹ mình muốn mở một quán ăn, mà ở đó những thứ lặt vặt đều có sẵn ở xung quanh, như cây chanh cho tô phở ở tiệm của Lanh vậy. Dinh nghĩ về những chất chứa suốt những năm qua của Lanh, một người đàn bà xinh đẹp, can đảm chờ đợi điều gì cũng chẳng rõ. Gã lại nhớ về mẹ và vợ mình, đàn bà quả là đại diện cho cái đẹp, nét đẹp này nó rộng lớn hơn vẻ bề ngoài mà xã hội này đang theo đuổi. Lòng kiên định, thủy chung, can trường chờ đợi bây giờ lại bị nhìn dưới sự bĩu môi và coi là ngu xuẩn. Vì sao nàng Tô Thị lại biến thành đá, vì đá là biểu trưng cho sự trường tồn, vững chãi, bền bỉ trước phong ba bão táp, và chỉ có con người tự do thật sự mới đủ sức theo đuổi những giá trị vĩnh hằng này. Nghĩ đến đây nước mắt gã bỗng rơi xuống, không ào ạt nhưng lại rỉ rả không sao ngăn được. Thế nhưng chen vào mắt gã không chỉ có những giọt nước rơi ra từ xúc cảm, mà rơi vào tầm mắt gã lúc này là một người câu cá bên kia hồ. Gã trung niên không còn kiềm chế được tò mò nên quyết định đi ra ngoài xem sao.

    Gấm vẫn còn đang ngủ cạnh con chó già bị thương, Dinh nhẹ nhàng đi lấy cần câu cá dựng gần chuồng gà rồi đào vài con trùng quanh đường nước thải. Gã chạy vội lên chiếc thuyền mà quên không đội nón và xô đựng cá. Chiếc thuyền con đằng xa chỉ quanh quẩn hòn đá to gần đó, người ngồi trên đó thì đội chiếc nón lá và quay lưng lại không thấy mặt. Càng tiến lại gần người này tự dưng bên cánh rừng có đám sương mù kéo ra mặt hồ, sương mù vào lúc trưa thì thật là lạ, gã nghĩ vậy nhưng vẫn tiến về phía đó. Mặt trời buổi trưa làm bừng sáng đám sương mù nhưng cũng làm gã không nhìn vì một chút lóa mắt, dẫu vậy vẫn thấy trên thuyền đó là một ni sư nhỏ nhắn, hóa ra là người gã gặp trước khi trận lũ kéo xuống.

    “Chào ni, may quá người không bị cuốn vào cơn lũ lúc sáng, tôi cố đi tìm và lo lắng mãi”– Dinh không chắc chắn đây là cùng một người, nhưng sau khi ni sư quay nửa người lại nhìn thì gã đã nhận ra nốt ruồi bên đuôi mắt trái. Trong lòng gã nhẹ nhõm vô cùng vì người này còn sống.

    “Mừng cho anh vì đã lắng nghe chính mình”– Vừa nói vị ni sư vừa kéo dây câu, bên dưới chẳng có lưỡi hay mồi câu, chỉ một sợi dây cước trống trơn.

    “Cần câu của ni lạ quá, người làm tôi nhớ Khương Tử Nha chờ thời”– Dinh nói dứt câu thì bên dưới mặt nước chiếc phao câu của gã đang nhịp nhịp rất mạnh.

    “Ta không chờ thời, mà đến đây để đợi một người bạn cũ, anh hãy cẩn thận với những gì mình câu được đấy”– Vị ni sư vừa cất cần câu lên thuyền thì gã trung niên cũng có cá ăn mồi.

    Cá đã cắn câu kéo đi rất mạnh, Dinh đứng lên thuyền thủ thế kéo nó lên vì đấy là con cá to. Dây câu cọ vào thành thuyền gỗ quặt qua quặt lại kêu lộc cộc, kèm tiếng chân gã dặm trên thuyền do xiểng niểng vì con cá quá khỏe. Biết mình không đua sức được với nó quá lâu, gã quyết định thử vận may giật một lần thật mạnh lôi nó bay lên thuyền. Gã ngồi xuống hai chân dặm vào thành thuyền, lưng tựa vào bên còn lại, uốn cong người để có thêm lực phần thân trên. Dùng hết sức bình sinh kéo thật mạnh một phát, dây câu bay thẳng lên không trung nhưng lại chẳng thấy cá đâu, lưỡi câu bị đứt mất luôn theo con cá sẩy. Vì quá mệt nên gã nằm dài ra luôn trên thuyền, mặt trời cũng vào khoảng 2h trưa, vài chú chim bay bay quanh trên đầu. Gã nhớ về cái lần mình cầu hôn vợ mình, là một buổi sáng mùa xuân, họ đi du xuân cùng nhau rồi đi thuyền có hình con vịt trên cái hồ trong khu du lịch cạnh một ngọn núi. Khi cả hai đạp ra giữa hồ, lúc ấy mặt hồ vàng rực hoa tràm rơi rụng, vài con chim én liệng trên đầu đang chào nhau, gã lấy hết can đảm cầu hôn. Thật hài hước khi lúc ấy gã còn dọa nếu không đồng ý sẽ không đạp vào trong nữa, thế rồi phi vụ đó cũng thành công quanh tiếng reo hò của những đôi tình nhân quanh đó. Còn giờ đây, nằm trên chiếc thuyền giữa hồ, gã cũng không muốn chèo vào trong nữa, nhưng đây không còn là dọa mà là mong muốn thật sự lúc này, cứ thế này lại hay. Dinh nằm đó bao lâu rồi cũng không rõ, từ trong bờ có ai đó gọi lớn, không hẳn gọi tên hắn mà là hú thì đúng hơn. Gã bật dậy rồi lại nhớ ra vị ni sư, nhìn quanh thì chẳng còn thấy, chiếc thuyền cũng mất đâu không còn cặp bờ bên kia, nhìn vào trong nhà bác Tư thì Gấm đang đứng đó cùng Lanh vẫy tay gọi.

    “Tưởng anh bị ngất xỉu hay gì rồi chứ, trưa nắng sao lại ra giữa hồ chi vậy”– Lanh kéo phụ giữ chiếc thuyền và neo nó vào cộc để Dinh leo lên bờ.

    “Có vị ni sư chèo phía bên kia nên tôi ra xem thử”– Dinh chỉ tay về phía tảng đá to bên kia hồ.

    “Ni sư ?”– Lanh nhìn sang Gấm ý hỏi có thấy không, cô gái trẻ trả lời là ngủ say nên không thấy gì, cô bảo lúc trưa cũng nghe Dinh hỏi có thấy ai trên hồ không.

    “Uh, người đó nói là đợi người bạn cũ nào đó, tôi câu hụt con cá to rồi nằm lăn ra thuyền, mơ mơ màng màng chẳng rõ bao lâu, thức dậy đã không còn thấy người đó đâu nữa”.

    “Quanh đây làm gì có chùa nào, mà thôi con bé nó phải về nhà bận việc cho thằng Khắc nó đi công chuyện nên tôi qua trông con chó già để chiều thú y qua, bác Tư chưa chắc về sớm vì phải đi gom đủ màu khoáng mới về được”– Lanh vừa nói vừa đưa chìa ổ khóa xe đạp mình cho Gấm vì xe cô bé để ngoài nắng bị xẹp bánh.

    “Cô về lo cho quán đi, tôi chăm nó được mà, lúc nhỏ tôi hay nuôi chó lắm”– Họ vừa nói chuyện vừa vẫy tay chào Gấm đang rời đi trên chiếc xe đạp của Lanh.

    “Không sao đâu, ở đây không ai chết đói khi bỏ làm một hôm cả. Mà anh nói hồi nhỏ hay nuôi, tức là có chuyện gì mà sau đó không còn thích nuôi chó sao”.

    “Không, tôi vẫn thích, mỗi lần đi dạo thấy tụi nó lửng tửng lòng tôi vui như Murakami thấy mèo vậy. Nhưng tôi không muốn nhìn tụi nó chết nữa”– Dinh và Lanh ngồi về hai bên phía cột cái chòi bên hồ, ánh nắng buổi xế chiếu li ti như những vì sao ban ngày, lâu lâu lại có một chú chim hót vang gọi bạn, mấy con cào cào đang nhảy lọt tọt bên phía bãi cỏ gần mép nước. 

    “Murakami là ai mà giống tôi vậy”.

    “À không chỉ là một gã chủ quán bar nhạc Jazz”.

    “Anh có nhớ tên tụi nó không, tụi chó anh nuôi hồi nhỏ ấy ?”– Lanh nở nụ cười rồi nhìn ra xa về phía bên kia rừng thông.

    “Nhớ hết, hồi 5 tuổi mẹ tôi phải lừa tôi là con Luốc đi lạc vì sợ tôi khóc khi biết nó bị xe tông chết. Tôi thật sự đã đợi nó suốt đến năm 7 tuổi, tình cờ mới nghe thằng hàng xóm khai ra. Lúc đó tôi còn khóc dữ nữa,, người lớn thật kì lạ sao phải lừa và không dám nói về cái chết cho con nít”

    “Vì họ đôi khi hy vọng những thứ mất đi sẽ quay trở lại, thói quen xấu đó giúp họ sống tiếp”.

    Cô đứng lên khoanh hai tay vào nhau đi vào nhà, gương mặt cúi xuống đất như không muốn ai thấy mình lúc ấy. Dinh nhận ra đã lỡ lời, gã đập tay lên trán rồi đi theo sau, muốn nói gì đó nhưng rồi lại thôi. Lanh vào nhà ngồi xuống cạnh con chó già, vuốt đầu an ủi nó, cô hỏi nó có nhớ chuyện này chuyện kia không rồi cô lấy thêm ít nước chế vào đĩa đặt cạnh chỗ nó nằm. Dinh thì đến lấy một quyển sách rồi ngồi xuống sofa đọc nhưng thật ra đang nghe mấy mẩu chuyện nhỏ Lanh đang nói cùng người bạn bốn chân. 

    “Nó giữ nhiều ký ức của mọi người nơi đây còn hơn từng người biết về nhau nữa đấy”– Lanh nói lớn hơn sau một hồi thầm thì với chú chó.

    “Tôi thấy ai cũng thương nó còn hơn một con chó”.

    “Vì nó làm việc mà chẳng đòi hỏi gì, thông minh được việc, quan trọng chắc là nó không nói gì, càng nói người ta lại càng chẳng hiểu nhau, thật lạ”– Lanh đứng lên pha một ít café cho cả hai.

    “Nhưng đôi khi không nói gì có khi lại càng tệ, nói ra có lúc lại tốt”– Dinh nhớ lại bầu không khí lạnh nhạt của gia đình gã những năm qua, hầu như mỗi lần họ mở miệng ra với nhau là chỉ toàn về công việc, tiền bạc, điểm số học hành, hoặc là chuyện của một kẻ xa lạ nào đó, chẳng mấy khi họ kể về những gì họ thật sự đang nghĩ, mà nếu có thì chỉ toàn là kết thúc trong cãi vả.

    “Cũng phải, đôi khi tôi cũng nói chuyện với hòn đá trên bàn thờ”

    “Ý cô là sao ?”– Dinh vờ như chưa hề nghe qua về chồng cô. 

    Người đàn bà bắt đầu kể về câu chuyện của người chồng mình, gã trung niên ngồi nghe lại cùng một câu chuyện nhưng ở một góc nhìn khác, cảm giác không giống khi nghe lúc sáng. Đôi khi những hy vọng dần cạn nhưng những mảnh ghép le lói được tìm thấy lại hồi sinh một tia sáng, sau đó mọi thứ lại vụt đi mất như ngôi sao chưa từng tồn tại trên trời. Có lúc tưởng chừng cô đã quen dần với cuộc sống mới thì những hình ảnh lờ mờ, những đồ vật quen thuộc, giọng nói hay gương mặt dường như thân thuộc lại dấy lên những khao khát được gặp lại, dẫu sao họ đã có những năm tháng tâm tình gắn bó cùng nhau.”Nếu dễ dàng vứt bỏ như vậy, con người sẽ vứt luôn cả phần người của mình trong chớp mắt”đó là câu tự sự của người đàn bà với điếu thuốc bí mật cháy dang dở trong tay, Dinh chỉ ngồi đó nghe, gã như được nhìn thấy một góc khác của những người đàn bà chân thật xưa cũ đã dần biến mất. Thời đại này con người đối đãi với chính mình thật lạ, họ che đậy, vẽ vời, tạo ra muôn vàn hình ảnh về bản thân, họ lạc vào một ngôi nhà cười với muôn vàn mặt kính vây quanh chỉ để nhìn mình biến dạng rồi cười cho khuây khỏa. Nếu không họ sẽ lại vứt bỏ tất cả, giả vờ thành thật, sống trong sự phóng đãng du thủ du thực, cuộc đời vô trụ với cái mác của tôn giáo hay triết học nào đó. Ai cũng tỏ ra là mình ổn và chắc chắn vào những chân lý vụn vặt, nhưng chuyện xảy ra trong đời họ là một đống những hỗn độn không sao thu xếp được. Gã trung niên khi nghe người đàn bà chân thành phơi bày tâm tư, gã chìm vào sự phỉ báng chính mình, cố tìm ra những điều gì là thật chất nhất về bản thân, xem mình còn cứu được không, còn sắp xếp lại phần người được hay đã mất luôn không bao giờ có lại. 

    “Có khi nào cô tức giận bác Tư vì chuyện đó không”– Dinh chợt nghĩ tới rồi hỏi luôn.

    “Hồi đầu thì có, đôi lúc tôi còn muốn phá tan mấy món gốm rồi hét lên rằng những thứ vớ vẩn này mà làm mất đi một con người. Nhưng càng ở gần bác tôi nhận ra bác coi công việc ấy như sinh mạng mình, nó là tất cả còn lại với bác, bác xem nó như đứa con, nguồn sống của mình vậy. Nên nếu tôi đập phá hay giận bác thì tôi cũng khác gì kẻ giết người hay tệ hơn là một kẻ sẽ sống trong oán hận cả thế giới này mất. Má tôi hay nói”nếu con giận người khác mỗi khi bản thân gặp bất hạnh thì cả đời này con sẽ hận chính mình mất”. Ngoài ra thì ai có thể oán ghét một ông già tội nghiệp như vậy chứ, anh biết đó chuyện đời bác cũng có vui vẻ gì đâu”– Lanh vừa kể vừa nhìn ra ngôi nhà cháy phía rừng thông.

    “Cô có thể kể chuyện đó cho tôi nghe được không”.

    “Chuyện gì kia, về ngôi nhà cháy à, tôi không rành đâu, cũng không ai dám hỏi cả, có Bố và cha cậu ấy trực tiếp chừng kiến đấy, nhưng cậu ta cũng không kể ra mấy”.

    “Anh bạn ấy có vẻ là người rất đáng tin cậy”.

    “Đúng vậy nhưng lại mắc nợ đàn bà, mà thôi đó là chuyện của cậu ta”.

    Một vị khách lại đến khi hai người họ đang kể chuyện cho nhau, họ đứng dậy nhìn ra thì đó là bác sĩ thú y đi cùng một người trợ lý trẻ. Họ bước vào nhà chào hỏi vài câu rồi ngồi xuống nói chuyện an ủi chú chó để làm quen và trấn an cho nó trước khi thăm khám,”phải chi bác sĩ khám người ai cũng vậy thì tốt biết mấy, có khi chưa trị đã thuyên giảm một ít bệnh”gã trung niên thầm nghĩ như vậy. Sau một hồi thăm khám, bác sĩ kết luận chú chó bị nội thương xuất huyết bên trong, vấn đề là nó già quá nên lo rằng càng can thiệp sẽ làm nó đuối sức không chịu nổi, trước mắt họ truyền nước biển và tiêm giảm đau cho nó, mai phòng khám mở cửa thì mang nó lên chụp chiếu xem cụ thể như thế nào rồi mới tính tiếp được. Hai người bác sĩ thú y ra về mà không nhận tiền vì bảo mai lên làm thủ thuật rồi tính luôn, ngoài ra bác Tư cũng gọi dặn sẽ thanh toán sau nên họ không nhận của Lanh. 

    Trời cũng dần tắt nắng, đàn chim đã về tổ, lũ gà và chú heo mọi cũng đang quanh quẩn quanh chuồng gà khi đã hết một ngày kiếm ăn, chú dê thì vẫn còn gặm cỏ gần hồ kêu ber ber vài tiếng, có chú chim nhỏ bay vào nhà thăm hỏi con chó già. Hai người đắp chăn cho chú chó già ngủ thiếp đi rồi ra ngoài đi dạo quanh hồ, họ đứng trong mô đất ven suối chỗ mà hôm qua bác Tư nổi điên chặt nát những khúc gỗ, mọi dấu tích hỗn mang vẫn còn đó. Lanh ngồi trên một gốc cây đã bị chặt ngang phẳng lì, còn Dinh tựa lưng vào một thân cây nằm ngã đổ xuống đất.

    “Ngày mai anh quay lại nơi anh đã rời đi à”– Lanh quay sang hỏi Dinh.

    “Tôi thật sự đang trống rỗng, không có bất kỳ định hướng nào tiếp theo”– Gã trung niên ngước mặt lên nhìn trời, mấy con bướm cũng đang bay quanh mà không có định hướng nào, nhưng sao trông chúng chả có gì là lo lắng ưu phiền vậy chứ.

    “Ít ra anh cũng không lo về tiền, như người ở đây mà xem, họ phải chật vật hằng ngày”.

    “Họ biết mình làm vì điều gì, còn tôi nhìn lại những năm qua như một cỗ máy, cứ bị cuốn theo những kẻ khác. Đôi khi còn cố tình tìm gì đó vui vui để lao vào cho bớt chán, suy cho cùng chỉ phá thêm, bận rộn thêm mà chẳng để tâm tới thứ gì thật sự”.

    “Người ở đây do họ nghèo quá mà thôi, chẳng ai lại muốn è đầu ra làm việc như trâu cả, người có tài sản như anh thật kỳ lạ, có phải các anh nghĩ chúng tôi an nhàn thanh thản lắm khi làm việc trên nương đồng, trong bếp lò và hiểm nguy trên núi đá ao hồ sao.”– Lanh đứng lên tựa vai vào một cái cây còn nguyên vẹn cạnh mép hồ.

    “Có thể tất cả chúng ta đều thiếu sót và trống trãi phần nào đấy sâu bên trong phận làm người, rồi nhìn kẻ khác chỉ thấy được họ có thứ mình không có và bắt đầu buồn chán cho thân mình”.

    “Rồi họ bày ra đủ trò tiêu khiển cố gắng dùng vật chất để lấp đầy chúng, có người thì rượu chè, kẻ câu cá vườn tược, hôm trước hôm sau họ lại chán rồi phá tan tành lên hết, lại phải tìm cái mới lấp vào”– Tay cô nhịp ngón trên thân cây với vỏ xù xì.

    “Tôi nghĩ mình là loại người dùng sự duy trì gia đình để làm mục đích sống, đáng lẽ ra nó phải là sự vun đắp cùng nhau thì nay lại thành ra gồng lên chịu đựng nhau”

    “Hãy nhớ về lí do ban đầu anh làm việc gì đó, tôi nhớ bác Tư có nói, đến lúc phải tìm ra sứ mệnh của mình trên đời và cứ thế tiến về phía trước mà không do dự”.

    “Tôi còn chẳng nhớ nó là gì, nhưng nói thật những ngày qua nơi đây làm rung lắc nội tâm tôi ghê lắm, cách mọi người đối đãi với nhau thật hiếm có”– Dinh đứng lên đi về phía bên kia của cái cây Lanh tựa vai, thả lưng mình tựa vào đó rồi ngồi xuống.

    “Hay anh ở lại đây đi, à không đừng hiểu lầm, tôi không muốn dụ dỗ anh ở lại hay gì đâu, chỉ là ở lại phụ việc lễ hội cho bác Tư”– Lanh cũng ngồi xuống tựa lưng về phía đối diện.

    “Chung quy chúng ta đều là những kẻ cô đơn cần có nơi để tựa lưng”– Dinh im lặng giây lát rồi nói câu đó trong một sự mơ hồ, gã quên mất lời mời ở lại của người đàn bà. Lanh quay qua nhìn nhưng gã không hay biết, tâm trí lại trôi mất về phương trời nào.

    Họ ngồi tựa lưng vào thân cây, không còn âm nhạc như ngày hôm trước, thay vào đó là sự im lặng trong cái lạnh đang kéo dần về cùng bóng đêm, sự cô đơn chảy vào tận tâm can họ. Dẫu vậy, ít ra bây giờ họ có ai đó bên cạnh, một người không làm họ sao nhãng trong khi tận hưởng nỗi cô độc, chẳng ai đưa ra lời khuyên hay cách thức để thoát khỏi trạng thái trầm mặc đó, không một triết lý đạo trời nào chen vào giây phút đó, thời khắc họ nếm trãi tận cùng của cô độc với mây trời. Ít ra họ bên cạnh nhau và không làm gì cả. Thời gian cảnh vật như dừng lại vậy, mọi thứ xung quanh như đang cùng họ hòa nhịp thành một bản hòa ca chỉ đánh một lần trên cõi đời vắng lặng. Lanh nằm xuống chân Dinh, gã không thấy kinh ngạc gì cả, gã chấp nhận chuyện đó để nó trôi đi, không nghĩ về ngày mai hay một phút tới. Họ nhìn về phía tảng đá bên kia hồ, vị ni sư ngồi ở đó, rõ mồn một không phải trong cổ tích hay liêu trai, hai người đều thấy. Tiếng Ocarina bắt đầu vang lên, không phải một giai điệu u sầu, một bản nhạc lễ hội vang lên, không khí như đang trong những quán rượu Bắc Âu trung cổ. Hai người họ bắt đầu nhảy múa theo giai điệu, họ nắm tay nhau xoay vòng tròn, rồi họ đá cao chân rồi lại xoay qua một nửa vòng tròn, họ lướt qua những khúc gỗ và thân cây đầy sẹo. Ở đó không còn oán hận nữa, những khúc cây đầy vết chém không còn phẫn nộ của ông Tư, nó tan biến và trở thành những nốt nhạc để họ lướt đi trên đó, chỉ thiếu một đám đông reo hò nữa là thành đại nhạc hội mùa hè. Mà cũng không cần, tâm hồn họ giờ đây tràn ngập vang ca, nhạc ngày một nhanh, nhịp di chuyển của họ cũng nhanh theo. Họ xoay thật nhanh quanh thân cây khi nãy họ cùng tựa lưng, rồi ngã lăn ra đất, họ cười vang như những đứa trẻ lâu ngày mới được nô đùa, họ như con thú bị nhốt trong lòng xả trôi hết những năng lượng bóng đêm đã chất chứa từ quá lâu. Mọi thứ phải cạn kiệt thì mới có thể tái tạo nguồn sống mới, họ vẫn còn cười và thở thật mạnh.

    “Cô cũng thấy bà ni sư phải không”– Dinh hỏi trong khi vẫn còn nằm ngước mặt lên trời.

    “Có, chúng ta không mơ đâu, thật lạ mà cũng sảng khoái”.

    “Tôi còn tưởng mình bị điên hay gặp ma”.

    “Mà chuyện này có kể thì chẳng ai tin đâu”– Lanh ngồi bật dậy.

    “Vậy coi như một bí mật của chúng ta”– Dinh cũng ngồi lên.

    “Nhất trí, nhưng tôi tò mò vị ni sư kia là ai”.

    Vừa lúc ấy bác Tư và Bố về đến nơi, Dinh ngồi dậy rồi đưa tay kéo Lanh đứng lên, cô cuối mặt cười không để cho gã thấy. Hai người đi đến phụ một tay với hai thợ đào khoáng nửa mùa, người họ toàn bùn sình lấm lem, dụng cụ cũng dính đầy đất sét lan luôn ra thùng xe máy cày.”Được ba bao đủ cho đợt này, chỗ anh chỉ có màu khoáng lạ lắm, lát vào xưởng cho xem”Bố nhìn Dinh rồi kể về chiến công của hai người, còn bác Tư chỉ hỏi Lanh một câu”Nó sao rồi con”. Sau khi nghe Lanh kể về chẩn đoán của bác sĩ thú y, bác Tư vứt vội đống dụng cụ chỗ vòi nước cạnh chuồng gà rồi đi vội vào nhà mà chưa kịp rửa tay chân gì. Bố thì để ý thấy gì đó lạ đã xảy ra nên kéo vai Dinh lại rồi hỏi nhỏ.

    “Hai người làm gì mà mồ hôi rồi thở dữ vậy”– Bố chau mài không có vẻ gì là đùa cợt, nếu gã trung niên không cứu anh ta một lần rưỡi thì có khi không hỏi nhẹ nhàng như vậy.

    “Đừng nghĩ bậy, đó là người đàn bà đẹp, chúng tôi nhảy với nhau”– Dinh đứng khựng lại nhìn vào mắt Bố một cách nghiêm túc.

    “Ok, vào đi lát cho coi khoáng tìm được chỗ anh nói”– Bố không hỏi gì thêm về chuyện đó từ đấy về sau nữa, trông anh ta thật sự thích thú khi nói về viên khoáng hơn.

    Ba người đàn ông khinh mấy bao khoáng vào bên trong xưởng, từ khi đến đây Dinh mới được tận mắt nhìn bên trong thế giới riêng của bác Tư. Xưởng được xây như một nhà kính trồng hoa, các cột đứng dựng bằng gỗ còn thanh ngang bằng kim loại, mái nhà đổ về hai bên và lợp bằng tole trong suốt. Có thể nói là ánh sáng được đưa vào một cách tối đa, vách thì xen kẽ giữa kính tấm to và đá tảng to được cắt khối chữ nhật. Những chỗ vách đá sẽ là nơi các công đoạn thường hay tiếp xúc với đất sét, còn chỗ lắp kính thì để làm nơi trang trí, pha chế men hoặc làm việc trên giấy. Dọc theo chiều dài của gian nhà là hai cái bàn gỗ dài, còn cạnh ngắn hơn là một cái kệ to để chứa sản phẩm. Cả gian nhà chỉ có một bóng đèn led to trên mái, còn hai cái đèn led nhỏ hơn thì chạy theo chiều ngang trên một hệ bánh xe gắn trên thanh ngang trên vách, chúng được đặt chạy song song bàn làm việc, và có thể tháo ra treo lên tùy nhu cầu sử dụng. Mọi thứ đều rất gọn gàng ngăn nắp, với một người ngoài nghề nhìn vào thì sẽ có chút bẩn do bùn đất và màu văng tung tóe khắp nơi.”Làm nhiều nên nó mới dính nhiều chứ không làm thì nó mới sạch sẽ”, Dinh nghĩ vậy khi tham quan khu xưởng của bác Tư.

    Bố khinh một cục đất tầm 2kg đặt lên chỗ góc bàn có cái kính lúp rất to, bác Tư sau khi thăm chú chó của mình thì bước vào xưởng ngồi ngay vào bàn làm việc. Cầm trên tay cây búa nhỏ cùng với mũi đẽo đá, bác Tư nhìn thật kỹ các vết nứt trên đất rồi gõ nhẹ cho nó nứt ra. Bên ngoài vỡ ra làm lộ những vòng tròn màu đan xen vào nhau trong giống cầu vòng trốn mưa chui tọt xuống đất.”Cục này chỗ anh chỉ đó”Bố nói khi quay sang nhìn Dinh, còn bác Tư thì lẩm nhẩm một mình không biết là nói với ai hay không:”Nó đan vào nhau không tách ra được nhưng thế lại hay màu sắc sẽ đi ra bất định vô chừng như cuộc đời này, chủ đề năm nay sẽ là tương tác”. Nói xong bác Tư xé tờ giấy trong cuốn sổ A5 ra rồi viết hai chữ”Tương Tác”thật to dán lên mặt kính. Sau đó bác nhờ hai người kia phụ bác phân loại đất ra làm các màu sắc khác nhau vào cái thùng nhựa đặt trong góc xưởng, còn loại đất lạ thì để riêng vào một cái thao nhỏ cho lên bàn kính lúp. Trong lúc họ đang làm việc trong xưởng thì Lanh mở cửa chào mọi người ra về, dặn bác Tư có gì cần gọi cô sang, ánh mắt cô có phần liếc về phía người đàn ông lạ đã quen hơn một chút.

    Trời vừa chập tối thì họ cũng xong việc, bác Tư nói sẽ làm việc thêm chút nữa, Bố ra về và hẹn ngày mai qua sớm để chuẩn bị đất, vậy là gian phòng chỉ còn lại mình Dinh và con chó già bị thương. Tắm xong gã đi lên ngồi sofa, nhìn mọi thứ xung quanh mình, Dinh chợt mơ hồ nghĩ lẽ ra đây mới là cuộc đời của mình, cuộc đời một con người nên thế này mới phải. Sau cái chết của cha, ngày nào mẹ gã cũng về khuya, nên cái cảnh ở nhà một mình với vài chú chó nó quen thuộc lắm. Ngày đó gã chả lấy gì làm buồn và lúc này tại một nơi xa lạ cũng vậy, thậm chí còn cảm giác thân thiết hơn so với ngôi nhà hiện đại của gia đình mình.”Liệu đây có phải là đợt nghỉ dưỡng vài ngày, sau khi quay lại liệu mình có lại trở nên hèn nhát và buồn chán, liệu mình có tiếp tục sống trong sự hằn hộc với vợ và con gái, liệu sự bình thản này có theo chân mình về lại chốn thị thành”, hàng tá những hoài nghi vẫn còn đó, Dinh do dự muốn ở lại nơi này như một sự đào bới tận cùng mọi ngóc ngách con người thật của gã.

    Chú chó đột ngột hứ hé, nó muốn đứng dậy đi đâu đó nhưng không nổi, nó lại nằm xuống liếm chút nước rồi vẫy đuôi nhìn Dinh đang xoa đầu nó.”Đau lắm hả, mai chở mày đi khám rồi trị thương nha”người khách nói với con chó như đây là nhà mình và chú chó đã làm bạn hắn từ thuở nào. Bác Tư đi ra khỏi xưởng không nói gì mà một mạch vào nhà tắm, Dinh thấy vậy liền dọn cơm mà Lanh đã nấu trước khi ra về lên bàn để hai người họ ăn tối, gã lấy trước cho chú chó một cái gan gà bồi bổ. Tắm xong bác Tư ra ngồi sofa, rót cho mình một ít rượu trong chai Chivas trên khay bếp, Dinh sắt một lát chanh đưa cho người thợ làm gốm già, ông nở nụ cười rồi cảm ơn anh. 

    “Bác ăn cơm chưa”– Dinh ngồi tựa lưng vào chỗ cửa ra vào, chỗ ưa thích của gã từ khi đến đây, quay người vào nhìn hỏi bác Tư.

    “Mai anh có thể rời đi, anh trả đủ cho tôi rồi, anh đã làm rất tốt, cảm ơn anh về những ngày qua”– Bác Tư hớp một ngụm nhỏ Chivas rồi chấp một ít chanh trong miệng nói với Dinh bằng giọng chân thành một cách từ tốn. Dinh thì ngồi im không nói gì vài phút. 

    “Cháu muốn ở lại đây thêm vài hôm”– Sau một hồi suy nghĩ, gã quyết định xin ở lại.

    “Vì sao ?”

    “Cháu có nỗi ám ảnh với mấy chú chó, không yên tâm khi nó chưa khỏi, ngoài ra cũng muốn ở lại xem lễ hội và xem bác làm gốm”.

    “Thật không ?”– Bác Tư trầm ngâm một lúc rồi ngắn gọn hỏi.

    “Tất cả là thật nhưng còn một điều không biết nói ra thế nào, chỉ mới vài hôm ở đây mà bên trong cháu có gì đó lung lay lắm, điều gì đó rất đẹp ở con người nơi đây làm bản thân phải coi lại chính mình, có thể nói cháu muốn ở lại để có cơ hội nhìn lại mình”– Dinh đứng lên kéo cái ghế ngồi gần bác Tư.

    “Ở đâu chả tìm hiểu bản thân được, hà cớ gì phải ở đây”.

    “Như người lọt xuống cái bẫy cát sa mạc, ít nhất cần có một bàn tay hay một thanh gỗ chìa ra giúp, ít nhất để duy trì mạng sống trước khi được cứu khỏi đó”– Dinh suy nghĩ một lúc rồi trả lời, bác Tư mỉm cười rồi đứng lên rót cho anh một ly nhỏ Chivas cùng một lát chanh.

    “Anh nói phải, ở cái chốn ấy họ chỉ kịp ăn ngon mặc đẹp và ghét nhau, thời gian đâu mà nhìn lại bản thân. Nhưng anh thật sự còn lý do nào khác không”

    “Không, chỉ bấy nhiêu”– Vừa dứt câu trả lời thì trong đầu gã trung niên hiện lên hình ảnh mình cùng Lanh dạo những bước nhảy ven hồ trên nền nhạc của tiếng Ocarina réo rắt. Tim gã bổng nhảy một nhịp bất thường rồi ho sặc ra khi hớp một ít rượu. Tất nhiên gã không kể chuyện đó cho bác Tư.

    “Ngày trước một người bạn nhắc nhở tôi, mỗi ngày phải phản tỉnh bản thân ba lần, đến giờ dù người ấy đã hòa vào đất, nhưng tiếng nói ấy vẫn vang động sâu trong màng nhĩ của tôi”.

    Câu nói ấy như truyền những âm vang từ lòng đất đi qua người thợ gốm già rồi khuấy động tâm thức Dinh, trước giờ dường như bản thân gã và nhiều người khác cho rằng hai từ bản thân ám chỉ một thứ gì đó cố định, có thể tìm thấy rồi mô tả trong vài hình dung, giống như món đồ chơi trong túi, bao kiếm trong tay không bao giờ hao mòn. Gã trung niên không nói nên lời, sống đến chừng này tuổi mà giờ gã mới nhận ra một lỗ hỏng tai họa như vậy trong nhận thức, cứ như ai có một hành động tốt thì sẽ làm người tốt suốt đời vậy.”Tìm lại bản thân, câu này làm như mình đã mặc nhiên bản thân là thứ chắc chắn tồn tại cố định để tìm vậy” gã mô tả sai lầm của mình bằng dòng suy nghĩ này.

    “Thôi được rồi cậu cứ ở lại, vài hôm nữa cũng rất nhiều việc, nhưng khi nào chịu không nổi thì cậu cứ tự do ra đi, giờ cậu đi theo tôi vào xưởng tôi hướng dẫn sơ qua cho việc trong tuần tới”– Bác Tư đứng lên đắp cái chăn cho chú chó già rồi đi cùng Dinh vào trong xưởng.

    Trong xưởng chỉ có một cây đèn bàn chỗ để bác Tư ghi chép, phác thảo và đọc sách, xung quanh cũng không cần ánh sáng điện tử vì trăng đã đi vào từ những vách tường gắn kính và mái nhà tole trong suốt. Dưới ánh trăng tỏa ra khắp xưởng, một số món đồ gốm phát ra màu sắc thật đặc sắc. Bác Tư kể hồi trẻ bác được học làm màu men từ hóa chất, nhưng có một hôm đi hội chợ ven đường ở một khu làm gốm ở vùng nông thôn của Đức, bác thấy một cái bình hoa được làm rất mộc mạc mà màu men vẽ trên đó vô cùng thu hút. Bác đến bắt chuyện với người thợ ấy, anh ta tay nghề không thể gọi là khéo, nhưng việc anh ta bảo mình lấy khoáng từ những vùng gần nhà để làm men làm bác kinh ngạc.”Về bản chất men cũng chỉ là khoáng chất, mỗi vùng đất đều có khoáng khác nhau mà”, câu nói này của người thợ bình thường ở nông thôn nơi phương trời châu Âu xa xôi đã làm bác bừng tỉnh. Thời khắc ấy bắc nhận ra mình sẽ quay về quê nhà để làm gốm, bác nhận ra đã có những bước được coi là tiến bộ nhưng thật ra không cần thiết thậm chí là dư thừa. Bác kể hiện tại có một số làng nghề vì khai thác quá đà mà đất sét đã cạn kiệt, họ phải âm thầm nhập đất sét từ nước khác để lừa gạt khách hàng, nhưng trên hết là lừa gạt bản thân phản bội tổ tiên quê hương mình. Bác nhấn mạnh lại với Dinh rằng không hề phủ định công nghệ, bằng chứng là lò nung nhà bác có máy đo nhiệt bằng điện và thông báo thông tin thời gian thực lên máy tính. Ngoài ra những khi tìm thấy một khoáng chất mới, bác cùng những người bạn chung suy tư cho nghề gửi đi phân tích thành phần chi tiết của nó chứ không làm theo cảm tính nhất thời. Những giải thích cặn kẽ của bác Tư làm Dinh mở mang tầm mắt thật sự, ở độ tuổi này mà ngọn lửa lao động vẫn còn cháy mãnh liệt, đó mới là thứ gã học hỏi sâu sắc khi nghe những lời kể trên. Nhưng có một chi tiết làm gã để ý hơn hết, khi nhắc về máy đo nhiệt bằng điện, bác đã khựng lại một chút, như nhớ ra chuyện gì, lúc sau giọng bác trở nên chậm hơn. Phải chăng chuyện gì đó đã xảy ra trong quá khứ liên quan đến chiếc máy đo nhiệt này, nó có liên quan gì đến vụ hỏa hoạn những năm về trước ?

    Câu hỏi trên cứ thế treo lơ lửng như ánh trăng mơ hồ đi vào từ cửa kính, Dinh nghe bác Tư nói tiếp về các công việc cụ thể sắp tới. Ngày mai Bố sẽ chở đất sét tới, sau đó mọi người sẽ pha trộn đất sét theo tỉ lệ cụ thể của bác Tư hướng dẫn, mọi người trộn bằng cách dẫm chân lên đất rồi từ từ cho nước vào, đến khi độ mịn và độ dẻo đạt yêu cầu. Sau đó cho chúng vào máy để nén chúng thành những thanh đất sét hình trụ tròn, cắt chúng ra từng khúc rồi bọc lại bằng những tờ nilon lớn để giữ ẩm. Tất cả đất sét đã gói lại này sẽ dùng làm phôi hay xương gốm, ngày mốt sẽ bắt đầu tập hợp người dân bất kỳ ai có thời gian rãnh đến dùng dao cắt ra cho họ để họ tha hồ nặn hình thù bất kỳ. Bác Tư sẽ cùng vài người bạn có kinh nghiệm làm men, sẽ dùng những mẫu khoáng để pha màu men, làm thành các thùng nước men lớn để mọi người tô màu theo ý thích của mình. Quá trình này diễn ra trong hai hay ba ngày tùy vào sự trợ giúp của mọi người. Xong rồi thì xếp chúng vào lò cùng với những sản phẩm của bác Tư và một hội nhóm làm gốm mà bác tham gia. Trải qua quá trình canh lò nung trong ba ngày là xong, tính thời gian để lò nguội dần rồi khui lò thì tối đa bốn năm ngày. Bác Tư có nói ở Nhật người ta làm lò to hơn, nung và làm nguội luôn tổng cộng đâu đó chục ngày nhưng bác chưa học được cách xây lò to như vậy, vấn đề làm sao để nhiệt trong lò đều không bị phân tán. Nhìn gương mặt bác Tư khi thừa nhận cái dở của mình thật hồn nhiên, đã lâu gã chưa thấy ai lại thoải mái khi nói ra cái chưa tốt của mình, vừa thoải mái vừa tràn trề mong muốn được học hỏi thêm, thật đáng quý làm sao ở cái tuổi của bác. 

    Bác Tư kể cho người khách vừa mới quen những câu chuyện nghề của mình, nhưng tuyệt nhiên không có chút gì về quá khứ tai ương của bác được nói đến, bác đang giấu giếm hay tránh né gã cũng không rõ.”Suy cho cùng mình còn chưa lo cho mình xong thì tò mò nhiều quá cũng chả để làm gì”gã đi ra khỏi xưởng để lại không gian làm việc cho bác Tư, bác muốn ngồi vẽ thiết kế vài món đồ cuối cùng trước khi lò đỏ lửa. 

    Trên tay ly rượu nhỏ còn dang dở một nữa, gã khách quen đi ra hồ nhấm nháp phần còn lại, trời cũng đã lạnh nên gã mang thêm mền rồi đốt một ít củi trong lò sưởi. Tiếng củi tanh tách hòa vào giọng gáy vang của vài con côn trùng làm gã nhớ về buổi hẹn hò nằm đó giữa hai vợ chồng, lúc ấy người vợ đã mang thai ba tháng sau khi kết hôn một năm. Vợ gã hỏi sau khi có em bé mọi thứ có thay đổi không, hỏi thêm rằng gã có hứa sẽ chăm lo yêu thương nhau không. Lúc ấy họ cũng đang đốt một đống lửa bên cạnh con sông ven nhà ngoại vợ, mấy người họ hàng đang rôm rả câu cá rồi cùng nhau chè chén. Dinh vẫn còn nhớ câu trả lời của mình với vợ”Nước và cá bên nhau không hứa gì, chúng sinh ra là dành cho nhau”. Gã chính là con cá ấy, con cá lơ đãng mơ hồ bị cuộc đời câu phải, giờ gã như một con cá mắc cạn, cố lốc đành đạch tìm đường quay về nước nguồn. Nhưng càng vùng vẫy càng mệt, càng vẫy càng muốn bỏ cuộc, giờ gã bỗng nghĩ mình sẽ mọc ra cái chân như quá trình tiến hóa rồi bò lên cạn mà sống, rời đi bỏ lại sau mặt nước năm xưa. Nghĩ tới đây trong đầu gã lại hiện ra cảnh cô chủ Lanh đi chân trần ngồi một góc và uống ly bia nhỏ.”Cái gì thế này, sao hình ảnh chết bằm ấy lại hiện ra”gã vò đầu bức tai để quên đi mình đã thấy gì trong một phút trước, gã uống cạn nửa ly rượu nhỏ còn lại rồi đi vào nhà.

    Cũng đã ngà say với chút men trong người, gã trung niên nằm dài bên cạnh chú chó, gã hồi xuân như trở thành cậu thiếu niên năm nào. Ngày trước khi học cấp hai, Dinh nhớ mình cũng hay về nhà kể chuyện ở lớp cho bọn chó nghe, cậu bé ấy thích kể về những cô gái mà cậu có cảm tình trong lớp, thường chuyện chẳng đi tới đâu vì lúc ấy cậu rất nhút nhát. Còn lúc này khi đã là một gã trung niên buồn chán., gã lại nằm đó kể cho một con chó nghe về điệu nhảy bên hồ của mình và Lanh. Trời cũng lạnh dần, bác Tư đi ra khỏi xưởng rồi đốt thêm ít củi trong lò sưởi, bác cười rồi hỏi Dinh say chưa. Gã trả lời một ít nhưng không là gì với hôm trước, bác rót thêm cho mỗi người một ly và cắt một ít mận muối làm đồ nhấm, cả hai ngồi bệt dưới đất bên cạnh cái lò sưởi đang phả hơi ấm cho một đêm sương giá. 

    “Tại sao mọi người khi kết hôn lại thay đổi một cách kỳ lạ vậy bác Tư, hầu như chẳng còn chút bầu bạn nào nữa”– Dinh xoa tay mình gần lò sưởi cho bớt lạnh.

    “Hầu hết nghĩ đó là một cột móc, một thứ gì đó để họ trụ lại khỏi bị trôi đi vô lối, ngày trước bác có người bạn lấy vợ vì quá chán không còn biết mình làm việc vì điều gì”.

    “Nhưng chắc cũng có người làm được có người thì không chứ hả”.

    “Vấn đề không phải ở chỗ được hay không, mà gia đình cũng chỉ là một phát minh của con người, như chiếc xe hay ngôi nhà vậy, nó chẳng có tội tình gì mà đúng sai được mất”– Bác Tư tựa lưng vào sofa, hôm nay có lẽ bác cũng mệt lắm rồi.

    “Nói ra có vẻ thô thiển, ngày trẻ cháu còn nghỉ nó như đóng mộc lên mông con heo, hay tụi chó đi xịt nước tiểu khắp nơi, một loại đánh dấu để nói cái này là của tao”.

    “Cậu có thấy tôi không hề đóng dấu trên sản phẩm của mình không, mấy ngày qua cậu nhìn rồi đó, một mình tôi có làm được tất cả đâu mà đóng tên tôi lên đó, như tự lừa mình lừa người vậy”.

    “Hehe vậy bác có biết cô bé Gấm bán sản phẩm rồi marketing cho bác trên mạng không”– Gã đã không còn giữ được bí mật nữa.

    “Biết chứ, cái xã này có to lắm đâu, chuyện gì cũng không lọt đi đâu cả, nhưng nó còn nhỏ nên muốn để lại dấu ấn trên đời. Một ngày nào đó nó sẽ hiểu ra rồi tự kể với mình”.

    “Cũng có thể sẽ chẳng bao giờ nhận ra như cháu”– Dinh chống hai tay ngước mặt lên trần nhà.

    “Tôi cũng như cậu thôi cũng có vấn đề khi lập gia đình, vợ tôi là người yêu tự do, bà ấy bị ám ảnh bởi những thứ từ Ấn Độ những năm mấy dân Hippie Mỹ đi tìm đạo sư, người thanh thản quay về thì ít mà lơ mơ phóng túng đến dị hợm mang về thì nhiều”

    “Là sao bác, cháu chưa hiểu”– Dinh ngồi nhổm dậy vì nghĩ chắc mình sẽ được nghe câu chuyện hỏa hoạn.

    “Sinh em bé xong bã bị khủng hoảng sau sinh, vì trước đó chúng tôi đi du lịch bay nhảy khắp nơi, giờ cả ngày bị nhốt ở nhà chăm con nên tính khí trở nên thất thường kỳ quái. Những năm sau đó bà hay một mình đi Ấn Độ rồi về làm nhiều trò kì quái hơn. Nhưng tôi không chê trách gì vợ mình, sai lầm vẫn ở chỗ tôi, nếu tôi ngồi nghe và tìm hiểu về những tâm tư sâu bên trong thì bà đã không cần đi tìm ở nơi khác”.

    “Lúc đấy bác đang làm gì”.

    “Tôi không biết anh thế nào, khi nhìn thấy con tôi sinh ra, mọi thứ trên đời này tự dưng trở nên vô nghĩa với tôi, mọi thứ tôi làm từ khoảnh khắc ấy đều là hướng về nó. Ngay cả việc phải sống tốt hơn để làm gương cho nó”– Nhắc tới con mình, bác Tư uống cạn rồi rót thêm ly nữa.

    “Cháu hiểu ý bác, nhưng có vẻ như cái suy nghĩ ấy làm mình quá tập trung vào một nơi rồi vô tình phá hủy mọi thứ xung quanh, vô tình sự phá hủy này quay ngược lại làm vụn vỡ mục đích ban đầu tốt đẹp dành cho đứa con. Dường như chúng ta mỗi người chỉ đang chạy theo một ý niệm tốt xấu rồi oằn mình lên chống chọi ngay cả khi những việc trước mặt là sai lầm rõ ràng. Cái tha lực lôi ta đi này của một tư tưởng cố chấp thật sự rất mạnh làm lu mờ đi sự trong sáng nhìn ngắm sự kiện trước mắt một cách trực quan rõ nét hơn”– Dinh vừa nói dứt câu thì từ gãi đầu ngó lên cao rồi thốt lên”chết cha triết gia nào nhập hả”, rồi cả hai người đàn ông có tuổi cùng cười, làm chú chó bị thương mở mắt vẫy đuôi như tán đồng ý kiến.

    “Sau này tôi mới nhận ra những gì cậu nói thông qua một người bạn, ông ấy bảo tôi rằng con người là sinh vật kỳ lạ phải rơi vào nghịch cảnh khốn cùng thì mới chấp nhận rồi thay đổi triệt để nên khi nó xảy ra hãy sống với đau khổ và sự tiến hóa của mình cùng một lúc. Ông ấy đã giúp tôi rất nhiều sau vụ hỏa hoạn, vợ chồng ông ấy là một cặp đôi đáng học hỏi, nhưng nhìn tôi mà xem giờ thì còn học gì về chuyện đó được nữa chứ”. 

    “Anh muốn hỏi chuyện xảy ra vụ hỏa hoạn mà ngại không dám mở lời đúng không ?”– Sau một hồi im lặng, nhìn cứ chỉ Dinh cứ nhìn ra ngôi nhà cháy nên bác Tư lên tiếng hỏi. Gã chỉ gật đầu mà không trả lời.

    “Trước đây bác hay bật metal rock mỗi khi làm trong xưởng, thời gian đó cũng đâu đó mấy tháng mùa hè này, khô hanh đốt lò tốt hơn. Khi ấy chưa xây cất gì nhiều nên nhà chung với xưởng nằm sát lò nung nên gỗ và vật liệu cháy xung quanh nhiều, bác đang ở trong xưởng đóng kín cửa. Vợ bác vào nói gì đó không nghe rõ nhưng do quá tập trung bác đã hơi bực mình rồi ừ ừ cho qua chuyện để làm việc tiếp. Chuyện gì đã xảy ra bác cũng không rõ, nhưng cha con thằng Bố lúc nó đó mới hơn 20 tuổi lao vào vực cổ bác dậy. Thằng nhỏ can đảm lao vào cứu nhưng bị cây xà rơi đè trúng tay. Lúc ấy bác chẳng nghĩ được gì, đơ cứng người cả, cha nó đã cứu nó ra rồi hô hoán kêu người đến cứu. Ngày trước khu này vắng lắm, làm gì có lính cứu hỏa, công an chỉ có mình cha thằng Bố và hai thằng nhóc mới vô ngành. Không ai cứu được cả, không hiểu sao bác lại được sống tiếp nữa. Thời gian sau rất nhiều người đã giúp bác vượt qua, cái mạng này không còn là của ta nữa”– Bác Tư hít một hơi thật sâu, không còn phát rồ như mấy hôm trước nữa.

    “Xin lỗi hỏi không phải phép, lúc ấy bác gái sao lại không thoát được với con mình ra ngoài, bác ấy đang ở đâu”– Dinh nheo mắt vì cảm thấy có gì đó chưa đúng nên hỏi thêm.

    Nhìn lên thấy bác Tư đã lim dim, miệng lẩm nhẩm điều gì đó không nghe thấy rõ, hôm nay là một ngày dài với bác, lại thêm ba bốn ly rượu có lẽ đã đến lúc đi ngủ, gã cũng đã ngà say mất rồi. Dinh lấy gối kê đầu người thợ gốm già nằm xuống rồi đắp cho bác cái chăn, cho thêm củi vào lò sưởi rồi cũng nằm xuống quay người về phía chú chó già, vỗ nhẹ lên người nó vài cái. Mắt gã bắt đầu sụp xuống dần, ý thức cũng bắt đầu chìm xuống dưới mặt hồ tĩnh mịch ngoài kia. Tiếng Ocarina bất ngờ vang lên nhưng lần này ở đâu đó xung quanh nhà, gần lắm. Gã muốn bật dậy xem tiếng nhạc phát ra từ đâu, cơ thể lại không cho phép vì quá mệt, tâm trí gã cũng chẳng khỏe mạnh gì sau cuộc trò chuyện với bác Tư, gã quyết định buông lơi, thả người ra mặc kệ là ai hay chuyện gì, tự dưng gã thấy nhẹ lòng vô cùng.”Tại sao không chỉ là nằm nghe rồi chìm dần vào giấc ngủ, sao cứ phải tìm kiếm một câu trả lời nào đó cụ thể cho một thứ đẹp đẽ, cho một tiếng Ocarina trong đêm lạnh vắng”gã nở nụ cười khi nghĩ như vậy. Nhìn sang gã thấy chú chó mở to mắt, nhìn nó háo hức lắm, nó nhìn về phía sau lưng Dinh với cái đuôi vẫy liên hồi, như nó mừng người bạn cũ đang đứng đó vậy. Âm thanh nhỏ dần, nhỏ dần rồi tắt hẳn, một cơn gió thổi vào nhà làm quyển sách trên giá lật ra, các trang sách vỗ vào nhau như đang kể một câu chuyện khác, xen vào đó là tiếng bàn tán bọn côn trùng đằng sau phia rừng thông. Rồi gã trung niên không còn nghe thấy gì nữa cả, gã ngủ cho một ngày mai còn sống. 

  • Quá khứ ở hiện tại

    Không rõ gã trung niên đã thiếp đi bao lâu, trời đã bắt đầu lạnh như cắt da thịt nên gã chạy vội vào nhà, để treo lơ lửng những gì chứng kiến khi nãy, có phần đáng sợ cũng có phần khiến gã tò mò. Dinh rón rén cho thêm một ít cũi vào lò sưởi trong nhà, chỉnh lại chăn mền cho Lanh rồi trải một tấm vải mỏng tìm thấy bên phía lò nung, nằm xuống bên cạnh con chó già dưới hộc bàn. Mới hôm qua thôi, đầu hắn sắp nổ tung khi bị nhồi nhét hàng tá thứ treo dang dở cần được xử lý, đến mức hắn đã nghĩ đến một sự giải thoát nào đó khỏi cuộc đời thống khổ này. Vậy mà giờ gã lại nằm ngủ cùng một con chó già, một người đàn bà ngà say và một ông già đang cạn kiệt năng lượng sau khi rồ dại. Gã không còn nghĩ đây là một giấc mơ nữa, vì chỉ có cuộc đời thật mới hoang dại như thế, trong mơ thì không thể hình dung ra nổi vẻ đẹp này, vẻ đẹp mà gã đang lờ mờ nhận ra mình lạc mất từ lâu. Gã tự tặng cho mình một nụ cười và đi ngủ mà không còn nghĩ gì nữa.

    Có gì đó ươn ướt nham nhám đang chà lên má gã, mở mắt ra thì thấy đó là con chó già đang liếm mặt. Dinh muốn ngủ nướng thêm chút nữa vì hôm qua là một ngày điên rồ, nhưng chú chó thì đang tràn trề năng lượng. Nó lấy chân khều khều lên người gã, còn thụt tới thụt lui sủa, ai đó cũng bật cây đèn phòng lên làm lóa mắt gã mê ngủ. Thì ra đó là bác Tư, nhìn ông như chẳng có chuyện gì xảy ra hôm qua, quay sang ghế sofa thì không còn thấy Lanh nữa, ngoài trời chưa có một tia nắng nào và chỉ mới có vài chú chim thức dậy hót đôi ba tiếng rời rạc.

    “Anh có đi lấy đất nổi không, sẽ tốn sức lắm nên đi sớm cho mát ?”– Bác Tư vừa pha café vừa hỏi người khách lạ.

    “Dạ được”

    Dinh bật dậy thu dọn chỗ ngủ, gã đi vệ sinh cá nhân rồi ra sau lò nung tưới một ít cho mấy chậu hoa gã ươm vội hôm qua, có hai chậu bị bới lên tung tóe,”tối mày phá phải không”Dinh vỗ vào hông con chó già rồi hỏi nó. Gã đứng lên vặn vẹo khởi động cho giãn gân cốt, một vài con cú mèo vẫn còn thức giấc kêu vang một góc rừng thông, con chó già đứng bất động nhìn vào trong ngôi nhà cháy, nó hứ hé vẫy đuôi liên tục. Dinh hỏi nó đang làm gì, rồi chầm chậm đi về phía tàn tích. Gã không tiến vào trong mà chỉ nhìn qua khe cửa chính đã sập sệ, đó là một bó hoa trắng nằm trên hai ngôi mộ trơ. Chắc là bác Tư thay hoa sáng nay, gã thầm nghĩ như thế rồi xoa đầu con chó. Vừa đứng dậy định quay vào nhà thì bác Tư đứng ngay sau lưng làm hắn suýt bật ngửa thốt lên”Trời ơi người ở đây thích dọa người khác lắm hay sao vậy”. Bác Tư quay lưng đi vào nhà rồi nói”Anh làm gì sai thì mới sợ như vậy, đi thôi xe đến rồi”.

    Bố đã lái chiếc máy cày đến trước cổng, trên xe là đủ thứ dụng cụ đào đất, một ít thực phẩm và nước sạch để uống, trên tay bác Tư còn cầm theo ba cây nhang không rõ để làm gì. Họ leo lên xe máy cày mỗi người ngồi một bên, con chó già thì đứng trong thùng xe rồi nhìn về phía sau, lúc lên xe có vẻ nó rất ngoan ngoãn không loi nhoi như khi ở dưới đất. Trời còn nhá nhem chỉ lọt qua vài tia sáng, tiếng chuông bên am cũng vừa vang sau tiếng nổ máy cày, có ánh đèn của người đi câu sớm bên kìa hồ lấp ló xuyên qua hàng thông già, mọi thứ ở đây đều lọt vào tâm thức người quan sát rất sắc nét mà không lẫn lộn. Chiếc máy cày tành tạch chạy một mình trên đường, đôi khi có người chạy xe máy vác cái lưỡi hái cắt cỏ đi ngang rồi lên tiếng chào Bố, trong bóng tối mờ ảo của buổi sáng chưa tỉnh hẳn, nhìn người đó như thần chết đi tìm những gã lạc đường sót lại tối qua.

    Họ men theo con suối, dòng nước thông với cái hồ nhỏ khu đất ông Tư, ánh sáng bắt đầu len lỏi nhiều hơn làm bậc lên đám hoa dại ven đường, dòng suối cũng đã lấp lánh chào đón một ngày mới. Đến một đoạn thì dòng suối chia ra làm hai, cái biển hiệu chỉ một hướng về khu dân cư một là vào chốt kiểm lâm, họ đi con đường tránh xa chốn đông người và tiếp tục men theo dòng nước mát. Từ nãy đến giờ họ chẳng nói với nhau câu nào, con chó già thì đã quá chán nên nằm bẹp trên sàn thùng xe nhưng mắt vẫn mở nhìn ra hai bên đường. Có một cậu bé tầm hơn mười tuổi đang cùng người mẹ gùi đứa em nhỏ trên lưng, nó chạy ngược lại hướng của mẹ rồi hái một bó hoa cho đứa em mình, tụi nó không cần đồ chơi xịn sò mà niềm vui ấy thật đắt giá bao nhiêu. Nếu so ra người ở đây còn biết làm ăn kinh doanh hơn gã, Dinh nghĩ thầm như vậy rồi vẫy tay chào ba mẹ con, ba người họ cũng chào lại hắn, chú chó trên xe thì vẫy đuôi như muốn chung vui.

    “Đường chuẩn bị vào chỗ sốc, anh ngồi không quen cẩn thận ngã”– Bố lên tiếng nhắc Dinh khi rẽ vào một con đường đất nhỏ hơn.

    “Ừm”– Dinh chỉ nói được như vậy vì tâm trí gã đang bị phân tâm bởi khung cảnh trước mặt.

    Hai bên đường là dã quỳ và cỏ đậu vàng rực, ở mấy mỏm đá nhỏ nhô lên lưa thưa mọc một đám xạ can nở hoa màu cam trông như mấy con ong bắp cày. Quanh đây họ trồng đủ loại cây xen lẫn vào nhau không theo một trật tự nào, những lá cây vú sữa đôi lúc chen vào cùng đám lá mận non tim tím nằm xen giữa một màu xanh của những loại cây khác, mọi thứ trở nên đẹp lạ thường. Dinh quay qua quay lại mà quên mất lời dặn của bố khi nãy, xe đi ngang cái ổ gà làm gã xuýt bổ nhào ra ngoài khỏi thùng xe, bác Tư đã kịp túm áo lôi Dinh lại, gã cười cười gãi đầu nhưng rồi cũng không sao thoát khỏi sự thu hút của cảnh vật nơi này. Đám chim sâu cứ tỏa ra khi chiếc máy cày đi ngang, một vài giây sau lại tụ lại bụi cây cũ, dòng suối nhỏ thì nằm bên phía trái, nhưng đôi lúc người dân tạo một cái rãnh thông qua cái mương bên phải, họ đặt vài tấm đan xi măng lên rãnh nước vừa đủ cho những chiếc xe cơ giới nông nghiệp đi qua.

    “Lạ lắm phải không ?”– Bác Tư nhìn Dinh rồi hỏi, không quên nhắc gã cẩn thận ngã lần nữa.

    “Lạ ở chỗ họ làm đồng loạt bác à, thường cháu ít thấy nhiều hộ cùng canh tác kiểu này”.

    “Cả một quá trình 20 năm đó chứ không dễ gì, phá hỏng thì nhanh chứ hồi phục thi khó”.

    “Có lẽ là khó ở chỗ niềm tin”.

    “Một phần là vậy, phải có những kẻ tiên phong vững vàng, đó là phúc cho người ở đây”.

    “Cũng giống như con đường này vậy, rẽ một hướng khác sẽ gập ghềnh”– Bố lẩm bẩm một mình phía trước xe, vừa nói dứt câu thì có con chim nhỏ màu xanh dương với chỏm lông ngực màu bạc lẫn một ít nâu đậu lên thành xe.

    “Sao con chim này nó dạn người vậy bác Tư”– Dinh đưa ngón tay trỏ lại gần thì chú chim nhảy tọt lên đậu ở đó, con chó già thấy vậy chồm ngồi dậy rồi thè lưỡi ngoắc đuôi nhìn con chim.

    “Ở đây chẳng ai làm gì nó nên vậy, mà cũng là nguy hiểm cho nó nếu gặp phải người lạ”.

    Chiếc xe máy cày chậm lại, rẽ trái vào một con đường nhỏ hơn vừa đủ cho bề ngang xe, vẫn là men theo dòng nước mà đi. Chạy được vài trăm mét thì Bố dừng xe lại bên một góc rừng rồi đậu xe dưới một gốc bơ tránh con đường cho người đi rẫy bằng xe máy. Bác Tư nói từ đây đi bộ vài trăm mét là tới con thác, men theo khu vực đó tìm đất khoáng màu. Mỗi người mang theo một ít đồ, cả chú chó cũng mang trên lưng một ít nước và đồ ăn cho chính nó, nhìn có vẻ chậm chạp nhưng mọi sinh vật nơi đây có vẻ đều hoạt đồng không ngừng với một nhịp điệu vừa phải. Bác Tư cùng chú chó đi trước, Bố đi song song với người khách lạ, họ đi tìm màu sắc dưới lòng đất.

    “Cảm ơn anh lần nữa chuyện hôm qua”– Bố mở lời.

    “Không có gì, ai trong trường hợp ấy cũng sẽ làm vậy”

    “Mà anh bơi khỏe đó, tưởng đâu …”

    “Tưởng đâu dân thành phố bèo bọt lắm hả, chỉ là một thói quen buổi sáng của tôi cho đỡ nhớ quê thôi, cậu biết không tôi đẻ ra trên ghe đó”.

    “Cũng phải, làm gì có dân thành phố thiệc, toàn người ở tỉnh lên đó, anh làm gì trên đó”.

    “Chém gió, khoác lác, bịa chuyện để kiếm sống”– Dinh vừa nói vừa nhảy qua một tảng đá dưới chân, như vượt qua sự sĩ diện để thành thật với chính mình. Còn Bố thì cười ầm lên với một chút ngạc nhiên.

    “Thật đấy, đôi khi tôi thuyết phục khách hàng hay nhân viên mà chính tôi còn chẳng tin lời mình nói ra”.

    “Có lẽ ở đó ai cũng làm vậy nên thành ra quen rồi chẳng ai còn thấy đó là bất thường nữa”.

    “Cậu nói đúng, cùng một duộc, hễ phanh phui ra chẳng khác gì tự chửi vào mặt mình. Cái đáng sợ mà giờ tôi mới nhìn ra mới hôm qua thôi là không còn cảm thấy xấu hổ khi lươn lẹo”– Dinh dừng lại thở một hơi sau khi nói một câu dài với đầy trầm tư.

    “Cũng phải, thằng em nó lâu lâu về nó cũng biểu hiện quái gỡ lắm, như nó cần được cưng chiều khi đã vật vã trên thành phố vậy, làm như là lỗi của người khác ấy, chính nó lao vào đó”.

    “Tới nơi rồi, Bố hiểu việc cần làm rồi thì giải thích cho anh bạn kia đi, bác đi xuống phía dưới thác”, câu chuyện của bọn họ bị ngắt quãng bởi tiếng gọi của bác Tư. Ông cùng con chó già thoăn thoắt nhảy qua mấy mỏm đá về phía bên kia của con suối, trước mặt là một con thác nhỏ nhưng nước đổ xuống rất mãnh liệt, tiếng ầm ầm của nó làm át luôn tiếng chim hót quanh đó.

    Bố giải thích cho Dinh về công việc, họ phải đi tìm một vài chỗ có đất sét màu đỏ cam, xanh dương và xanh lá quanh đây, anh ta kể bác Tư bảo các nền địa chất chồng lên nhau làm cái khoáng theo mạch nước ngầm chảy sâu xuống dưới. Quá trình oxi hóa dần dần khiến các khoáng này có màu sắc phân tầng khác nhau, tùy vào kết cấu nơi đó mà phân bổ màu cũng khác nhau, hôm này họ cần lấy mỗi loại 10kg về làm men gốm cho lễ hội sắp tới. Mặc dù hiểu sơ qua, nhưng Dinh không hiểu rõ làm thế nào để nhận biết chỗ nào cần đào, Bố dẫn gã đến chỗ gần mép thác nước, nơi họ đào lấy khoáng năm trước xem có thể ví dụ cho Dinh hay không. Họ tiến lên cao một chút, cách thác nước có một lõm cỏ mọc um tùm, Bố lấy dao phác sạch làm lộ ra một cái hố đường kính gần 2m. Bố nhổ sạch cỏ một khu vực nhỏ rồi moi đất lên kêu Dinh nhảy xuống xem đất. Vách đất hiện ra với nhiều đường cong nhiều màu sắc đan xen bao quanh lấy nhau, nhìn giống những vân gỗ của một cây lâu năm. Bố chỉ và giải thích cho gã thành thị biết về sự hình thành màu sắc của các lớp đất, rồi tách một vài cục đất khác màu ra cho Dinh ngửi. Bố giải thích có nhiều cách nhận biết chỗ nền đất có hay không có loại khoáng gì, bác Tư thì nhìn thảm cỏ dại rồi sờ vào lớp đất bề mặt phía trên là biết được. Bác Tư đã từng bảo anh thử ngửi lớp đất phía trên xem thì anh ta nhận biết được, ông già bảo với anh đừng đánh giá thấp các giác quan của mình, từ đó về sau anh và con chó già dùng khứu giác của mình để tìm. Dinh nói rằng mình đã hiểu nhưng chưa nhận biết rõ được thông qua thể nghiệm cụ thể nên họ bắt tay vào làm thử rồi chia nhau các khu vực tìm kiếm. Mỗi người họ cầm trong tay mấy lá cờ hình tam giác gắn vào mấy cây đũa đại diện cho ba màu cần tìm, để khi cảm thấy có dấu hiệu hoặc tìm thấy thì cắm xuống đất làm dấu. Họ bắt đầu cuộc tìm kiếm kho báu, trông cậy vào chính cơ thể cùng các giác quan của mình.

    Dinh bám vào đám cây leo lên phía trên con thác, men theo lên phía thượng nguồn, còn Bố đi về phía ngược lại, đứng trên cao nhìn xuống thấy chú chó già lẽo đẽo theo chú làm gã cười thanh thản đến lạ. Vừa đi gã lại nhớ hồi nhỏ đi theo cha trên mấy xà lang cát, cha gã từng dặn”lấy của trời đất thì lấy vừa đủ dùng thôi, giàu lên từ của trời ban rồi cũng sẽ bị lấy lại cách này hay cách khác”. Nói thì như thế, nhưng cái nghèo đã cuốn cha hắn trôi theo lòng tham của mình, để rồi một hôm khúc sông cha gã khai thác sụp xuống làm sạc luôn sáu ngôi nhà ven sông. Bao nhiêu cát cha gã lấy đi thì bây giờ trả chẳng nổi cho bao nhiêu sinh mạng con người đã mất. Ngày đó gã hận cha mình sao lại treo cổ tự tử mà không sống để gánh lấy hậu quả của mình, bỏ lại nó trên vai mẹ và anh em gã. Nhưng mới vài hôm trước thôi, lòng tham của gã cũng suýt dìm chết gã trong mớ hỗn độn, may sao nó lại cuốn gã lên cái xe bus định mệnh, để có cơ hội nhìn lại cuộc đời trong một hình hài khác. Có lẽ con người không chỉ trưởng thành một lần, mà họ phải tái sinh nhiều lần thông qua nghịch cảnh, như Kim Thiền Tử đầu thai 9 kiếp mà vẫn còn phải đi thỉnh kinh vạn dặm.Một kiếp hóa ra cũng chỉ là một lần nghiêm túc nhìn lại cuộc đời, còn có thấy gì và thay đổi ra sao, chính gã còn đang tò mò những gì trước mắt.

    Miên man trong suy nghĩ về câu chuyện Tây Du, gã tự hỏi mình là ai trong những nhân vật đó. Gã nghe thấy có tiếng lột xột dưới đám lá khô, lẽ nào là heo hay thỏ rừng. Tiến lại gần thì thấy một chiếc nón lá lấp ló, hóa ra là một vị ni sư đang đi hái nấm. Hai người chắp tay chào nhau, vị ni sư người nhỏ nhắn, trên mặt choàng khăn rằn phủ kín che côn trùng, lộ ra đôi mắt tròn sáng và có chiếc nốt ruồi trên đuôi mắt trái. Hai người không nói gì mà tiếp tục công việc của mình. Khi đi lướt qua, Dinh trộm nhìn vào cái rổ nấm, gã nhận ra một ít đất sét dính dưới vài cây nấm có màu xanh dương nhạt. Gã xin phép bắt chuyện hỏi thăm vị ni sư rồi giải thích về chuyến tìm kiếm của mình, vị ni sư đáp”Về phía trước 100m, anh hãy lắng nghe tiếng rừng, đi theo nó một chốc sẽ thấy một ít nấm loại này, cứ đào lên thử biết đâu sẽ gặp,nhưng hãy nhớ nghe cho kỹ”. Vừa dứt lời vị ni sư đi về phía ngược lại, Dinh nhìn về phia vị ni sư hướng dẫn, gãi cằm suy tư nhưng vẫn chưa hiểu rõ chuyện. Quay lại định hỏi thêm thì vị ni sư đã biến mất, gã còn chẳng nghe tiếng chân rời đi, có lẽ mình nên nghe kỹ hơn mới phải, gã thầm nghĩ như vậy.

    Dinh đi theo lời của vị ni sư về phía trước một cách chậm rãi, cố gắng nghe kỹ nhưng vẫn chưa thấy gì khác biệt. Đi được 100m thì hiện ra trước mắt gã là một rừng lồ ô, không nhiều lắm nhưng cũng đủ làm nhớ về các cao thủ trung hoa múa kiếm trên đọt cây cao. Bỗng Dinh nghe thấy tiếng cộc cộc rất rõ ràng, gã lắng tai nghe rồi đi về phía âm thanh ấy, âm thanh ngày càng rõ hơn. Đi tầm 30m về phía thượng nguồn, nhìn lên cao thì thấy hai ngọn cây lồ ô va vào nhau trước gió, hóa ra âm thanh vị ni sư nói là như vậy. Nhìn xuống chân thì đúng là rãi rác có một ít nấm mọc dọc dài mấy khúc gỗ ngã ven suối, ở đó có một bãi bồi đủ để chục người đứng trên đó. Dinh nhảy xuống bãi cát rồi đi xung quanh quan sát theo dõi một chút, vài phút sau gã phát hiện một lỗ rò nước rỉ ra có màu xanh dương, khi ngửi thì nồng mùi kim loại rõ ràng. Gã dùng cây cuốc chim mang đi thử đào mấy phát vào bờ con suối, thì đúng là thứ gã đang tìm, những vòng cung nhiều màu sắc lẫn vào nhau hiện ra trước mắt. Đứng lên định quay về gọi hai người kia xem thế nào, nhưng gã phóng tầm nhìn ra xung quanh, cảnh vật thật phóng đãng và yên bình, gã quyết định ngả lưng một chút ở đó chỉ để ngắm cảnh.”Bây giờ mình đã hiểu cảm giác thật sự của Tam Tạng khi đi qua Nữ Nhi Quốc, thật chẳng muốn rời đi”gã nhẩm trong đầu rồi tự cười cho sự phàm phu của mình. Chợt gã nhớ ra vài người bạn của mình cũng tụ tập mua đất ở một khu nào đó, xây nông trại rồi thuê người canh tác, lâu lâu cuối tuần họ lại tụ tập thư giãn đi hái rau quả rồi khoe với thiên hạ về sự hưởng thụ của mình, thật lòng mà nói khi lướt xem gã cũng có một chút nao lòng. Ngặt một nỗi gã biết quá rõ những tên bạn đó, nắm rõ sự bẩn thiểu cuồng dại vật chất của họ và của chính mình, họ và gã cũng chỉ thêm một chút phấn son lên cái mặt nạ thường ngày của mình mà thôi, ngoài mua đất rồi đôi khi chụp hình đăng lên, họ còn biết làm gì khác đâu kia chứ, chính gã cũng thế.

    Đằng xa có tiếng gì ầm ầm vang lên quanh đây, nghe giống tiếng sấm nổ ở rất xa, đột nhiên lời khuyên của vị ni sư gặp lúc nãy gợi lên trong đầu, gã cố nghe xem đó là gì. Toàn bộ cơ thể hắn bật dậy, như suy nghĩ và hành động thể xác không có trước sau, thứ gì đó thúc dục gã đây là trường hợp sinh tử. Dinh nhớ ra đã xem ở đâu đó mấy chương trình thám hiểm thiên nhiên, âm thanh này rất giống với tiếng trên thượng nguồn có lũ đổ về, đôi khi mưa to trên đó nước đột ngột kéo về bên dưới không hề có cảnh báo nào. Dinh tháo chạy như để cứu tính mạng mình, lúc đó gã thật sự lo cho tính mạng con chó già đầu tiên rồi mới tới hai người kia, gã nhớ về mấy người bạn chó khi nhỏ mình chăm sóc. Sau khi lập gia đình Dinh đã không còn nuôi động vật vì không muốn đau buồn khi chúng chết nữa. Nước mắt cứ thế tuôn ra trong khi chân thì cứ chạy bán sống bán chết, tay gã xước phải một bụi gai đau thấu nhưng cũng chẳng làm gã nao lòng, cứ thế tiến về phía chỗ dốc con thác.

    Dinh đứng trên thác hô to,”Lũ, bác Tư ơi, Lũ, Bố ơi Lũ, bác Tư, Lũ, chó già mày đâu rồi chạy đi, chạy đi đừng có chết”, tiếng hô bây giờ đã thành tiếng gào thét, nó như phát ra từ tận sâu thăm thẳm con người gã trung niên, ở đó chẳng có gì ngoài mong muốn cứu được con chó. Gã chạy thục mạng lại gào thét hô hoán nên vài phút là ngã gục, đầu gối hắn bệt xuống đất, hai tay đập xuống đất miệng thì chỉ còn gào được ba chữ”đừng có chết, đừng có chết”. Tiếng nước lũ đổ xuống ngày một to hơn, dồn dập như một đại quân đang đánh trống khiêu chiến liên hồi, thôi thúc gã đứng dậy. Thế rồi Bố đã nghe thấy và leo lên trên được, anh ta quàng tay cắp nách rồi lôi Dinh đứng dậy.”Bác Tư nghe rồi đang chạy tới”. Tiếng nước chỉ còn cách đó không xa, nhìn xuống dưới đã thấy bác Tư chạy cùng chú chó của mình hướng về phía thác để leo lên. Tiếng lũ càng lấn áp tinh thần mọi người, bác Tư nhảy qua tảng đá để leo lên thì trượt ngã đập vai vào đá làm bác choáng váng. Con chó già cố gắng lôi bác dậy trong tuyệt vọng, nó lôi không được rồi lại sủa rồi quay ra lôi tiếp. Bố vừa nhảy xuống vừa nói lớn ra hiệu cho Dinh”Anh đi tìm cái cây to đi em kéo bác Tư lên”, trong lúc đó bác Tư khua tay đuổi con chó già kêu nó leo lên kia rồi ra hiệu không cần cứu vì bác nghe rõ tiếng lũ biết rằng nó đã cận kề. Bố cõng bác Tư đến con dốc, Dinh thòng một thanh cây cứng xuống kêu bác Tư bám vào đó một tay cho chắc rồi kéo lên. Tuy có chút khó khăn và trượt chân mém ngã lần nữa, nhưng ông già đã thoát nạn nằm lăn qua một góc tựa vào đá núi, nước chỉ còn cách đó 50m. Bố ẵm con chó già một bên, một tay nắm thanh gỗ để Dinh kéo lên, nhưng rồi gã duộc tay nên Bố và con chó ngã lăn xuống lại đất bên dưới. Không kịp suy nghĩ gì nhiều, Bố hét to”Em chạy tới chỗ đó rồi tung nó lên anh chụp lấy”. Chưa kịp thủ thế, Dinh lao xuống vị trí gần nhất có thể thòng người xuống vách, Bố chạy thật nhanh lên mỏm đá nhô ra rồi hai tay hấc tung con chó già lên về phía Dinh. Gã trung niên túm được da cổ của con chó già nhưng do lói về trước nên xém tuột xuống, may sao bác Tư ghị theo được nên giữ chân Dinh lại. Chú chó được cứu khi nước lũ cách đó còn 10m, Bố nhanh chân bật dậy rồi leo lên kịp lúc. Cả ba người đàn ông vội đứng dậy leo lên cao hơn một chút nữa, họ ngã lăn ra mặt đất vì mệt, còn chú chó thì đang không đứng dậy được, có thể nó đã bị chấn thương đâu đó khi ngã xuống. Bác Tư đứng dậy có vẻ giận dữ, một tay bị đau nhưng vẫn túm cổ Bố dậy hét lên:”Ai kêu mày cứu tao, một thằng mất tích rồi không đủ sao”.

    Bác Tư buông tay bỏ Bố xuống đất rồi đến nằm cạnh con chó già đang im lặng nhưng vẫn vẫy đuôi liếm tay ông. Dinh đỡ Bố lên, cả hai ngồi một góc uống nước để định thần trở lại. Dinh choảng tỉnh nên nhớ ra liền hỏi lớn”có ai thấy một ni sư không, không biết đi về phía nào nữa, hai người có thấy không?”. Không ai thấy cả, Dinh và Bố đứng lên đi men lên cao một chút để nhìn xung quanh xem có dấu tích gì không nhưng không thấy. Tìm được một lúc thì dừng lại vì quá mệt, họ ngồi bệt xuống ăn một ít bánh ngọt lấy lại năng lượng.

    “Nãy anh thấy ni sư thật à”– Bố nhìn xuống dòng lũ đang đổ ầm ầm hỏi.

    “Thật, còn chỉ cho anh tìm được mỏ khoáng mà, gần đây nè”.

    “Mong là thoát được, chứ giờ mình cũng không đi tìm được, phải đợi lát mới rút, lũ này nhìn ghê vậy chứ trên kia ngớt mưa là lại không sao, họ đóng xả tùm lum mà không thông báo, nhiều trường hợp như mình hôm nay lắm”.

    “À hồi nãy bác Tư nói mất tích là nói ai”– Dinh đang nằm dưới đất thì bật dậy quay ra hỏi.

    “Anh cứu em coi như một lần rưỡi nên em kể, chứ bình thường em không muốn nhắc chuyện người khác. Chồng chị Lanh, bà chủ quán tối hôm thứ 6 anh ghé đó”– Bố lại nằm dài ra đất.

    “Hèn gì”.

    “Hèn gì sao, ai kể cho anh rồi hả”– Bố lôi trong túi áo ra gói thuốc lá đốt cho đỡ lạnh, đưa Dinh một điếu nhưng gã không hút.

    “À không kể tiếp đi, linh cảm thôi”.

    “Chuyện cũng 5-6 năm rồi, sau vụ cháy nhà bác Tư, chồng chi Lanh trước đó cũng có học nghề hay lại phụ gia đình bác Tư. Em cũng học mà một thời gian thấy mình không tịnh tâm được vô cục đất nên thôi cứ việc tay chân mà làm phụ thôi. Đợt đó cũng đi lấy đất trên vùng phía từ trạm bus đi lên ấy anh nhớ không, đó trên đó họ tìm thấy khoáng màu. Đợt đó em cũng đi chung mà lúc mò sâu vô trong rừng họ không cho em theo nữa. Em đợi tới khuya không được nên về báo kiểm lâm tìm, cả khu vực nháo cả lên, đèn pin rọi sáng cả quả đồi. Rốt cục cũng bị lũ như hôm nay, mà họ cách xa chỗ leo lên được, không thoát kịp, bác Tư hên đang đứng gần cái hang lưng chừng núi nên chui vô đó trú, lạnh quá ổng cũng ngất luôn mém chết, còn ông kia thì không thấy đâu. Họ tìm cả tháng trời, cách vài hôm là lại có toán tình nguyên đi lên tìm, có nhóm còn mém dính lũ lần nữa nên xã họ không cho đi nữa. Cả năm sau đó cứ lâu lâu bác Tư lại thuê vài người kiểm lâm cùng đi tìm mấy ngày, chẳng có tung tích gì. Họ đoán là năm đó bùn nó sạc dày quá nên vùi luôn xác. Lần nào đi ổng cũng báo chị Lanh, từ đó họ gắn bó nhau như cha con”.

    “Vậy là hòn đá có đốt nhang ở quán là ..”

    “À đúng rồi, anh cũng để ý phải không, chị Lanh để cho chồng đó, bả lụm hòn đá trong khu vực họ mất liên lạc”.

    Dinh xin một điếu thuộc của Bố, không hiểu sao gã lại chột dạ đến vậy.”Mình cũng như đang mất tích với vợ mình còn gì, nhưng sao mình lại nghĩ cô ấy chẳng thèm đi tìm mình đâu”, gã nghĩ như vậy khi nghe xong câu chuyện. Gã lại tự hỏi mình nếu vợ đột nhiên biến mất, gã sẽ thấy thế nào, có hoang mang đi tìm không, có gào thét như khi thấy con chó già đang trong vùng nguy hiểm không ? Nghĩ đến đây hắn khều Bố rồi nói là nhớ ra chú chó đang bị thương nên quay về nhà cho nó nghỉ ngơi rồi chiều họ đi lấy đất sau. Cả hai người quay lại chỗ ông Tư và con chó, Dinh dìu ông già còn Bố ẵm con chó, họ đi lên cao hơn một chút rồi vòng xuống để tránh dòng lũ đến được chỗ đậu xe máy cày, cả bốn thành viên đoàn thám hiểm lên xe về nhà.

  • Lạc hay đúng đường

    “Cọt kẹt”, tiếng cửa chiếc xe bus cũ kỹ như tâm hồn của gã đàn ông trung niên đang một mình lơ đãng nhìn ra ngoài cửa kính. Gã không nghe thấy tiếng xe dừng lại vài phút trước, tiếng nhốn nháo hành khách cũng dần tan đi, chỉ còn lại đôi lời trả giá của mấy người xe ôm với những hành khách cuối cùng còn sót lại, bao nhiêu tiền để được về nhà ?!. Gã vẫn ngồi đó bất động nhìn qua màn kính cửa sổ đóng một lớp sương dày như sự mơ hồ nào đó đã thôi thúc gã dốc vài đồng lẻ cuối cùng lên chuyến xe này, mờ mịt và vô định như khoảng thời gian qua sống trong làn khói cuộc đời. Gã nhìn thăm thẳm như xuyên qua muôn làn khói, bay trên những tầng cao đến với những thành phố xa lạ, gã không cần biết đó là đâu, chỉ cần một nơi nào đó khác là được, không còn sự lạnh lẽo đông cứng dưới cái nóng thiêu đốt ấy nữa, không còn nữa.”Không còn nữa”, gã lẩm bẩm một mình như nói với chính mình của nhiều năm trước và xa về phía những năm sau,”Không còn nữa”hắn nói với tấm cửa kính sương chiều phủ dày đặc.

    “Hôm nay sương xuống sớm, chắc lạnh lắm đây, anh về đâu cần em kêu xe ôm cho không ?”– Giọng nói của người tài xế trẻ tuổi như một cơn gió nhẹ tạm thổi tan đi mịt mù trước mắt. Người thanh niên nhỏ người, da hơi rám nắng, mắt anh ta cứ như muốn sụp xuống sau một chuyến đi dài, anh cố gắng bắt chuyện với người khách lạ mặt trong khi đang dọn dẹp rác trên xe. Người ta đến với anh khi mong mỏi được về nhà, để rồi bỏ lại anh một mình bên đống rác thải, không một lời cảm ơn,”Có lẽ trong suy nghĩ họ cảm ơn mình”anh nghĩ vậy rồi ngày qua ngày tiếp tục làm công việc của mình. 

    “Chú cho hỏi mấy giờ rồi, đây là đâu ?”– Gã trung niên khẽ bất giác quay về với thực tại, gã hỏi với giọng chậm rãi rồi lục lọi trong túi như đang tìm lại thứ gì đấy, điều gì đó đánh mất rồi chợt nhớ ra muốn tìm lại, dầu cho không rõ là có còn cần hay không nữa. 

    “Trời đất, anh hỏi gì kì vậy, trạm cuối rồi, thành phố Chạm, hồi nãy em thấy anh ngủ gục, hay đi huốc nhà luôn rồi ?”– Người tài xế ngồi xuống ghế đối diện, anh đặt cái túi đeo chéo của mình vòng ra sau lưng, người hơi cuối nhìn có vẻ dò xét người hành khách cuối cùng, câu hỏi có vẻ làm anh tỉnh ngủ như bộ phim bỗng đến phút bí hiểm, nhạc dồn dập vang lên để đi vào kịch tính.

    “Hừm, ra là đến tận Chạm, lâu rồi tôi cũng chưa đến đây, thôi xin lỗi làm phiền cậu, chắc tôi phải xuống xe rồi”– Gã vừa nói vừa nhìn quanh quất, dần tỉnh táo trở lại, đứng dậy vuốt quần áo cho thẳng thớm rồi bước xuống xe buýt, hai tay khoanh lại vào nhau vì lạnh. Người thanh niên đứng trên bậc cửa ra vào xe nhìn theo, một phần do dự vài phần lo lắng cho cái vẻ ngoài phờ phạc của người hành khách kỳ lạ, anh với tay phải lên định gọi nhưng rồi lại thôi. 

    Trạm xe đã không còn một ai, bên trong tòa nhà vận hành sót vài ánh đèn le lói, chẳng rõ là có người hay không. Bên trong cùng nhà giữ xe nhân viên có chiếc xe máy cũ, chắc hẳn của người tài xế cuối cùng về bến, mọi thứ đều như dừng lại trong giây lát, lặng lẽ trông nom nhau ở một nơi hiu hắt, thứ trông nom hiếm hoi không còn tìm thấy ở những thành phố nhộn nhịp. 

    Gã trung niên đứng trước cổng bến xe, cái lạnh làm gã không còn nghĩ gì cho thông suốt, nhìn quanh về phía con dốc bên phải cùng ngọn đồi bên trái và ánh đèn phố xá ở con đường phía trước mặt, đi lên đi xuống hay đi về phía an toàn ? Một cơn gió đột nhiên ùa từ ngọn đồi phía trên cao xuống dưới con dốc, những ánh đèn đường chập chờn treo trước nhà của người dân chớp tắt, những chiếc lá cuốn đi theo hình xoắn ốc về phía cuối con dốc sâu hoáy tưởng chừng như vô tân, nuốt đi tất cả hy vọng le lói cuối cùng. Những cuộn lá khô xoáy lúc hiện ra khi lại biến mất, nhìn từ xa gã thấy một đốm lửa đung đưa khi gió thổi ngang, xung quanh có một nhóm người đang tụ lại sưởi ấm và có thể đang nướng một vài thứ. Ánh nhìn của gã dừng lại ở họ bên đống lửa, cái lạnh thấu xương đã lấn áp toàn bộ tâm trí và hệ logic nơi một kẻ từng trải, một con ngựa đầy vết hằn đang chạy trên một thảo nguyên lạnh lẽo chỉ còn muốn có một đống lửa nhỏ cùng tiếng nói ấm áp của con người, những con người thật sự. Gã quyết định đi theo sự chỉ đường của cơn gió lạnh lẽo, với cái đầu trống trơn không mong ước gì ngoài đốm lửa nhỏ nhoi, một thứ gì đó còn le lói bên trong tảng băng tâm hồn già nua của mình. 

    Gió vẫn thổi rét buốt từ trên phía đồi xuống con dốc, gã kéo cái cổ áo sơ mi lên che cho bớt lạnh, chiếc áo còn mùi công sở trưa nay sót lại, gã như vừa mới chui ra từ một vũng bùn chưa kịp tắm rửa. Cơn lạnh đêm nơi đồi núi vẫn len lỏi vào da thịt làm gã đôi lúc như muốn buồn nôn, nhưng gã chịu được cái lạnh này, nó dễ chịu hơn nhiều so với cái lạnh mà hắn đã ngụp lặn suốt những năm qua. Cái lạnh tình người, có lúc gã chạy vội ra bờ sông vắng gần nhà, một mình, chỉ để nôn ra những thứ bản thân đã dự phần vào đó. Dần rồi nôn ra bờ sông như một nghi thức xưng tội, để mai gã còn tiếp tục mà sống, con sông như Chúa trời nhận lấy mọi tội lỗi dơ bẩn một cách thản nhiên, một bông hoa dại nở trong sương mai sẽ che mờ đi tất cả. Sự buồn nôn thì không, nó vẫn sẽ quay lại như một căn bệnh chưa được trị tận gốc, ít ra hôm nay gã đã dốc hết sức lực để đi tìm phương thuốc, dù không biết nó ở đâu và thậm chí có tồn tại hay không, gã chỉ không thể chịu đựng nổi thêm nữa.

    Hai tay bỏ vào túi quần tây dài màu xanh dương đậm, chiếc quần với cái mép quần đứt vài sợi chỉ sờn màu, không biết gã đã bỏ bê mình bao lâu, mà những người xung quanh gã đâu cũng không rõ. Chậm rãi đi từng bước xuống con dốc, đầu cúi xuống mặt đường, có một tiếng chuông gió bằng đá đâu đó vang lên như chào đón và đánh thức người khách lạ. Dưới lòng đường đã không còn chộn rộn xe cộ nữa, thay vào đó mấy chiếc lá đôi khi lại nối đuôi nhau đi ngang chạm vào cẳng tay trái gã, làm gã giật mình vì ngỡ mình còn ở phố thị. Trong cái không khí ấy, mọi thứ xung quanh đang như xầm xì bàn tán, dự đoán về câu chuyện của một người lạ. Đám lá đôi khi đang vẫy chào gã, còn đám côn trùng thì mon men tò mò đi theo, có ai đó cũng đứng nhìn ra từ trong nhà đang sáng đèn. Nhưng ở nơi đây đơn thuần đó là chuyện trò hơn là tọc mạch soi mói, kể nhau nghe rồi thôi, có lẽ trừ bọn côn trùng nhiều chuyện. 

    “Thịch”gã vấp phải một mảng gạch lát lề đường hơi chênh, một thứ tưởng chừng như không đúng vị trí lay gã tỉnh hơn trở lại, mặt ngẩng lên cao với chiếc lưng thẳng và đôi mắt mở to để nhìn xung quanh. Đốm lửa nhỏ và nhóm người khi nãy gã thấy khi còn ở trạm xe bus đã gần ngay trước mặt, lỏe nhòe trong đêm cách hắn đâu đó 50 mét. Bước tiếp với nhịp chân nhanh hơn, vừa đi gã vẫn lục lọi quanh túi mình như vẫn chưa tìm được thứ mình cần, gã còn lướt tay qua trước ngực áo mà quên mất nó không hề có túi. Bỗng gã đứng lại, lấy hai tay dụi mắt hai lần rồi đặt tay nhìn quanh qua lại vài lần, đám lửa nhỏ ở ngay trước hắn độ còn 5 mét. Hóa ra đó là một bụi bông Trang đỏ nở rực còn ở trên là cây Pháo Bông tỏa táng trổ hoa như bao phủ viền ngoài bụi bông Trang, vậy những người khi nãy hắn thấy ở đâu, họ đã đi đâu, hoa mắt sao, hay còn gì khác chưa rõ. Gã nhìn lên cao một chút về phía cái cổng rào đi vào ngôi nhà, giật bắn mình mém ngã lăn ra lề đường, bốn cái mặt người lùn đang cười trước mặt hắn. Thì ra là tượng gốm trang trí, có lẽ chẳng có gì buồn cười với gã lúc này lắm. Sau vài phút hoàn hồn, hắn nhìn lên phía trên dàn hoa Pháo Bông là một tấm bảng gỗ được đốt bằng đầu bút lửa để chạm trổ, trên đó ghi vỏn vẹn hai chữ”Quán Rụ”. Từ bên ngoài thì vẫn còn nghe thấy tiếng râm rang nói chuyện. Ngôi nhà nhìn từ xa cũng không có gì đặc biệt, hai bên đi vào có hàng hoa hồng Tiểu Muội nhỏ đang trổ hoa, đường đi vào không có đèn nên chỉ thấy vỏn vẹn năm sáu cái hoa sáng bật lên do ánh đèn trong nhà tỏa ra ngoài một ít, hay chúng chỉ nở có bao nhiêu thôi cũng chẳng rõ. Gã quay đi quanh lại vài bận, do dự với chút sợ hãi còn sót lại, nhưng quyết định đi vào, vì cũng đói lắm rồi. 

    Ngôi nhà trông giản tiện nhưng lại có vẻ rất chắc chắn và được xây cất tỉ mỉ, mọi thứ nhìn như những mảnh lego gỗ và đá xếp lại với nhau thông qua các khớp nối, chẳng thấy một vết đinh nào cả. Bên dưới sàn có ba tảng đá trung bình dùng để nâng sàn nhà bằng gỗ, có lẽ bên dưới là một hệ đá được thu xếp với nhau để đỡ lấy sàn. Ngôi nhà như toát lên cái tinh thần của không khí nơi đây, mọi thứ liên kết với nhau mà chẳng cần gán ghép phụ trợ, chẳng có gì bị thủng lỗ chỗ hay tổn thương quá mức cả, ngôi nhà cũng làm gã quên đi nỗi sợ mà thay vào đó là tò mò. 

    Bên trong chẳng có nhiều đồ nội thất bàn ghế gì nhưng lại hết sức lạ lùng, chỉ có mỗi ba cái bàn và mười cái ghế cùng vài bức tranh và một bàn thờ. Một chiếc bàn to nằm ở giữa nhà hình lục giác cùng sáu cái ghế xung quanh, cạnh cửa sổ bên trái nhìn ra khu vườn bên hông nhà là một bàn hình chữ nhật và một băng ghế dài nhỏ như chỉ dành cho hai người đang quay lưng, và một cái bàn hình vuông nhỏ lọt thỏm bên góc nhà bên phải với duy nhất một chiếc ghế có tựa lưng cho ai đó chỉ nhìn vào vách tường, hai cái ghế còn lại thì để rải rác ở hai góc trái phải ngoài cửa đi vào chẳng rõ là dành cho ai. Trên chiếc bàn nhìn ra ngoài vườn có một chiếc ly nhỏ bằng gốm, trong đó cắm duy nhất một cành hoa hồng hái trong vườn. Khi nhìn lên tường bên góc bàn hình vuông gã thấy một bức tranh vẽ khóm Trúc đang rụng lá xuống một con suối lởm chởm đá, trên đó có đề bốn câu thơ đã nhòe không đọc rõ. Chẳng có gì trên chiếc bàn to lục giác giữa nhà ngoài ba lọ gia vị muối tiêu đường cho đám đông ngồi đó. Cuối cùng là chiếc bàn thờ nằm bên cửa sổ phía phải, nhang được cắm vào một cục đất sét mềm, hương tỏa ra thoang thoảng làm dễ chịu như đất rừng, nhưng đặc biệt khi không thấy ai ngồi đó ngoài một hòn đá cuội tròn thô ráp. Cảnh tượng làm cảm xúc của gã lẫn lộn đan xen vào nhau, chút gì đó kỳ quái nhưng vô cùng thú vị nơi này, trong giây phút ấy hắn quên mất những ngổn ngang sau lưng của mình còn đó.

    Khi gã vào trong quán thì đã có năm thực khách, một ông già ngồi một mình bên trong chiếc bàn vuông, hai cô gái cùng nhau thầm thì ở băng ghế dài cạnh cửa sổ, họ có vẻ ưu tư không nhìn vào mặt nhau Trên chiếc bàn lớn giữa quán, một cậu nhóc khoảng cấp hai và anh chàng đâu đó gần ba mươi tuổi không có gì là thân thiết nhau ngồi cách xa hai cái ghế quanh bàn to ở giữa, nhìn họ như ai cũng có một câu chuyện thú vị để kể nhưng lại muốn được nghỉ ngơi vào một đêm lộng gió. Gã ngồi xuống bên trái cậu nhóc, vì đó có lẽ là lựa chọn khả dĩ và an toàn nhất cho một người lạ. Nhìn xung quanh tìm chủ quán thì không thấy đâu, cũng chẳng có thực đơn trên bàn hay thông tin nào được dán trên tường. Vừa quay đầu sang định xem cậu nhóc đang ăn gì thì có tiếng nói thỏ thẻ sau lưng gã vang lên, giọng nói thình lình đủ làm hắn một chút bồn chồn nhưng không hoảng hốt như khi đi vào:”Anh cứ gọi một trong những món mọi người đang ăn, nếu không thì quán chỉ còn có Phở”. 

    Đó là giọng của người đàn bà không còn trẻ, nhưng sức sống bên ngoài cùng sự thư thái toát ra khiến cô chưa thể già ở cái độ tuổi ấy. Tuy vậy những nếp nhăn li ti và bàn tay thô ráp của công việc chân tay lâu năm vẫn mang trong mình những câu chuyện từ rất lâu rồi. Cô ngồi trên chiếc ghế bên phải phía cửa đi vào, nhưng do cánh cửa che đi phần nào sự hiện diện của cô mà gã không nhận ra khi bước vô quán, hay sự thản lặng của cô khó mà nhận diện bởi một tên đang rối bời, cũng có thể cô cứ thế đột nhiên xuất hiện tại cuộc đời gã mà thôi. Cô đứng lên trong bộ váy hoa nhiều họa tiết trên nền vải màu như một tờ giấy sẫm màu, bên ngoài là chiếc tạp dề màu trắng. Cô đứng lên với đôi chân trần, đặt ly bia nhỏ xuống ghế, có lẽ cô đang tận hưởng cuối ngày làm việc của mình vì nghĩ sẽ chẳng còn ai đến quán nữa. 

    “Hừm, vậy cô cho tôi một tô Phở”– Gã trả lời sau vài giây nhìn quanh, cố gằng giọng một chút để toát lên vẻ trung niên của mình, cũng là để làm bản thân bình tĩnh hẳn.

    Cô không trả lời gì mà khẽ gật đầu cười cùng dấu hiệu OK bằng tay trái rồi bước vào trong bếp. Bước qua rèm vải đơn sơ bên lối trái vào bếp, để lại biết bao câu hỏi và năm con người xa lạ cho gã cùng một thứ gì đó gờn gợn. Đôi khi trong bếp phát ra tiếng tanh tách của củi cháy, đôi lúc lại lộc cộc của ly rượu ông già bàn vuông đặt xuống. Anh bạn trạc 30 thì đang hút điếu thuốc cùng lon bia và đĩa gân gà cháy tỏi anh ta nhìn gã với vẻ dò xét, hai cô gái bàn bên thì đang thầm thì chuyện của mình.

    “Hôm nay em thế nào?”– Cô gái gần 30 nghiêng sang một chút rồi hỏi, ngón tay phải áp út của cô lướt qua lại trên thành mép cái đĩa gốm nhỏ có vài chiếc bánh đúc cốt dừa, gạc một chút nước đường dính trên, có lẽ tâm hồn cô đang ở ngoài rìa một thế giới nào đó bất định, thoáng qua thoảng lại không biết đi đâu.

    “Đừng”- Cô gái trẻ hơn lấy ngón trỏ tay trái mình dừng tay cô kia lại, lộ ra một chiếc nhẫn, có lẽ cô gái đặt câu hỏi đã có chồng. Cô gái trẻ nhịp nhịp ngón tay mình vài ba cái trên chiếc nhẫn, nhìn xuống nó rồi vừa nói vừa ngẩng lên nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Chị đừng cố bắt chuyện khi không có gì để nói, thế này lại hay”– Cô gái trẻ sau vài giây nhìn ra cửa sổ thì cất tiếng, giọng cô ấm như đang nói bằng giọng mũi, cô lại nhìn vào hoa hồng trong chiếc ly nhỏ rồi đặt câu hỏi :”Chúng đang tự vệ trong lo âu hay chúng sinh ra là để tổn thương kẻ khác ?”; cô ngắt một cành hoa rồi đặt lên trên một chiếc bánh, mặt cúi nhìn chúng.

    “Có lẽ đó là phần cứng cỏi trong chúng, để có trách nhiệm tránh cho thế giới này trở nên phù phiếm, nếu chúng buông thả, có lẽ chính chúng cũng không còn biết quý trọng gì nữa”– Cô gái lớn hơn nhặt cánh hoa rồi treo chúng lên gai của chính cành hoa trong ly. Cánh hoa hồng như đang giãy dụa, dùng dằng, không phải đau khổ mà day dứt trong lưỡng nan. 

    Gã ngồi gần họ nhất nên nghe rõ những lời ưu niệm thật đẹp mà thật u sầu đấy, có lẽ những người khác cũng nghe thấy và ngẫm nghĩ về thân phận mình. Đúng lúc đó người chủ quán mang lên cho gã bát Phở bò nóng hổi, ở một nơi lạnh lẽo heo hút này càng làm chúng tỏa khói nghi ngút trông bắt mắt hơn nữa, có vẻ như một ông Bụt nào đó sẽ hiện ra để cứu giúp đời gã chăng. Chẳng có ai hiện ra cả, chỉ có mình gã và tô Phở trước mặt.

    “Cô cho hỏi còn bánh đúc không, lâu tôi không ăn mà nhìn anh bạn nhỏ ăn ngon quá nên thèm”– Thật ra gã nhìn sang hai cô gái bàn bên mà tránh không nói vì mong họ thoải mái có những phút giây trò chuyện cùng nhau.

    “À còn một ít mẹ tôi gửi từ miệt miền Tây lên chứ ở đây không làm, anh ăn phải đợi sơ chế, lạnh ăn không có ngon”– Cô chủ quán vừa nói vừa chỉ tay vào bếp.

    “Ngoài ra hôm nay thiếu gừng nên con thấy thiếu thiếu”– Cậu nhóc ngồi bên cạnh gã ngẩng đầu lên nói, miệng cười mím môi nhe tới mang tai híp luôn cả mắt.

    “Cũng phải, sáng nay quên mất, xin lỗi nha nhỏ”– Chủ quán vén váy gọn gàng trong khi khụy gối xuống bàn vừa nói vừa nhìn cười cùng vị khách nhỏ tuổi. 

    “Không có chắc cũng không sao đâu hả, một ít gừng chắc không ảnh hưởng nhiều“.

    “Xin lỗi, tôi thấy ăn cũng ổn anh à, đúng là cảm giác không trọn vẹn nhưng có lẽ không sao do bánh của bà chủ ngon dai lắm, anh thử xem sao”– Cô gái lớn tuổi quay lưng lại gặt đầu với gã rồi vừa nói vừa gãi gò má. Cô có mái tóc dài qua khỏi vai một xíu, ăn bận gọn gàng với tông màu hơi nhạt, dưới ánh đèn vàng cô như bước ra từ một bức tranh cũ kĩ, không buồn chán nhưng có phần phai mờ dần.

    “Vậy thì tình yêu ở đâu trên đời này nữa”– Cô gái trẻ vừa nằm dài ra bàn vừa khều khều cánh hoa hồng trên gai nhọn.

    Trong phút chốc cả không gian im lặng không còn một lời nào. Cảm giác một hang sâu nào đó bao trùm mọi thứ xung quanh đến nổi chẳng ai thốt ra nổi, thậm chỉ là không thể nghĩ được gì, chỉ còn lại tiếng buông đũa đặt lên đĩa gốm của ông già bên bàn vuông, ông ta đã định quay đầu nhìn lại sau lưng nhưng rồi lại thôi.  

    Cô thực khách lớn hơn bối rối, quay người đứng lên khều khều tay cô gái trẻ làm cô bật dậy quay ra nhìn. Cô ngay lập tức nhận thấy mình đã tạo nên không khí có phần hơi khó xử này, dù cho cô chẳng có tội tình gì khi hỏi một điều cô còn băn khoăn. Cô quay người đứng lên cúi đầu xin lỗi hai lần, cô làm gã trung niên cũng bối rối theo, cả hai cùng cúi gật đầu xin lỗi qua lại :”Xin lỗi tôi đã làm ồn không gian của hai người”đó là lời thú tội gã đưa ra trong khi lại thích thú lúc quan sát chuyện trước đó. Tạ lỗi vì sự thích thú, hóa ra những niềm hứng khởi đều là tội lỗi chăng ? Cũng không đến như vậy.

    “Nhịn không nổi một bữa bánh đúc không gừng, thì nói gì đến tình yêu, không đáng, không đáng nhận, không đáng”– Người thanh niên trạc 30 tuổi giọng lè nhè say quơ tay quơ chân cầm ly bia loạng choạng xém ngã. Hắn đang định nói thêm gì đó thì bà chủ quán nhanh tay dực cái bánh cuối cùng trong đĩa thằng nhỏ, nhét vào miệng anh ta. Cô quay ra đá lông nheo với thằng nhỏ rồi nói thêm :”Hôm nay miễn phí con về mai còn đi học”

    Thằng nhỏ có vẻ bực mình, cầm đũa chọt chọt vào đĩa, nhưng rồi nó cũng đứng dậy rời đi, trước khi đi nói quay ra nói với ông già ngồi trong góc bàn vuông :”Con về trước nha ông Tư”. Ông già không nói gì mà giơ tay lên, để lộ ra một ít đất sét đông cứng còn sót lại đằng sau bàn tay, không rõ là chuyện gì. Cô chủ quán thu xếp để mọi người ngồi lại vào chỗ cũ, sau đó bưng dọn đĩa rồi lau bàn chỗ thằng nhỏ vừa rời đi. Gã trung niên ngồi xuống ăn tô phở, lâu lâu lại nhìn anh bạn đang ngồm ngoàm cục bánh đúc như bị mắc nghẹn, gã đang suy nghĩ gì đó về lời của anh ta.  

    “Bánh cũng ngon quá bà chủ, chắc lâu không được ăn thế nào thấy cũng ngon, cho thêm lon bia đi chị già ơi, làm gì mà căng vậy, say thôi mà”– Người thanh niên vừa nhai vừa nói vào trong bếp nhưng bị từ chối”Đi về đi, nay uống lố rồi đó, không bán nữa đâu”.

    “Về thì về, không cho say thì thôi, ít ra tui còn dám say tình, hơn khối kẻ chưa bước ra khỏi nhà mà chê ma chê quỷ”– Hẳn bỏ tiền xuống rồi kẹp dưới ly bia cạn, vừa đi vừa quơ quào loạng choạng nhưng cũng ra được tới cổng, hắn còn khép cổng ngay ngắn trước khi đi, một gã say ngông cuồng tử tế.

    “Suốt ngày”– Cô chủ quán nhìn theo, hai tay chống nạnh, cô không lắc đầu vẻ ngao ngán, chỉ là một câu cảm thán cho anh bạn trẻ, cũng có thể cô còn nhớ về ngày xưa của mình chăng ?

    “Anh bạn đó nói cũng có lý mà, đôi khi tôi nghĩ mình không đủ sức sống để yêu thương. Mà thôi, cô có thể cho tôi một ít chanh được không ?”– Anh ta nhìn vô tô phở hay đang nhìn chính mình, nhìn những thứ đã qua, sức sống của anh ta có trở lại trong đó chưa ?

    “Anh bước ra hái giúp tôi, nó ở bên trái chỗ tôi treo cây đèn, anh thông cảm hôm nay tôi bận quá nên thiếu sót đủ thứ cả”– Cô nhóm mũi chân rồi hướng về phía trước chỉ về chỗ cây đèn, từ chỗ của gã thấy rõ chanh đang rất sai quả.

    “Làm sao để biết quả nào dùng được”– Gã buộc miệng hỏi rồi tự dưng thấy sao mình lại hỏi ngớ ngẩn như vậy.

    “Người thành thị phải không, anh cứ ra chạm vào nó, nắm chặt một chút là biết ngay mà” – Cô chủ quán lại ngồi gần bên gã, nhìn về phía những quả chanh trên cành đang chở được hái.

    “Thật ngớ ngẩn”, gã nghĩ về mình như vậy khi đứng dưới ngước cổ nhìn lên cây chanh. Hắn đưa tay lên cao dè dặt, có vẻ người thành thị nào cũng sợ cây cối một cách kì lạ. Trong lúc ấy hắn nghe giọng nói trầm của cô gái trẻ bên trong phát ra dù không rõ lắm”Còn chị thì sao, sức sống để yêu”, cô gái lớn tuổi hơn đáp cái gì đó về khổ và chịu đựng. Đúng lúc đó gai chanh đâm vào vai gã, bao nhiêu khổ của hai người con gái kia với hắn biến đâu mất hết, ký ức khi nhỏ đi hái chanh ở quê nhà thế chỗ hiện về mồn một như gã chưa bao giờ rời đi khỏi đó vậy. 

    “Mình đã từng là đứa trẻ vui vẻ, một người năng nổ và lý tưởng. Mọi thứ mình đều vạch ra kế hoạch rõ ràng, để thành công, để có gia đình đầm ấm, để hạnh phúc !!! Sao mọi thứ lại thế này, sao mọi thứ lại vuột mất như vậy, sao không mãi ở cái làng nhỏ đó mãi mãi cười đùa. Sao mình lại ở một nơi xa xôi kỳ lạ này với những con người mình còn chẳng rõ họ có tồn tại không nữa”– trong suy nghĩ có những ám ảnh bắt đầu xuất hiện, hàng ngàn tấn bông gòn bao quanh, gã vẫn chuyển động nhưng chẳng thể biết được mình đang ở đâu và chuyện gì tiếp theo. Hết đám bông gòn thì thay vào đó là đống quả chanh khổng lồ chèn vào người gã, đôi mắt cay xè còn đầu lưỡi thì đắng nghét. Bỗng nhiên dám chanh rung lên , xa trong không trung có tiếng ai đó gọi”Này anh, này”. Cái đẩy nhẹ vai của cô chủ quán làm gã trung niên bừng tỉnh trong cơn ho thốc và rơi nước mắt. Cô lắc nhẹ gã thêm lần nữa rồi hỏi”Sao anh lại đưa chanh lên mặt rồi bóp mạnh thế này, tôi nói chạm vào là biết ngay thôi mà, trời ơi dân thành phố”.

    Cô chủ quán vừa hỏi gã tự đi vào được không, vừa đi sau lưng gã để trông chừng, cô cũng không muốn chạm vào một người đàn ông lạ mặt, chỉ trông nom nhau như một con người. Cô đi vào nhà lấy cái khăn mặt ướt và một con dao nhỏ, để gã lau mặt vừa là để sắc chanh ăn tiếp tô phở còn hơi âm ấm. Hai người bàn bên cũng quay ra xem gã có cần giúp gì không nhưng rồi họ về lại thế giới của mình, nơi có cánh hoa hồng treo dày vò trên gai gió. Ông già thì lặng thinh như hòn đá dưới suối trong bức tranh treo trên tường, có lẽ lão đang cố nhớ ra bốn câu thơ đã nhòe kia. 

    Không gian trở lại như lúc gã vừa mới bước vào quán, cô chủ rót tiếp một cốc bia nhỏ ngồi vào góc với cái tạp dề đã gỡ, hai cô gái thì trò chuyện gì đó của họ gã cũng không nghe rõ lắm vì vẫn chưa hoàn hồn dù đang từ từ ăn nốt tô phở đã dần nguội. Một cơn gió thổi đập vào cửa sổ nơi có cái bàn thờ, viên đã rơi xuống, lăn lộc cộc vài ba tiếng dưới sàn, cô chủ quán nhặt nó lên rồi chắp tay vài ba cái cho điều gì đó hay ai đó đã không còn hay là chưa đến. Một hạt đất sét cứng khô trên tay ông già rơi xuống, lão cúi xuống nhặt lên để qua một bên bàn rồi rót tiếp một ly rượu nhỏ. Tiếng rù rì của hai cô gái lặn dần xuống, từ ngữ ít đi mà nỗi niềm ngày một dâng lên. Ngẫm nhìn lại gã lại thấy, ở một vùng đất hẻo lánh mà họ văn mình hơn khối kẻ thành thị luôn coi mình là hiện đại, không ai xét nếp ai dù sự thể có phần hơi trái lẽ thường, có lẽ họ hiểu, trái lẽ thường là bản chất của một con người bình thường. 

    “Chị chưa bao giờ dám khởi đầu, em về đây” – Cô gái trẻ vừa nói vừa đứng dậy vùng chạy ra khỏi quán, người còn lại lặng lẽ nhìn theo đợi cho bóng cô không còn nhìn thấy thì mới quay vào trong, cô xin chủ quán cho cô xin lửa để đốt một điếu thuốc loại nhỏ, rồi ngồi đó một mình.

    Điếu thuốc trên tay cô thực khách còn lại vừa tàn một nửa, cô không hút nữa mà gác nó lên trên miệng ly hoa hồng, chờ cho nó cháy dần rồi tự lọt vào hố sâu không bật dậy nổi.”Chỉ sợ đó là khởi đầu của một bất hạnh mới mà thôi”cô thầm thì trong lặng lẽ như đang tự nói với cả cuộc đời mình vậy. Cô chú quán cũng vừa cạn ly bia, cô đặt xuống đi dọn tô phở cho gã trung niên rồi mang lên đĩa bánh đúc gã gọi trước đó, có lẽ cô đợi xem thực khách của mình ăn hết món nào mới mang lên món khác, kẻo lại no rồi thì thừa mứa. Cô mang đĩa bánh lên, dùng đũa gắp một miếng gừng đặt lên trên,”tôi phát hiện còn dư một ít nên đập ra cho vào nồi nước đường nóng, mời anh”. Cô lùi lại, quay người về phía cô khách cuối cùng hôm nay, xoa lưng cô ấy nhè nhẹ, có vẻ họ quen nhau từ trước nên hiểu chuyện gì đó đã xảy ra cho nhau. Trước cổng có tiếng bước chân dồn dập từ ngoài chạy vào quán, chủ quán bước từ trong bếp ra xem là ai, hóa ra là anh chàng tài xế xe bus mà gã trung niên gặp khi nãy. 

    “Ai giống con bé Gấm em gái em vậy chị, nhỏ vừa hớt hải chạy ra khỏi cổng em chưa kịp nhìn, giờ này nó đi đâu vậy ta, tưởng phải ở nhà ôn thi chứ”– Anh ta một tay chống nạnh một tay gãi đầu quay quay nhìn hỏi cô chủ quán.

    “Sao hôm nay về trễ vậy, làm ly bia lạnh đi, thở gì mà hổn hển như trâu”– Cô chủ quán tránh không trả lời, có lẻ cô gái trẻ vừa rồi đúng là em gái anh ta, cô đi vào trong rang một ít đậu phộng mà không nói gì thêm cả.

    Tội nghiệp anh chàng một thì tội cho cô gái bàn bên mười, cô loay hoay thu dọn túi xách và áo khoác, đánh rơi cả chìa khóa xuống nền nhà. Anh tài xế cúi nhặt dùm thì cô tránh ánh mắt không nhìn rồi giật nhanh lấy chìa khóa, đứng lên để tờ tiền 500k lại luôn trên cái bánh ăn còn dang dở rồi chạy nhanh ra khỏi cửa. Giờ thì thật tội nghiệp cho anh chàng chẳng hiểu chuyện gì, cứ gãi đầu rồi loay hoay mãi không biết trời trăng. Anh ta ngồi xuống ghế bên trái gã trung niên, vẫn còn chưa hiểu mô tê gì thì chợt thấy người quen khi nãy nên thốt lên”Ủa anh hả, nãy em còn lo cho anh định chạy theo coi có sao không, ai dè. Có duyên ghê, chú uống với con vài ly chơi cho ấm nha”. Gã trung niên cũng chẳng nghĩ ngợi được gì, ngày hôm nay đã quá nhiều sự kiện làm gã như lạc vào một bức tranh lễ hội huyên náo, tâm trạng luyến láy lẫn lộn hư thực. Hắn quyết định uống một phen mà quên mất túi chẳng còn một xu.

    “Mà sao anh lại trong bộ dạng như lúc nãy mà đến đây, ý em là nhìn anh bệ rạc lắm”– Sau vài ly ngà ngà say, vài ba câu chuyện tự thoại về bản thân thì anh tài xế bus hỏi . Anh ta là vậy, một người huyên náo, ngây ngô đến mức đôi khi vô tình tọc mạch mà không hay biết.

    “Kệ người ta mày, nhìn mày coi, toàn mùi dầu khí chứ ở đó mà chê”– Cô chủ quán cảm thấy câu hỏi quá đà nên nhanh miệng chen vào. Giọng điệu của cô có vẻ mọi người ở đây đều gắn bó, họ biết về nhau rõ nhưng cũng tế nhị không xen vào thô lỗ.

    “Không sao không sao cô, tôi bệ rạc thật mà. Anh đi lạc, ngủ quên, có lẽ quên luôn mình là ai, lạc luôn nơi mình đến”– Gã trung niên cúi đầu lè nhè đáp, gã sống lành mạnh và nguyên tắc nên ít khi động vào rượu, sau vài ba ly đã như người mơ màng.

    “Cái miệng em bậy rồi, xin lỗi anh, chị Lanh cho em thêm một xị tạ tội đi, à còn mồi gì cho em một ít nay đói quá”– Anh bạn lại gãi đầu cúi cúi rồi nói với cô chủ quán, hóa ra cô ấy tên Lanh

    “Ít thôi nha, để tui còn ngủ, bác Tư mà về là hai ông cũng phải đi chỗ khác cho tui đó, có mình tui ai dám chứa hai ông xỉn”- Chị Lanh vừa nói vừa chỉ tay về phía ông già Tư bên góc bàn có bức tranh, ông đang ngồi xếp mấy hạt đậu theo những hình thù đẹp mắt nhưng không rõ là gì. 

    Lanh đi vào bếp làm cho họ một đĩa cơm thập cẩm, gồm những gì còn sót lại trong bếp. Trong lúc đầu bếp làm đồ ăn, gã trung niên bắt đầu lè nhè kể về cuộc đời mình, từ trong bếp Lanh nghe rõ cả, có những đoạn do say nên không rõ ràng lắm nhưng nhìn chung cô phần nào hình dung được người khách lạ này, lạ đã trở thành quen chỉ sau một đêm, chung quy đời người cũng chẳng có mấy thứ để kể. Cô chủ quán làm một chảo to chia làm ba đĩa, cô đưa cho hai gã say một đĩa to, một đĩa nhỏ cô mang qua cho bác Tư,”con mời bác”, rồi ông đáp”cảm ơn chị”. Cô mang một đĩa nhỏ ngồi xuống góc quen thuộc của mình, ngồi đó dùng bữa cơm muộn của người phục vụ, những người chẳng mấy khi kể nhưng lại nghe rất nhiều.

    Được một lát sau, hai gã kia đã say khướt, cầm ly rượu không lên nổi, giọng nói cũng không ai nghe nổi. Gã trung niên thò tay vào túi thì chợt nhớ ra mình không còn tiền, gã hoảng hốt loay hoay, miệng cứ nói”Xin lỗi tôi đi vội không mang theo tiền”, vài ba câu đã gục xuống bàn mơ mơ màng màng. Đúng lúc đó ông Tư đứng lên, nhìn bức tranh rồi đọc lên một bài thơ bốn câu, có lẽ ông đã nhớ ra hay là tự đề tác.

    Nước trên nguồn chảy tuôn xuống hạ

    Người trên đời trôi nổi xót xa

    Khe suối nhỏ cánh hoa rơi rụng

    Hòn đá vùi chẳng tụng mà thông

    “Tiền đây Lanh, tính luôn tụi nó, còn Khắc, mày dẫn thằng này về xưởng tao, mai qua tính sau. Thôi bác Tư về nha con.”– Sau khi cảm tác một bài thơ giữa đêm khuya nơi núi rừng lạnh thiết, bác Tư quay ra nói với cô chủ quán rồi khều đầu anh tài xế xe bus tên Khắc. Trong mơ màng, gã trung niên chỉ nghe thấy mỗi bài thơ và”mai qua tính sau”.

    Đêm hôm ấy, mọi người đều yên bề khi về nhà, Lanh dọn dẹp quán sạch sẽ, lau hòn đá trên bệ thờ rồi đốt thêm một nén nhang. Cô kê mấy cái bàn trong quán lại, hóa ra bàn vuông để kê đầu, bàn chữ nhật gác chân, cứ thế cô đặt gối và mền ra rồi ngủ sau một ngày bình thường của người nơi đây, đâu đó cũng có vài điều lạ nhưng có lẽ rồi cũng sẽ kết thúc. Sau khi dẫn gã trung niên lạ về xưởng bác Tư, Khắc về nhà khẽ mở cửa phòng em gái thì thấy Gấm đã ngủ, vốn người tính đơn giản, anh cũng quên luôn bóng hình lờ mờ vùng chạy ra khi nãy ở Quán Rụ. Mai anh không làm việc gì nên mở tivi lên coi phim, mà không phải, là nghe phim mới đúng, anh chỉ mở để có tiếng người cho dễ ngủ, có lẽ anh đã quen không khí trên xe bus. Còn bác Tư thu xếp xong cho người lạ ngủ thì ra ngoài đi dạo cùng con chó già chỉ còn đâu đó chục cái răng, ông thích nhất giây phút này trong ngày, mọi thứ thật êm ái và xinh đẹp. 

  • Lạc hay đúng đường

    “Cọt kẹt”, tiếng cửa chiếc xe bus cũ kỹ như tâm hồn của gã đàn ông trung niên đang một mình lơ đãng nhìn ra ngoài cửa kính. Gã không nghe thấy tiếng xe dừng lại vài phút trước, tiếng nhốn nháo hành khách cũng dần tan đi, chỉ còn lại đôi lời trả giá của mấy người xe ôm với những hành khách cuối cùng còn sót lại, bao nhiêu tiền để được về nhà ?!. Gã vẫn ngồi đó bất động nhìn qua màn kính cửa sổ đóng một lớp sương dày như sự mơ hồ nào đó đã thôi thúc gã dốc vài đồng lẻ cuối cùng lên chuyến xe này, mờ mịt và vô định như khoảng thời gian qua sống trong làn khói cuộc đời. Gã nhìn thăm thẳm như xuyên qua muôn làn khói, bay trên những tầng cao đến với những thành phố xa lạ, gã không cần biết đó là đâu, chỉ cần một nơi nào đó khác là được, không còn sự lạnh lẽo đông cứng dưới cái nóng thiêu đốt ấy nữa, không còn nữa.”Không còn nữa”, gã lẩm bẩm một mình như nói với chính mình của nhiều năm trước và xa về phía những năm sau,”Không còn nữa”hắn nói với tấm cửa kính sương chiều phủ dày đặc.

    “Hôm nay sương xuống sớm, chắc lạnh lắm đây, anh về đâu cần em kêu xe ôm cho không ?”– Giọng nói của người tài xế trẻ tuổi như một cơn gió nhẹ tạm thổi tan đi mịt mù trước mắt. Người thanh niên nhỏ người, da hơi rám nắng, mắt anh ta cứ như muốn sụp xuống sau một chuyến đi dài, anh cố gắng bắt chuyện với người khách lạ mặt trong khi đang dọn dẹp rác trên xe. Người ta đến với anh khi mong mỏi được về nhà, để rồi bỏ lại anh một mình bên đống rác thải, không một lời cảm ơn,”Có lẽ trong suy nghĩ họ cảm ơn mình”anh nghĩ vậy rồi ngày qua ngày tiếp tục làm công việc của mình. 

    “Chú cho hỏi mấy giờ rồi, đây là đâu ?”– Gã trung niên khẽ bất giác quay về với thực tại, gã hỏi với giọng chậm rãi rồi lục lọi trong túi như đang tìm lại thứ gì đấy, điều gì đó đánh mất rồi chợt nhớ ra muốn tìm lại, dầu cho không rõ là có còn cần hay không nữa. 

    “Trời đất, anh hỏi gì kì vậy, trạm cuối rồi, thành phố Chạm, hồi nãy em thấy anh ngủ gục, hay đi huốc nhà luôn rồi ?”– Người tài xế ngồi xuống ghế đối diện, anh đặt cái túi đeo chéo của mình vòng ra sau lưng, người hơi cuối nhìn có vẻ dò xét người hành khách cuối cùng, câu hỏi có vẻ làm anh tỉnh ngủ như bộ phim bỗng đến phút bí hiểm, nhạc dồn dập vang lên để đi vào kịch tính.

    “Hừm, ra là đến tận Chạm, lâu rồi tôi cũng chưa đến đây, thôi xin lỗi làm phiền cậu, chắc tôi phải xuống xe rồi”– Gã vừa nói vừa nhìn quanh quất, dần tỉnh táo trở lại, đứng dậy vuốt quần áo cho thẳng thớm rồi bước xuống xe buýt, hai tay khoanh lại vào nhau vì lạnh. Người thanh niên đứng trên bậc cửa ra vào xe nhìn theo, một phần do dự vài phần lo lắng cho cái vẻ ngoài phờ phạc của người hành khách kỳ lạ, anh với tay phải lên định gọi nhưng rồi lại thôi. 

    Trạm xe đã không còn một ai, bên trong tòa nhà vận hành sót vài ánh đèn le lói, chẳng rõ là có người hay không. Bên trong cùng nhà giữ xe nhân viên có chiếc xe máy cũ, chắc hẳn của người tài xế cuối cùng về bến, mọi thứ đều như dừng lại trong giây lát, lặng lẽ trông nom nhau ở một nơi hiu hắt, thứ trông nom hiếm hoi không còn tìm thấy ở những thành phố nhộn nhịp. 

    Gã trung niên đứng trước cổng bến xe, cái lạnh làm gã không còn nghĩ gì cho thông suốt, nhìn quanh về phía con dốc bên phải cùng ngọn đồi bên trái và ánh đèn phố xá ở con đường phía trước mặt, đi lên đi xuống hay đi về phía an toàn ? Một cơn gió đột nhiên ùa từ ngọn đồi phía trên cao xuống dưới con dốc, những ánh đèn đường chập chờn treo trước nhà của người dân chớp tắt, những chiếc lá cuốn đi theo hình xoắn ốc về phía cuối con dốc sâu hoáy tưởng chừng như vô tân, nuốt đi tất cả hy vọng le lói cuối cùng. Những cuộn lá khô xoáy lúc hiện ra khi lại biến mất, nhìn từ xa gã thấy một đốm lửa đung đưa khi gió thổi ngang, xung quanh có một nhóm người đang tụ lại sưởi ấm và có thể đang nướng một vài thứ. Ánh nhìn của gã dừng lại ở họ bên đống lửa, cái lạnh thấu xương đã lấn áp toàn bộ tâm trí và hệ logic nơi một kẻ từng trải, một con ngựa đầy vết hằn đang chạy trên một thảo nguyên lạnh lẽo chỉ còn muốn có một đống lửa nhỏ cùng tiếng nói ấm áp của con người, những con người thật sự. Gã quyết định đi theo sự chỉ đường của cơn gió lạnh lẽo, với cái đầu trống trơn không mong ước gì ngoài đốm lửa nhỏ nhoi, một thứ gì đó còn le lói bên trong tảng băng tâm hồn già nua của mình. 

    Gió vẫn thổi rét buốt từ trên phía đồi xuống con dốc, gã kéo cái cổ áo sơ mi lên che cho bớt lạnh, chiếc áo còn mùi công sở trưa nay sót lại, gã như vừa mới chui ra từ một vũng bùn chưa kịp tắm rửa. Cơn lạnh đêm nơi đồi núi vẫn len lỏi vào da thịt làm gã đôi lúc như muốn buồn nôn, nhưng gã chịu được cái lạnh này, nó dễ chịu hơn nhiều so với cái lạnh mà hắn đã ngụp lặn suốt những năm qua. Cái lạnh tình người, có lúc gã chạy vội ra bờ sông vắng gần nhà, một mình, chỉ để nôn ra những thứ bản thân đã dự phần vào đó. Dần rồi nôn ra bờ sông như một nghi thức xưng tội, để mai gã còn tiếp tục mà sống, con sông như Chúa trời nhận lấy mọi tội lỗi dơ bẩn một cách thản nhiên, một bông hoa dại nở trong sương mai sẽ che mờ đi tất cả. Sự buồn nôn thì không, nó vẫn sẽ quay lại như một căn bệnh chưa được trị tận gốc, ít ra hôm nay gã đã dốc hết sức lực để đi tìm phương thuốc, dù không biết nó ở đâu và thậm chí có tồn tại hay không, gã chỉ không thể chịu đựng nổi thêm nữa.

    Hai tay bỏ vào túi quần tây dài màu xanh dương đậm, chiếc quần với cái mép quần đứt vài sợi chỉ sờn màu, không biết gã đã bỏ bê mình bao lâu, mà những người xung quanh gã đâu cũng không rõ. Chậm rãi đi từng bước xuống con dốc, đầu cúi xuống mặt đường, có một tiếng chuông gió bằng đá đâu đó vang lên như chào đón và đánh thức người khách lạ. Dưới lòng đường đã không còn chộn rộn xe cộ nữa, thay vào đó mấy chiếc lá đôi khi lại nối đuôi nhau đi ngang chạm vào cẳng tay trái gã, làm gã giật mình vì ngỡ mình còn ở phố thị. Trong cái không khí ấy, mọi thứ xung quanh đang như xầm xì bàn tán, dự đoán về câu chuyện của một người lạ. Đám lá đôi khi đang vẫy chào gã, còn đám côn trùng thì mon men tò mò đi theo, có ai đó cũng đứng nhìn ra từ trong nhà đang sáng đèn. Nhưng ở nơi đây đơn thuần đó là chuyện trò hơn là tọc mạch soi mói, kể nhau nghe rồi thôi, có lẽ trừ bọn côn trùng nhiều chuyện. 

    “Thịch”gã vấp phải một mảng gạch lát lề đường hơi chênh, một thứ tưởng chừng như không đúng vị trí lay gã tỉnh hơn trở lại, mặt ngẩng lên cao với chiếc lưng thẳng và đôi mắt mở to để nhìn xung quanh. Đốm lửa nhỏ và nhóm người khi nãy gã thấy khi còn ở trạm xe bus đã gần ngay trước mặt, lỏe nhòe trong đêm cách hắn đâu đó 50 mét. Bước tiếp với nhịp chân nhanh hơn, vừa đi gã vẫn lục lọi quanh túi mình như vẫn chưa tìm được thứ mình cần, gã còn lướt tay qua trước ngực áo mà quên mất nó không hề có túi. Bỗng gã đứng lại, lấy hai tay dụi mắt hai lần rồi đặt tay nhìn quanh qua lại vài lần, đám lửa nhỏ ở ngay trước hắn độ còn 5 mét. Hóa ra đó là một bụi bông Trang đỏ nở rực còn ở trên là cây Pháo Bông tỏa táng trổ hoa như bao phủ viền ngoài bụi bông Trang, vậy những người khi nãy hắn thấy ở đâu, họ đã đi đâu, hoa mắt sao, hay còn gì khác chưa rõ. Gã nhìn lên cao một chút về phía cái cổng rào đi vào ngôi nhà, giật bắn mình mém ngã lăn ra lề đường, bốn cái mặt người lùn đang cười trước mặt hắn. Thì ra là tượng gốm trang trí, có lẽ chẳng có gì buồn cười với gã lúc này lắm. Sau vài phút hoàn hồn, hắn nhìn lên phía trên dàn hoa Pháo Bông là một tấm bảng gỗ được đốt bằng đầu bút lửa để chạm trổ, trên đó ghi vỏn vẹn hai chữ”Quán Rụ”. Từ bên ngoài thì vẫn còn nghe thấy tiếng râm rang nói chuyện. Ngôi nhà nhìn từ xa cũng không có gì đặc biệt, hai bên đi vào có hàng hoa hồng Tiểu Muội nhỏ đang trổ hoa, đường đi vào không có đèn nên chỉ thấy vỏn vẹn năm sáu cái hoa sáng bật lên do ánh đèn trong nhà tỏa ra ngoài một ít, hay chúng chỉ nở có bao nhiêu thôi cũng chẳng rõ. Gã quay đi quanh lại vài bận, do dự với chút sợ hãi còn sót lại, nhưng quyết định đi vào, vì cũng đói lắm rồi. 

    Ngôi nhà trông giản tiện nhưng lại có vẻ rất chắc chắn và được xây cất tỉ mỉ, mọi thứ nhìn như những mảnh lego gỗ và đá xếp lại với nhau thông qua các khớp nối, chẳng thấy một vết đinh nào cả. Bên dưới sàn có ba tảng đá trung bình dùng để nâng sàn nhà bằng gỗ, có lẽ bên dưới là một hệ đá được thu xếp với nhau để đỡ lấy sàn. Ngôi nhà như toát lên cái tinh thần của không khí nơi đây, mọi thứ liên kết với nhau mà chẳng cần gán ghép phụ trợ, chẳng có gì bị thủng lỗ chỗ hay tổn thương quá mức cả, ngôi nhà cũng làm gã quên đi nỗi sợ mà thay vào đó là tò mò. 

    Bên trong chẳng có nhiều đồ nội thất bàn ghế gì nhưng lại hết sức lạ lùng, chỉ có mỗi ba cái bàn và mười cái ghế cùng vài bức tranh và một bàn thờ. Một chiếc bàn to nằm ở giữa nhà hình lục giác cùng sáu cái ghế xung quanh, cạnh cửa sổ bên trái nhìn ra khu vườn bên hông nhà là một bàn hình chữ nhật và một băng ghế dài nhỏ như chỉ dành cho hai người đang quay lưng, và một cái bàn hình vuông nhỏ lọt thỏm bên góc nhà bên phải với duy nhất một chiếc ghế có tựa lưng cho ai đó chỉ nhìn vào vách tường, hai cái ghế còn lại thì để rải rác ở hai góc trái phải ngoài cửa đi vào chẳng rõ là dành cho ai. Trên chiếc bàn nhìn ra ngoài vườn có một chiếc ly nhỏ bằng gốm, trong đó cắm duy nhất một cành hoa hồng hái trong vườn. Khi nhìn lên tường bên góc bàn hình vuông gã thấy một bức tranh vẽ khóm Trúc đang rụng lá xuống một con suối lởm chởm đá, trên đó có đề bốn câu thơ đã nhòe không đọc rõ. Chẳng có gì trên chiếc bàn to lục giác giữa nhà ngoài ba lọ gia vị muối tiêu đường cho đám đông ngồi đó. Cuối cùng là chiếc bàn thờ nằm bên cửa sổ phía phải, nhang được cắm vào một cục đất sét mềm, hương tỏa ra thoang thoảng làm dễ chịu như đất rừng, nhưng đặc biệt khi không thấy ai ngồi đó ngoài một hòn đá cuội tròn thô ráp. Cảnh tượng làm cảm xúc của gã lẫn lộn đan xen vào nhau, chút gì đó kỳ quái nhưng vô cùng thú vị nơi này, trong giây phút ấy hắn quên mất những ngổn ngang sau lưng của mình còn đó.

    Khi gã vào trong quán thì đã có năm thực khách, một ông già ngồi một mình bên trong chiếc bàn vuông, hai cô gái cùng nhau thầm thì ở băng ghế dài cạnh cửa sổ, họ có vẻ ưu tư không nhìn vào mặt nhau Trên chiếc bàn lớn giữa quán, một cậu nhóc khoảng cấp hai và anh chàng đâu đó gần ba mươi tuổi không có gì là thân thiết nhau ngồi cách xa hai cái ghế quanh bàn to ở giữa, nhìn họ như ai cũng có một câu chuyện thú vị để kể nhưng lại muốn được nghỉ ngơi vào một đêm lộng gió. Gã ngồi xuống bên trái cậu nhóc, vì đó có lẽ là lựa chọn khả dĩ và an toàn nhất cho một người lạ. Nhìn xung quanh tìm chủ quán thì không thấy đâu, cũng chẳng có thực đơn trên bàn hay thông tin nào được dán trên tường. Vừa quay đầu sang định xem cậu nhóc đang ăn gì thì có tiếng nói thỏ thẻ sau lưng gã vang lên, giọng nói thình lình đủ làm hắn một chút bồn chồn nhưng không hoảng hốt như khi đi vào:”Anh cứ gọi một trong những món mọi người đang ăn, nếu không thì quán chỉ còn có Phở”. 

    Đó là giọng của người đàn bà không còn trẻ, nhưng sức sống bên ngoài cùng sự thư thái toát ra khiến cô chưa thể già ở cái độ tuổi ấy. Tuy vậy những nếp nhăn li ti và bàn tay thô ráp của công việc chân tay lâu năm vẫn mang trong mình những câu chuyện từ rất lâu rồi. Cô ngồi trên chiếc ghế bên phải phía cửa đi vào, nhưng do cánh cửa che đi phần nào sự hiện diện của cô mà gã không nhận ra khi bước vô quán, hay sự thản lặng của cô khó mà nhận diện bởi một tên đang rối bời, cũng có thể cô cứ thế đột nhiên xuất hiện tại cuộc đời gã mà thôi. Cô đứng lên trong bộ váy hoa nhiều họa tiết trên nền vải màu như một tờ giấy sẫm màu, bên ngoài là chiếc tạp dề màu trắng. Cô đứng lên với đôi chân trần, đặt ly bia nhỏ xuống ghế, có lẽ cô đang tận hưởng cuối ngày làm việc của mình vì nghĩ sẽ chẳng còn ai đến quán nữa. 

    “Hừm, vậy cô cho tôi một tô Phở”– Gã trả lời sau vài giây nhìn quanh, cố gằng giọng một chút để toát lên vẻ trung niên của mình, cũng là để làm bản thân bình tĩnh hẳn.

    Cô không trả lời gì mà khẽ gật đầu cười cùng dấu hiệu OK bằng tay trái rồi bước vào trong bếp. Bước qua rèm vải đơn sơ bên lối trái vào bếp, để lại biết bao câu hỏi và năm con người xa lạ cho gã cùng một thứ gì đó gờn gợn. Đôi khi trong bếp phát ra tiếng tanh tách của củi cháy, đôi lúc lại lộc cộc của ly rượu ông già bàn vuông đặt xuống. Anh bạn trạc 30 thì đang hút điếu thuốc cùng lon bia và đĩa gân gà cháy tỏi anh ta nhìn gã với vẻ dò xét, hai cô gái bàn bên thì đang thầm thì chuyện của mình.

    “Hôm nay em thế nào?”– Cô gái gần 30 nghiêng sang một chút rồi hỏi, ngón tay phải áp út của cô lướt qua lại trên thành mép cái đĩa gốm nhỏ có vài chiếc bánh đúc cốt dừa, gạc một chút nước đường dính trên, có lẽ tâm hồn cô đang ở ngoài rìa một thế giới nào đó bất định, thoáng qua thoảng lại không biết đi đâu.

    “Đừng”- Cô gái trẻ hơn lấy ngón trỏ tay trái mình dừng tay cô kia lại, lộ ra một chiếc nhẫn, có lẽ cô gái đặt câu hỏi đã có chồng. Cô gái trẻ nhịp nhịp ngón tay mình vài ba cái trên chiếc nhẫn, nhìn xuống nó rồi vừa nói vừa ngẩng lên nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Chị đừng cố bắt chuyện khi không có gì để nói, thế này lại hay”– Cô gái trẻ sau vài giây nhìn ra cửa sổ thì cất tiếng, giọng cô ấm như đang nói bằng giọng mũi, cô lại nhìn vào hoa hồng trong chiếc ly nhỏ rồi đặt câu hỏi :”Chúng đang tự vệ trong lo âu hay chúng sinh ra là để tổn thương kẻ khác ?”; cô ngắt một cành hoa rồi đặt lên trên một chiếc bánh, mặt cúi nhìn chúng.

    “Có lẽ đó là phần cứng cỏi trong chúng, để có trách nhiệm tránh cho thế giới này trở nên phù phiếm, nếu chúng buông thả, có lẽ chính chúng cũng không còn biết quý trọng gì nữa”– Cô gái lớn hơn nhặt cánh hoa rồi treo chúng lên gai của chính cành hoa trong ly. Cánh hoa hồng như đang giãy dụa, dùng dằng, không phải đau khổ mà day dứt trong lưỡng nan. 

    Gã ngồi gần họ nhất nên nghe rõ những lời ưu niệm thật đẹp mà thật u sầu đấy, có lẽ những người khác cũng nghe thấy và ngẫm nghĩ về thân phận mình. Đúng lúc đó người chủ quán mang lên cho gã bát Phở bò nóng hổi, ở một nơi lạnh lẽo heo hút này càng làm chúng tỏa khói nghi ngút trông bắt mắt hơn nữa, có vẻ như một ông Bụt nào đó sẽ hiện ra để cứu giúp đời gã chăng. Chẳng có ai hiện ra cả, chỉ có mình gã và tô Phở trước mặt.

    “Cô cho hỏi còn bánh đúc không, lâu tôi không ăn mà nhìn anh bạn nhỏ ăn ngon quá nên thèm”– Thật ra gã nhìn sang hai cô gái bàn bên mà tránh không nói vì mong họ thoải mái có những phút giây trò chuyện cùng nhau.

    “À còn một ít mẹ tôi gửi từ miệt miền Tây lên chứ ở đây không làm, anh ăn phải đợi sơ chế, lạnh ăn không có ngon”– Cô chủ quán vừa nói vừa chỉ tay vào bếp.

    “Ngoài ra hôm nay thiếu gừng nên con thấy thiếu thiếu”– Cậu nhóc ngồi bên cạnh gã ngẩng đầu lên nói, miệng cười mím môi nhe tới mang tai híp luôn cả mắt.

    “Cũng phải, sáng nay quên mất, xin lỗi nha nhỏ”– Chủ quán vén váy gọn gàng trong khi khụy gối xuống bàn vừa nói vừa nhìn cười cùng vị khách nhỏ tuổi. 

    “Không có chắc cũng không sao đâu hả, một ít gừng chắc không ảnh hưởng nhiều“.

    “Xin lỗi, tôi thấy ăn cũng ổn anh à, đúng là cảm giác không trọn vẹn nhưng có lẽ không sao do bánh của bà chủ ngon dai lắm, anh thử xem sao”– Cô gái lớn tuổi quay lưng lại gặt đầu với gã rồi vừa nói vừa gãi gò má. Cô có mái tóc dài qua khỏi vai một xíu, ăn bận gọn gàng với tông màu hơi nhạt, dưới ánh đèn vàng cô như bước ra từ một bức tranh cũ kĩ, không buồn chán nhưng có phần phai mờ dần.

    “Vậy thì tình yêu ở đâu trên đời này nữa”– Cô gái trẻ vừa nằm dài ra bàn vừa khều khều cánh hoa hồng trên gai nhọn.

    Trong phút chốc cả không gian im lặng không còn một lời nào. Cảm giác một hang sâu nào đó bao trùm mọi thứ xung quanh đến nổi chẳng ai thốt ra nổi, thậm chỉ là không thể nghĩ được gì, chỉ còn lại tiếng buông đũa đặt lên đĩa gốm của ông già bên bàn vuông, ông ta đã định quay đầu nhìn lại sau lưng nhưng rồi lại thôi.  

    Cô thực khách lớn hơn bối rối, quay người đứng lên khều khều tay cô gái trẻ làm cô bật dậy quay ra nhìn. Cô ngay lập tức nhận thấy mình đã tạo nên không khí có phần hơi khó xử này, dù cho cô chẳng có tội tình gì khi hỏi một điều cô còn băn khoăn. Cô quay người đứng lên cúi đầu xin lỗi hai lần, cô làm gã trung niên cũng bối rối theo, cả hai cùng cúi gật đầu xin lỗi qua lại :”Xin lỗi tôi đã làm ồn không gian của hai người”đó là lời thú tội gã đưa ra trong khi lại thích thú lúc quan sát chuyện trước đó. Tạ lỗi vì sự thích thú, hóa ra những niềm hứng khởi đều là tội lỗi chăng ? Cũng không đến như vậy.

    “Nhịn không nổi một bữa bánh đúc không gừng, thì nói gì đến tình yêu, không đáng, không đáng nhận, không đáng”– Người thanh niên trạc 30 tuổi giọng lè nhè say quơ tay quơ chân cầm ly bia loạng choạng xém ngã. Hắn đang định nói thêm gì đó thì bà chủ quán nhanh tay dực cái bánh cuối cùng trong đĩa thằng nhỏ, nhét vào miệng anh ta. Cô quay ra đá lông nheo với thằng nhỏ rồi nói thêm :”Hôm nay miễn phí con về mai còn đi học”

    Thằng nhỏ có vẻ bực mình, cầm đũa chọt chọt vào đĩa, nhưng rồi nó cũng đứng dậy rời đi, trước khi đi nói quay ra nói với ông già ngồi trong góc bàn vuông :”Con về trước nha ông Tư”. Ông già không nói gì mà giơ tay lên, để lộ ra một ít đất sét đông cứng còn sót lại đằng sau bàn tay, không rõ là chuyện gì. Cô chủ quán thu xếp để mọi người ngồi lại vào chỗ cũ, sau đó bưng dọn đĩa rồi lau bàn chỗ thằng nhỏ vừa rời đi. Gã trung niên ngồi xuống ăn tô phở, lâu lâu lại nhìn anh bạn đang ngồm ngoàm cục bánh đúc như bị mắc nghẹn, gã đang suy nghĩ gì đó về lời của anh ta.  

    “Bánh cũng ngon quá bà chủ, chắc lâu không được ăn thế nào thấy cũng ngon, cho thêm lon bia đi chị già ơi, làm gì mà căng vậy, say thôi mà”– Người thanh niên vừa nhai vừa nói vào trong bếp nhưng bị từ chối”Đi về đi, nay uống lố rồi đó, không bán nữa đâu”.

    “Về thì về, không cho say thì thôi, ít ra tui còn dám say tình, hơn khối kẻ chưa bước ra khỏi nhà mà chê ma chê quỷ”– Hẳn bỏ tiền xuống rồi kẹp dưới ly bia cạn, vừa đi vừa quơ quào loạng choạng nhưng cũng ra được tới cổng, hắn còn khép cổng ngay ngắn trước khi đi, một gã say ngông cuồng tử tế.

    “Suốt ngày”– Cô chủ quán nhìn theo, hai tay chống nạnh, cô không lắc đầu vẻ ngao ngán, chỉ là một câu cảm thán cho anh bạn trẻ, cũng có thể cô còn nhớ về ngày xưa của mình chăng ?

    “Anh bạn đó nói cũng có lý mà, đôi khi tôi nghĩ mình không đủ sức sống để yêu thương. Mà thôi, cô có thể cho tôi một ít chanh được không ?”– Anh ta nhìn vô tô phở hay đang nhìn chính mình, nhìn những thứ đã qua, sức sống của anh ta có trở lại trong đó chưa ?

    “Anh bước ra hái giúp tôi, nó ở bên trái chỗ tôi treo cây đèn, anh thông cảm hôm nay tôi bận quá nên thiếu sót đủ thứ cả”– Cô nhóm mũi chân rồi hướng về phía trước chỉ về chỗ cây đèn, từ chỗ của gã thấy rõ chanh đang rất sai quả.

    “Làm sao để biết quả nào dùng được”– Gã buộc miệng hỏi rồi tự dưng thấy sao mình lại hỏi ngớ ngẩn như vậy.

    “Người thành thị phải không, anh cứ ra chạm vào nó, nắm chặt một chút là biết ngay mà” – Cô chủ quán lại ngồi gần bên gã, nhìn về phía những quả chanh trên cành đang chở được hái.

    “Thật ngớ ngẩn”, gã nghĩ về mình như vậy khi đứng dưới ngước cổ nhìn lên cây chanh. Hắn đưa tay lên cao dè dặt, có vẻ người thành thị nào cũng sợ cây cối một cách kì lạ. Trong lúc ấy hắn nghe giọng nói trầm của cô gái trẻ bên trong phát ra dù không rõ lắm”Còn chị thì sao, sức sống để yêu”, cô gái lớn tuổi hơn đáp cái gì đó về khổ và chịu đựng. Đúng lúc đó gai chanh đâm vào vai gã, bao nhiêu khổ của hai người con gái kia với hắn biến đâu mất hết, ký ức khi nhỏ đi hái chanh ở quê nhà thế chỗ hiện về mồn một như gã chưa bao giờ rời đi khỏi đó vậy. 

    “Mình đã từng là đứa trẻ vui vẻ, một người năng nổ và lý tưởng. Mọi thứ mình đều vạch ra kế hoạch rõ ràng, để thành công, để có gia đình đầm ấm, để hạnh phúc !!! Sao mọi thứ lại thế này, sao mọi thứ lại vuột mất như vậy, sao không mãi ở cái làng nhỏ đó mãi mãi cười đùa. Sao mình lại ở một nơi xa xôi kỳ lạ này với những con người mình còn chẳng rõ họ có tồn tại không nữa”– trong suy nghĩ có những ám ảnh bắt đầu xuất hiện, hàng ngàn tấn bông gòn bao quanh, gã vẫn chuyển động nhưng chẳng thể biết được mình đang ở đâu và chuyện gì tiếp theo. Hết đám bông gòn thì thay vào đó là đống quả chanh khổng lồ chèn vào người gã, đôi mắt cay xè còn đầu lưỡi thì đắng nghét. Bỗng nhiên dám chanh rung lên , xa trong không trung có tiếng ai đó gọi”Này anh, này”. Cái đẩy nhẹ vai của cô chủ quán làm gã trung niên bừng tỉnh trong cơn ho thốc và rơi nước mắt. Cô lắc nhẹ gã thêm lần nữa rồi hỏi”Sao anh lại đưa chanh lên mặt rồi bóp mạnh thế này, tôi nói chạm vào là biết ngay thôi mà, trời ơi dân thành phố”.

    Cô chủ quán vừa hỏi gã tự đi vào được không, vừa đi sau lưng gã để trông chừng, cô cũng không muốn chạm vào một người đàn ông lạ mặt, chỉ trông nom nhau như một con người. Cô đi vào nhà lấy cái khăn mặt ướt và một con dao nhỏ, để gã lau mặt vừa là để sắc chanh ăn tiếp tô phở còn hơi âm ấm. Hai người bàn bên cũng quay ra xem gã có cần giúp gì không nhưng rồi họ về lại thế giới của mình, nơi có cánh hoa hồng treo dày vò trên gai gió. Ông già thì lặng thinh như hòn đá dưới suối trong bức tranh treo trên tường, có lẽ lão đang cố nhớ ra bốn câu thơ đã nhòe kia. 

    Không gian trở lại như lúc gã vừa mới bước vào quán, cô chủ rót tiếp một cốc bia nhỏ ngồi vào góc với cái tạp dề đã gỡ, hai cô gái thì trò chuyện gì đó của họ gã cũng không nghe rõ lắm vì vẫn chưa hoàn hồn dù đang từ từ ăn nốt tô phở đã dần nguội. Một cơn gió thổi đập vào cửa sổ nơi có cái bàn thờ, viên đã rơi xuống, lăn lộc cộc vài ba tiếng dưới sàn, cô chủ quán nhặt nó lên rồi chắp tay vài ba cái cho điều gì đó hay ai đó đã không còn hay là chưa đến. Một hạt đất sét cứng khô trên tay ông già rơi xuống, lão cúi xuống nhặt lên để qua một bên bàn rồi rót tiếp một ly rượu nhỏ. Tiếng rù rì của hai cô gái lặn dần xuống, từ ngữ ít đi mà nỗi niềm ngày một dâng lên. Ngẫm nhìn lại gã lại thấy, ở một vùng đất hẻo lánh mà họ văn mình hơn khối kẻ thành thị luôn coi mình là hiện đại, không ai xét nếp ai dù sự thể có phần hơi trái lẽ thường, có lẽ họ hiểu, trái lẽ thường là bản chất của một con người bình thường. 

    “Chị chưa bao giờ dám khởi đầu, em về đây” – Cô gái trẻ vừa nói vừa đứng dậy vùng chạy ra khỏi quán, người còn lại lặng lẽ nhìn theo đợi cho bóng cô không còn nhìn thấy thì mới quay vào trong, cô xin chủ quán cho cô xin lửa để đốt một điếu thuốc loại nhỏ, rồi ngồi đó một mình.

    Điếu thuốc trên tay cô thực khách còn lại vừa tàn một nửa, cô không hút nữa mà gác nó lên trên miệng ly hoa hồng, chờ cho nó cháy dần rồi tự lọt vào hố sâu không bật dậy nổi.”Chỉ sợ đó là khởi đầu của một bất hạnh mới mà thôi”cô thầm thì trong lặng lẽ như đang tự nói với cả cuộc đời mình vậy. Cô chú quán cũng vừa cạn ly bia, cô đặt xuống đi dọn tô phở cho gã trung niên rồi mang lên đĩa bánh đúc gã gọi trước đó, có lẽ cô đợi xem thực khách của mình ăn hết món nào mới mang lên món khác, kẻo lại no rồi thì thừa mứa. Cô mang đĩa bánh lên, dùng đũa gắp một miếng gừng đặt lên trên,”tôi phát hiện còn dư một ít nên đập ra cho vào nồi nước đường nóng, mời anh”. Cô lùi lại, quay người về phía cô khách cuối cùng hôm nay, xoa lưng cô ấy nhè nhẹ, có vẻ họ quen nhau từ trước nên hiểu chuyện gì đó đã xảy ra cho nhau. Trước cổng có tiếng bước chân dồn dập từ ngoài chạy vào quán, chủ quán bước từ trong bếp ra xem là ai, hóa ra là anh chàng tài xế xe bus mà gã trung niên gặp khi nãy. 

    “Ai giống con bé Gấm em gái em vậy chị, nhỏ vừa hớt hải chạy ra khỏi cổng em chưa kịp nhìn, giờ này nó đi đâu vậy ta, tưởng phải ở nhà ôn thi chứ”– Anh ta một tay chống nạnh một tay gãi đầu quay quay nhìn hỏi cô chủ quán.

    “Sao hôm nay về trễ vậy, làm ly bia lạnh đi, thở gì mà hổn hển như trâu”– Cô chủ quán tránh không trả lời, có lẻ cô gái trẻ vừa rồi đúng là em gái anh ta, cô đi vào trong rang một ít đậu phộng mà không nói gì thêm cả.

    Tội nghiệp anh chàng một thì tội cho cô gái bàn bên mười, cô loay hoay thu dọn túi xách và áo khoác, đánh rơi cả chìa khóa xuống nền nhà. Anh tài xế cúi nhặt dùm thì cô tránh ánh mắt không nhìn rồi giật nhanh lấy chìa khóa, đứng lên để tờ tiền 500k lại luôn trên cái bánh ăn còn dang dở rồi chạy nhanh ra khỏi cửa. Giờ thì thật tội nghiệp cho anh chàng chẳng hiểu chuyện gì, cứ gãi đầu rồi loay hoay mãi không biết trời trăng. Anh ta ngồi xuống ghế bên trái gã trung niên, vẫn còn chưa hiểu mô tê gì thì chợt thấy người quen khi nãy nên thốt lên”Ủa anh hả, nãy em còn lo cho anh định chạy theo coi có sao không, ai dè. Có duyên ghê, chú uống với con vài ly chơi cho ấm nha”. Gã trung niên cũng chẳng nghĩ ngợi được gì, ngày hôm nay đã quá nhiều sự kiện làm gã như lạc vào một bức tranh lễ hội huyên náo, tâm trạng luyến láy lẫn lộn hư thực. Hắn quyết định uống một phen mà quên mất túi chẳng còn một xu.

    “Mà sao anh lại trong bộ dạng như lúc nãy mà đến đây, ý em là nhìn anh bệ rạc lắm”– Sau vài ly ngà ngà say, vài ba câu chuyện tự thoại về bản thân thì anh tài xế bus hỏi . Anh ta là vậy, một người huyên náo, ngây ngô đến mức đôi khi vô tình tọc mạch mà không hay biết.

    “Kệ người ta mày, nhìn mày coi, toàn mùi dầu khí chứ ở đó mà chê”– Cô chủ quán cảm thấy câu hỏi quá đà nên nhanh miệng chen vào. Giọng điệu của cô có vẻ mọi người ở đây đều gắn bó, họ biết về nhau rõ nhưng cũng tế nhị không xen vào thô lỗ.

    “Không sao không sao cô, tôi bệ rạc thật mà. Anh đi lạc, ngủ quên, có lẽ quên luôn mình là ai, lạc luôn nơi mình đến”– Gã trung niên cúi đầu lè nhè đáp, gã sống lành mạnh và nguyên tắc nên ít khi động vào rượu, sau vài ba ly đã như người mơ màng.

    “Cái miệng em bậy rồi, xin lỗi anh, chị Lanh cho em thêm một xị tạ tội đi, à còn mồi gì cho em một ít nay đói quá”– Anh bạn lại gãi đầu cúi cúi rồi nói với cô chủ quán, hóa ra cô ấy tên Lanh

    “Ít thôi nha, để tui còn ngủ, bác Tư mà về là hai ông cũng phải đi chỗ khác cho tui đó, có mình tui ai dám chứa hai ông xỉn”- Chị Lanh vừa nói vừa chỉ tay về phía ông già Tư bên góc bàn có bức tranh, ông đang ngồi xếp mấy hạt đậu theo những hình thù đẹp mắt nhưng không rõ là gì. 

    Lanh đi vào bếp làm cho họ một đĩa cơm thập cẩm, gồm những gì còn sót lại trong bếp. Trong lúc đầu bếp làm đồ ăn, gã trung niên bắt đầu lè nhè kể về cuộc đời mình, từ trong bếp Lanh nghe rõ cả, có những đoạn do say nên không rõ ràng lắm nhưng nhìn chung cô phần nào hình dung được người khách lạ này, lạ đã trở thành quen chỉ sau một đêm, chung quy đời người cũng chẳng có mấy thứ để kể. Cô chủ quán làm một chảo to chia làm ba đĩa, cô đưa cho hai gã say một đĩa to, một đĩa nhỏ cô mang qua cho bác Tư,”con mời bác”, rồi ông đáp”cảm ơn chị”. Cô mang một đĩa nhỏ ngồi xuống góc quen thuộc của mình, ngồi đó dùng bữa cơm muộn của người phục vụ, những người chẳng mấy khi kể nhưng lại nghe rất nhiều.

    Được một lát sau, hai gã kia đã say khướt, cầm ly rượu không lên nổi, giọng nói cũng không ai nghe nổi. Gã trung niên thò tay vào túi thì chợt nhớ ra mình không còn tiền, gã hoảng hốt loay hoay, miệng cứ nói”Xin lỗi tôi đi vội không mang theo tiền”, vài ba câu đã gục xuống bàn mơ mơ màng màng. Đúng lúc đó ông Tư đứng lên, nhìn bức tranh rồi đọc lên một bài thơ bốn câu, có lẽ ông đã nhớ ra hay là tự đề tác.

    Nước trên nguồn chảy tuôn xuống hạ

    Người trên đời trôi nổi xót xa

    Khe suối nhỏ cánh hoa rơi rụng

    Hòn đá vùi chẳng tụng mà thông

    “Tiền đây Lanh, tính luôn tụi nó, còn Khắc, mày dẫn thằng này về xưởng tao, mai qua tính sau. Thôi bác Tư về nha con.”– Sau khi cảm tác một bài thơ giữa đêm khuya nơi núi rừng lạnh thiết, bác Tư quay ra nói với cô chủ quán rồi khều đầu anh tài xế xe bus tên Khắc. Trong mơ màng, gã trung niên chỉ nghe thấy mỗi bài thơ và”mai qua tính sau”.

    Đêm hôm ấy, mọi người đều yên bề khi về nhà, Lanh dọn dẹp quán sạch sẽ, lau hòn đá trên bệ thờ rồi đốt thêm một nén nhang. Cô kê mấy cái bàn trong quán lại, hóa ra bàn vuông để kê đầu, bàn chữ nhật gác chân, cứ thế cô đặt gối và mền ra rồi ngủ sau một ngày bình thường của người nơi đây, đâu đó cũng có vài điều lạ nhưng có lẽ rồi cũng sẽ kết thúc. Sau khi dẫn gã trung niên lạ về xưởng bác Tư, Khắc về nhà khẽ mở cửa phòng em gái thì thấy Gấm đã ngủ, vốn người tính đơn giản, anh cũng quên luôn bóng hình lờ mờ vùng chạy ra khi nãy ở Quán Rụ. Mai anh không làm việc gì nên mở tivi lên coi phim, mà không phải, là nghe phim mới đúng, anh chỉ mở để có tiếng người cho dễ ngủ, có lẽ anh đã quen không khí trên xe bus. Còn bác Tư thu xếp xong cho người lạ ngủ thì ra ngoài đi dạo cùng con chó già chỉ còn đâu đó chục cái răng, ông thích nhất giây phút này trong ngày, mọi thứ thật êm ái và xinh đẹp. 

  • Lạc hay đúng đường

    “Cọt kẹt”, tiếng cửa chiếc xe bus cũ kỹ như tâm hồn của gã đàn ông trung niên đang một mình lơ đãng nhìn ra ngoài cửa kính. Gã không nghe thấy tiếng xe dừng lại vài phút trước, tiếng nhốn nháo hành khách cũng dần tan đi, chỉ còn lại đôi lời trả giá của mấy người xe ôm với những hành khách cuối cùng còn sót lại, bao nhiêu tiền để được về nhà ?!. Gã vẫn ngồi đó bất động nhìn qua màn kính cửa sổ đóng một lớp sương dày như sự mơ hồ nào đó đã thôi thúc gã dốc vài đồng lẻ cuối cùng lên chuyến xe này, mờ mịt và vô định như khoảng thời gian qua sống trong làn khói cuộc đời. Gã nhìn thăm thẳm như xuyên qua muôn làn khói, bay trên những tầng cao đến với những thành phố xa lạ, gã không cần biết đó là đâu, chỉ cần một nơi nào đó khác là được, không còn sự lạnh lẽo đông cứng dưới cái nóng thiêu đốt ấy nữa, không còn nữa.”Không còn nữa”, gã lẩm bẩm một mình như nói với chính mình của nhiều năm trước và xa về phía những năm sau,”Không còn nữa”hắn nói với tấm cửa kính sương chiều phủ dày đặc.

    “Hôm nay sương xuống sớm, chắc lạnh lắm đây, anh về đâu cần em kêu xe ôm cho không ?”– Giọng nói của người tài xế trẻ tuổi như một cơn gió nhẹ tạm thổi tan đi mịt mù trước mắt. Người thanh niên nhỏ người, da hơi rám nắng, mắt anh ta cứ như muốn sụp xuống sau một chuyến đi dài, anh cố gắng bắt chuyện với người khách lạ mặt trong khi đang dọn dẹp rác trên xe. Người ta đến với anh khi mong mỏi được về nhà, để rồi bỏ lại anh một mình bên đống rác thải, không một lời cảm ơn,”Có lẽ trong suy nghĩ họ cảm ơn mình”anh nghĩ vậy rồi ngày qua ngày tiếp tục làm công việc của mình. 

    “Chú cho hỏi mấy giờ rồi, đây là đâu ?”– Gã trung niên khẽ bất giác quay về với thực tại, gã hỏi với giọng chậm rãi rồi lục lọi trong túi như đang tìm lại thứ gì đấy, điều gì đó đánh mất rồi chợt nhớ ra muốn tìm lại, dầu cho không rõ là có còn cần hay không nữa. 

    “Trời đất, anh hỏi gì kì vậy, trạm cuối rồi, thành phố Chạm, hồi nãy em thấy anh ngủ gục, hay đi huốc nhà luôn rồi ?”– Người tài xế ngồi xuống ghế đối diện, anh đặt cái túi đeo chéo của mình vòng ra sau lưng, người hơi cuối nhìn có vẻ dò xét người hành khách cuối cùng, câu hỏi có vẻ làm anh tỉnh ngủ như bộ phim bỗng đến phút bí hiểm, nhạc dồn dập vang lên để đi vào kịch tính.

    “Hừm, ra là đến tận Chạm, lâu rồi tôi cũng chưa đến đây, thôi xin lỗi làm phiền cậu, chắc tôi phải xuống xe rồi”– Gã vừa nói vừa nhìn quanh quất, dần tỉnh táo trở lại, đứng dậy vuốt quần áo cho thẳng thớm rồi bước xuống xe buýt, hai tay khoanh lại vào nhau vì lạnh. Người thanh niên đứng trên bậc cửa ra vào xe nhìn theo, một phần do dự vài phần lo lắng cho cái vẻ ngoài phờ phạc của người hành khách kỳ lạ, anh với tay phải lên định gọi nhưng rồi lại thôi. 

    Trạm xe đã không còn một ai, bên trong tòa nhà vận hành sót vài ánh đèn le lói, chẳng rõ là có người hay không. Bên trong cùng nhà giữ xe nhân viên có chiếc xe máy cũ, chắc hẳn của người tài xế cuối cùng về bến, mọi thứ đều như dừng lại trong giây lát, lặng lẽ trông nom nhau ở một nơi hiu hắt, thứ trông nom hiếm hoi không còn tìm thấy ở những thành phố nhộn nhịp. 

    Gã trung niên đứng trước cổng bến xe, cái lạnh làm gã không còn nghĩ gì cho thông suốt, nhìn quanh về phía con dốc bên phải cùng ngọn đồi bên trái và ánh đèn phố xá ở con đường phía trước mặt, đi lên đi xuống hay đi về phía an toàn ? Một cơn gió đột nhiên ùa từ ngọn đồi phía trên cao xuống dưới con dốc, những ánh đèn đường chập chờn treo trước nhà của người dân chớp tắt, những chiếc lá cuốn đi theo hình xoắn ốc về phía cuối con dốc sâu hoáy tưởng chừng như vô tân, nuốt đi tất cả hy vọng le lói cuối cùng. Những cuộn lá khô xoáy lúc hiện ra khi lại biến mất, nhìn từ xa gã thấy một đốm lửa đung đưa khi gió thổi ngang, xung quanh có một nhóm người đang tụ lại sưởi ấm và có thể đang nướng một vài thứ. Ánh nhìn của gã dừng lại ở họ bên đống lửa, cái lạnh thấu xương đã lấn áp toàn bộ tâm trí và hệ logic nơi một kẻ từng trải, một con ngựa đầy vết hằn đang chạy trên một thảo nguyên lạnh lẽo chỉ còn muốn có một đống lửa nhỏ cùng tiếng nói ấm áp của con người, những con người thật sự. Gã quyết định đi theo sự chỉ đường của cơn gió lạnh lẽo, với cái đầu trống trơn không mong ước gì ngoài đốm lửa nhỏ nhoi, một thứ gì đó còn le lói bên trong tảng băng tâm hồn già nua của mình. 

    Gió vẫn thổi rét buốt từ trên phía đồi xuống con dốc, gã kéo cái cổ áo sơ mi lên che cho bớt lạnh, chiếc áo còn mùi công sở trưa nay sót lại, gã như vừa mới chui ra từ một vũng bùn chưa kịp tắm rửa. Cơn lạnh đêm nơi đồi núi vẫn len lỏi vào da thịt làm gã đôi lúc như muốn buồn nôn, nhưng gã chịu được cái lạnh này, nó dễ chịu hơn nhiều so với cái lạnh mà hắn đã ngụp lặn suốt những năm qua. Cái lạnh tình người, có lúc gã chạy vội ra bờ sông vắng gần nhà, một mình, chỉ để nôn ra những thứ bản thân đã dự phần vào đó. Dần rồi nôn ra bờ sông như một nghi thức xưng tội, để mai gã còn tiếp tục mà sống, con sông như Chúa trời nhận lấy mọi tội lỗi dơ bẩn một cách thản nhiên, một bông hoa dại nở trong sương mai sẽ che mờ đi tất cả. Sự buồn nôn thì không, nó vẫn sẽ quay lại như một căn bệnh chưa được trị tận gốc, ít ra hôm nay gã đã dốc hết sức lực để đi tìm phương thuốc, dù không biết nó ở đâu và thậm chí có tồn tại hay không, gã chỉ không thể chịu đựng nổi thêm nữa.

    Hai tay bỏ vào túi quần tây dài màu xanh dương đậm, chiếc quần với cái mép quần đứt vài sợi chỉ sờn màu, không biết gã đã bỏ bê mình bao lâu, mà những người xung quanh gã đâu cũng không rõ. Chậm rãi đi từng bước xuống con dốc, đầu cúi xuống mặt đường, có một tiếng chuông gió bằng đá đâu đó vang lên như chào đón và đánh thức người khách lạ. Dưới lòng đường đã không còn chộn rộn xe cộ nữa, thay vào đó mấy chiếc lá đôi khi lại nối đuôi nhau đi ngang chạm vào cẳng tay trái gã, làm gã giật mình vì ngỡ mình còn ở phố thị. Trong cái không khí ấy, mọi thứ xung quanh đang như xầm xì bàn tán, dự đoán về câu chuyện của một người lạ. Đám lá đôi khi đang vẫy chào gã, còn đám côn trùng thì mon men tò mò đi theo, có ai đó cũng đứng nhìn ra từ trong nhà đang sáng đèn. Nhưng ở nơi đây đơn thuần đó là chuyện trò hơn là tọc mạch soi mói, kể nhau nghe rồi thôi, có lẽ trừ bọn côn trùng nhiều chuyện. 

    “Thịch”gã vấp phải một mảng gạch lát lề đường hơi chênh, một thứ tưởng chừng như không đúng vị trí lay gã tỉnh hơn trở lại, mặt ngẩng lên cao với chiếc lưng thẳng và đôi mắt mở to để nhìn xung quanh. Đốm lửa nhỏ và nhóm người khi nãy gã thấy khi còn ở trạm xe bus đã gần ngay trước mặt, lỏe nhòe trong đêm cách hắn đâu đó 50 mét. Bước tiếp với nhịp chân nhanh hơn, vừa đi gã vẫn lục lọi quanh túi mình như vẫn chưa tìm được thứ mình cần, gã còn lướt tay qua trước ngực áo mà quên mất nó không hề có túi. Bỗng gã đứng lại, lấy hai tay dụi mắt hai lần rồi đặt tay nhìn quanh qua lại vài lần, đám lửa nhỏ ở ngay trước hắn độ còn 5 mét. Hóa ra đó là một bụi bông Trang đỏ nở rực còn ở trên là cây Pháo Bông tỏa táng trổ hoa như bao phủ viền ngoài bụi bông Trang, vậy những người khi nãy hắn thấy ở đâu, họ đã đi đâu, hoa mắt sao, hay còn gì khác chưa rõ. Gã nhìn lên cao một chút về phía cái cổng rào đi vào ngôi nhà, giật bắn mình mém ngã lăn ra lề đường, bốn cái mặt người lùn đang cười trước mặt hắn. Thì ra là tượng gốm trang trí, có lẽ chẳng có gì buồn cười với gã lúc này lắm. Sau vài phút hoàn hồn, hắn nhìn lên phía trên dàn hoa Pháo Bông là một tấm bảng gỗ được đốt bằng đầu bút lửa để chạm trổ, trên đó ghi vỏn vẹn hai chữ”Quán Rụ”. Từ bên ngoài thì vẫn còn nghe thấy tiếng râm rang nói chuyện. Ngôi nhà nhìn từ xa cũng không có gì đặc biệt, hai bên đi vào có hàng hoa hồng Tiểu Muội nhỏ đang trổ hoa, đường đi vào không có đèn nên chỉ thấy vỏn vẹn năm sáu cái hoa sáng bật lên do ánh đèn trong nhà tỏa ra ngoài một ít, hay chúng chỉ nở có bao nhiêu thôi cũng chẳng rõ. Gã quay đi quanh lại vài bận, do dự với chút sợ hãi còn sót lại, nhưng quyết định đi vào, vì cũng đói lắm rồi. 

    Ngôi nhà trông giản tiện nhưng lại có vẻ rất chắc chắn và được xây cất tỉ mỉ, mọi thứ nhìn như những mảnh lego gỗ và đá xếp lại với nhau thông qua các khớp nối, chẳng thấy một vết đinh nào cả. Bên dưới sàn có ba tảng đá trung bình dùng để nâng sàn nhà bằng gỗ, có lẽ bên dưới là một hệ đá được thu xếp với nhau để đỡ lấy sàn. Ngôi nhà như toát lên cái tinh thần của không khí nơi đây, mọi thứ liên kết với nhau mà chẳng cần gán ghép phụ trợ, chẳng có gì bị thủng lỗ chỗ hay tổn thương quá mức cả, ngôi nhà cũng làm gã quên đi nỗi sợ mà thay vào đó là tò mò. 

    Bên trong chẳng có nhiều đồ nội thất bàn ghế gì nhưng lại hết sức lạ lùng, chỉ có mỗi ba cái bàn và mười cái ghế cùng vài bức tranh và một bàn thờ. Một chiếc bàn to nằm ở giữa nhà hình lục giác cùng sáu cái ghế xung quanh, cạnh cửa sổ bên trái nhìn ra khu vườn bên hông nhà là một bàn hình chữ nhật và một băng ghế dài nhỏ như chỉ dành cho hai người đang quay lưng, và một cái bàn hình vuông nhỏ lọt thỏm bên góc nhà bên phải với duy nhất một chiếc ghế có tựa lưng cho ai đó chỉ nhìn vào vách tường, hai cái ghế còn lại thì để rải rác ở hai góc trái phải ngoài cửa đi vào chẳng rõ là dành cho ai. Trên chiếc bàn nhìn ra ngoài vườn có một chiếc ly nhỏ bằng gốm, trong đó cắm duy nhất một cành hoa hồng hái trong vườn. Khi nhìn lên tường bên góc bàn hình vuông gã thấy một bức tranh vẽ khóm Trúc đang rụng lá xuống một con suối lởm chởm đá, trên đó có đề bốn câu thơ đã nhòe không đọc rõ. Chẳng có gì trên chiếc bàn to lục giác giữa nhà ngoài ba lọ gia vị muối tiêu đường cho đám đông ngồi đó. Cuối cùng là chiếc bàn thờ nằm bên cửa sổ phía phải, nhang được cắm vào một cục đất sét mềm, hương tỏa ra thoang thoảng làm dễ chịu như đất rừng, nhưng đặc biệt khi không thấy ai ngồi đó ngoài một hòn đá cuội tròn thô ráp. Cảnh tượng làm cảm xúc của gã lẫn lộn đan xen vào nhau, chút gì đó kỳ quái nhưng vô cùng thú vị nơi này, trong giây phút ấy hắn quên mất những ngổn ngang sau lưng của mình còn đó.

    Khi gã vào trong quán thì đã có năm thực khách, một ông già ngồi một mình bên trong chiếc bàn vuông, hai cô gái cùng nhau thầm thì ở băng ghế dài cạnh cửa sổ, họ có vẻ ưu tư không nhìn vào mặt nhau Trên chiếc bàn lớn giữa quán, một cậu nhóc khoảng cấp hai và anh chàng đâu đó gần ba mươi tuổi không có gì là thân thiết nhau ngồi cách xa hai cái ghế quanh bàn to ở giữa, nhìn họ như ai cũng có một câu chuyện thú vị để kể nhưng lại muốn được nghỉ ngơi vào một đêm lộng gió. Gã ngồi xuống bên trái cậu nhóc, vì đó có lẽ là lựa chọn khả dĩ và an toàn nhất cho một người lạ. Nhìn xung quanh tìm chủ quán thì không thấy đâu, cũng chẳng có thực đơn trên bàn hay thông tin nào được dán trên tường. Vừa quay đầu sang định xem cậu nhóc đang ăn gì thì có tiếng nói thỏ thẻ sau lưng gã vang lên, giọng nói thình lình đủ làm hắn một chút bồn chồn nhưng không hoảng hốt như khi đi vào:”Anh cứ gọi một trong những món mọi người đang ăn, nếu không thì quán chỉ còn có Phở”. 

    Đó là giọng của người đàn bà không còn trẻ, nhưng sức sống bên ngoài cùng sự thư thái toát ra khiến cô chưa thể già ở cái độ tuổi ấy. Tuy vậy những nếp nhăn li ti và bàn tay thô ráp của công việc chân tay lâu năm vẫn mang trong mình những câu chuyện từ rất lâu rồi. Cô ngồi trên chiếc ghế bên phải phía cửa đi vào, nhưng do cánh cửa che đi phần nào sự hiện diện của cô mà gã không nhận ra khi bước vô quán, hay sự thản lặng của cô khó mà nhận diện bởi một tên đang rối bời, cũng có thể cô cứ thế đột nhiên xuất hiện tại cuộc đời gã mà thôi. Cô đứng lên trong bộ váy hoa nhiều họa tiết trên nền vải màu như một tờ giấy sẫm màu, bên ngoài là chiếc tạp dề màu trắng. Cô đứng lên với đôi chân trần, đặt ly bia nhỏ xuống ghế, có lẽ cô đang tận hưởng cuối ngày làm việc của mình vì nghĩ sẽ chẳng còn ai đến quán nữa. 

    “Hừm, vậy cô cho tôi một tô Phở”– Gã trả lời sau vài giây nhìn quanh, cố gằng giọng một chút để toát lên vẻ trung niên của mình, cũng là để làm bản thân bình tĩnh hẳn.

    Cô không trả lời gì mà khẽ gật đầu cười cùng dấu hiệu OK bằng tay trái rồi bước vào trong bếp. Bước qua rèm vải đơn sơ bên lối trái vào bếp, để lại biết bao câu hỏi và năm con người xa lạ cho gã cùng một thứ gì đó gờn gợn. Đôi khi trong bếp phát ra tiếng tanh tách của củi cháy, đôi lúc lại lộc cộc của ly rượu ông già bàn vuông đặt xuống. Anh bạn trạc 30 thì đang hút điếu thuốc cùng lon bia và đĩa gân gà cháy tỏi anh ta nhìn gã với vẻ dò xét, hai cô gái bàn bên thì đang thầm thì chuyện của mình.

    “Hôm nay em thế nào?”– Cô gái gần 30 nghiêng sang một chút rồi hỏi, ngón tay phải áp út của cô lướt qua lại trên thành mép cái đĩa gốm nhỏ có vài chiếc bánh đúc cốt dừa, gạc một chút nước đường dính trên, có lẽ tâm hồn cô đang ở ngoài rìa một thế giới nào đó bất định, thoáng qua thoảng lại không biết đi đâu.

    “Đừng”- Cô gái trẻ hơn lấy ngón trỏ tay trái mình dừng tay cô kia lại, lộ ra một chiếc nhẫn, có lẽ cô gái đặt câu hỏi đã có chồng. Cô gái trẻ nhịp nhịp ngón tay mình vài ba cái trên chiếc nhẫn, nhìn xuống nó rồi vừa nói vừa ngẩng lên nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Chị đừng cố bắt chuyện khi không có gì để nói, thế này lại hay”– Cô gái trẻ sau vài giây nhìn ra cửa sổ thì cất tiếng, giọng cô ấm như đang nói bằng giọng mũi, cô lại nhìn vào hoa hồng trong chiếc ly nhỏ rồi đặt câu hỏi :”Chúng đang tự vệ trong lo âu hay chúng sinh ra là để tổn thương kẻ khác ?”; cô ngắt một cành hoa rồi đặt lên trên một chiếc bánh, mặt cúi nhìn chúng.

    “Có lẽ đó là phần cứng cỏi trong chúng, để có trách nhiệm tránh cho thế giới này trở nên phù phiếm, nếu chúng buông thả, có lẽ chính chúng cũng không còn biết quý trọng gì nữa”– Cô gái lớn hơn nhặt cánh hoa rồi treo chúng lên gai của chính cành hoa trong ly. Cánh hoa hồng như đang giãy dụa, dùng dằng, không phải đau khổ mà day dứt trong lưỡng nan. 

    Gã ngồi gần họ nhất nên nghe rõ những lời ưu niệm thật đẹp mà thật u sầu đấy, có lẽ những người khác cũng nghe thấy và ngẫm nghĩ về thân phận mình. Đúng lúc đó người chủ quán mang lên cho gã bát Phở bò nóng hổi, ở một nơi lạnh lẽo heo hút này càng làm chúng tỏa khói nghi ngút trông bắt mắt hơn nữa, có vẻ như một ông Bụt nào đó sẽ hiện ra để cứu giúp đời gã chăng. Chẳng có ai hiện ra cả, chỉ có mình gã và tô Phở trước mặt.

    “Cô cho hỏi còn bánh đúc không, lâu tôi không ăn mà nhìn anh bạn nhỏ ăn ngon quá nên thèm”– Thật ra gã nhìn sang hai cô gái bàn bên mà tránh không nói vì mong họ thoải mái có những phút giây trò chuyện cùng nhau.

    “À còn một ít mẹ tôi gửi từ miệt miền Tây lên chứ ở đây không làm, anh ăn phải đợi sơ chế, lạnh ăn không có ngon”– Cô chủ quán vừa nói vừa chỉ tay vào bếp.

    “Ngoài ra hôm nay thiếu gừng nên con thấy thiếu thiếu”– Cậu nhóc ngồi bên cạnh gã ngẩng đầu lên nói, miệng cười mím môi nhe tới mang tai híp luôn cả mắt.

    “Cũng phải, sáng nay quên mất, xin lỗi nha nhỏ”– Chủ quán vén váy gọn gàng trong khi khụy gối xuống bàn vừa nói vừa nhìn cười cùng vị khách nhỏ tuổi. 

    “Không có chắc cũng không sao đâu hả, một ít gừng chắc không ảnh hưởng nhiều“.

    “Xin lỗi, tôi thấy ăn cũng ổn anh à, đúng là cảm giác không trọn vẹn nhưng có lẽ không sao do bánh của bà chủ ngon dai lắm, anh thử xem sao”– Cô gái lớn tuổi quay lưng lại gặt đầu với gã rồi vừa nói vừa gãi gò má. Cô có mái tóc dài qua khỏi vai một xíu, ăn bận gọn gàng với tông màu hơi nhạt, dưới ánh đèn vàng cô như bước ra từ một bức tranh cũ kĩ, không buồn chán nhưng có phần phai mờ dần.

    “Vậy thì tình yêu ở đâu trên đời này nữa”– Cô gái trẻ vừa nằm dài ra bàn vừa khều khều cánh hoa hồng trên gai nhọn.

    Trong phút chốc cả không gian im lặng không còn một lời nào. Cảm giác một hang sâu nào đó bao trùm mọi thứ xung quanh đến nổi chẳng ai thốt ra nổi, thậm chỉ là không thể nghĩ được gì, chỉ còn lại tiếng buông đũa đặt lên đĩa gốm của ông già bên bàn vuông, ông ta đã định quay đầu nhìn lại sau lưng nhưng rồi lại thôi.  

    Cô thực khách lớn hơn bối rối, quay người đứng lên khều khều tay cô gái trẻ làm cô bật dậy quay ra nhìn. Cô ngay lập tức nhận thấy mình đã tạo nên không khí có phần hơi khó xử này, dù cho cô chẳng có tội tình gì khi hỏi một điều cô còn băn khoăn. Cô quay người đứng lên cúi đầu xin lỗi hai lần, cô làm gã trung niên cũng bối rối theo, cả hai cùng cúi gật đầu xin lỗi qua lại :”Xin lỗi tôi đã làm ồn không gian của hai người”đó là lời thú tội gã đưa ra trong khi lại thích thú lúc quan sát chuyện trước đó. Tạ lỗi vì sự thích thú, hóa ra những niềm hứng khởi đều là tội lỗi chăng ? Cũng không đến như vậy.

    “Nhịn không nổi một bữa bánh đúc không gừng, thì nói gì đến tình yêu, không đáng, không đáng nhận, không đáng”– Người thanh niên trạc 30 tuổi giọng lè nhè say quơ tay quơ chân cầm ly bia loạng choạng xém ngã. Hắn đang định nói thêm gì đó thì bà chủ quán nhanh tay dực cái bánh cuối cùng trong đĩa thằng nhỏ, nhét vào miệng anh ta. Cô quay ra đá lông nheo với thằng nhỏ rồi nói thêm :”Hôm nay miễn phí con về mai còn đi học”

    Thằng nhỏ có vẻ bực mình, cầm đũa chọt chọt vào đĩa, nhưng rồi nó cũng đứng dậy rời đi, trước khi đi nói quay ra nói với ông già ngồi trong góc bàn vuông :”Con về trước nha ông Tư”. Ông già không nói gì mà giơ tay lên, để lộ ra một ít đất sét đông cứng còn sót lại đằng sau bàn tay, không rõ là chuyện gì. Cô chủ quán thu xếp để mọi người ngồi lại vào chỗ cũ, sau đó bưng dọn đĩa rồi lau bàn chỗ thằng nhỏ vừa rời đi. Gã trung niên ngồi xuống ăn tô phở, lâu lâu lại nhìn anh bạn đang ngồm ngoàm cục bánh đúc như bị mắc nghẹn, gã đang suy nghĩ gì đó về lời của anh ta.  

    “Bánh cũng ngon quá bà chủ, chắc lâu không được ăn thế nào thấy cũng ngon, cho thêm lon bia đi chị già ơi, làm gì mà căng vậy, say thôi mà”– Người thanh niên vừa nhai vừa nói vào trong bếp nhưng bị từ chối”Đi về đi, nay uống lố rồi đó, không bán nữa đâu”.

    “Về thì về, không cho say thì thôi, ít ra tui còn dám say tình, hơn khối kẻ chưa bước ra khỏi nhà mà chê ma chê quỷ”– Hẳn bỏ tiền xuống rồi kẹp dưới ly bia cạn, vừa đi vừa quơ quào loạng choạng nhưng cũng ra được tới cổng, hắn còn khép cổng ngay ngắn trước khi đi, một gã say ngông cuồng tử tế.

    “Suốt ngày”– Cô chủ quán nhìn theo, hai tay chống nạnh, cô không lắc đầu vẻ ngao ngán, chỉ là một câu cảm thán cho anh bạn trẻ, cũng có thể cô còn nhớ về ngày xưa của mình chăng ?

    “Anh bạn đó nói cũng có lý mà, đôi khi tôi nghĩ mình không đủ sức sống để yêu thương. Mà thôi, cô có thể cho tôi một ít chanh được không ?”– Anh ta nhìn vô tô phở hay đang nhìn chính mình, nhìn những thứ đã qua, sức sống của anh ta có trở lại trong đó chưa ?

    “Anh bước ra hái giúp tôi, nó ở bên trái chỗ tôi treo cây đèn, anh thông cảm hôm nay tôi bận quá nên thiếu sót đủ thứ cả”– Cô nhóm mũi chân rồi hướng về phía trước chỉ về chỗ cây đèn, từ chỗ của gã thấy rõ chanh đang rất sai quả.

    “Làm sao để biết quả nào dùng được”– Gã buộc miệng hỏi rồi tự dưng thấy sao mình lại hỏi ngớ ngẩn như vậy.

    “Người thành thị phải không, anh cứ ra chạm vào nó, nắm chặt một chút là biết ngay mà” – Cô chủ quán lại ngồi gần bên gã, nhìn về phía những quả chanh trên cành đang chở được hái.

    “Thật ngớ ngẩn”, gã nghĩ về mình như vậy khi đứng dưới ngước cổ nhìn lên cây chanh. Hắn đưa tay lên cao dè dặt, có vẻ người thành thị nào cũng sợ cây cối một cách kì lạ. Trong lúc ấy hắn nghe giọng nói trầm của cô gái trẻ bên trong phát ra dù không rõ lắm”Còn chị thì sao, sức sống để yêu”, cô gái lớn tuổi hơn đáp cái gì đó về khổ và chịu đựng. Đúng lúc đó gai chanh đâm vào vai gã, bao nhiêu khổ của hai người con gái kia với hắn biến đâu mất hết, ký ức khi nhỏ đi hái chanh ở quê nhà thế chỗ hiện về mồn một như gã chưa bao giờ rời đi khỏi đó vậy. 

    “Mình đã từng là đứa trẻ vui vẻ, một người năng nổ và lý tưởng. Mọi thứ mình đều vạch ra kế hoạch rõ ràng, để thành công, để có gia đình đầm ấm, để hạnh phúc !!! Sao mọi thứ lại thế này, sao mọi thứ lại vuột mất như vậy, sao không mãi ở cái làng nhỏ đó mãi mãi cười đùa. Sao mình lại ở một nơi xa xôi kỳ lạ này với những con người mình còn chẳng rõ họ có tồn tại không nữa”– trong suy nghĩ có những ám ảnh bắt đầu xuất hiện, hàng ngàn tấn bông gòn bao quanh, gã vẫn chuyển động nhưng chẳng thể biết được mình đang ở đâu và chuyện gì tiếp theo. Hết đám bông gòn thì thay vào đó là đống quả chanh khổng lồ chèn vào người gã, đôi mắt cay xè còn đầu lưỡi thì đắng nghét. Bỗng nhiên dám chanh rung lên , xa trong không trung có tiếng ai đó gọi”Này anh, này”. Cái đẩy nhẹ vai của cô chủ quán làm gã trung niên bừng tỉnh trong cơn ho thốc và rơi nước mắt. Cô lắc nhẹ gã thêm lần nữa rồi hỏi”Sao anh lại đưa chanh lên mặt rồi bóp mạnh thế này, tôi nói chạm vào là biết ngay thôi mà, trời ơi dân thành phố”.

    Cô chủ quán vừa hỏi gã tự đi vào được không, vừa đi sau lưng gã để trông chừng, cô cũng không muốn chạm vào một người đàn ông lạ mặt, chỉ trông nom nhau như một con người. Cô đi vào nhà lấy cái khăn mặt ướt và một con dao nhỏ, để gã lau mặt vừa là để sắc chanh ăn tiếp tô phở còn hơi âm ấm. Hai người bàn bên cũng quay ra xem gã có cần giúp gì không nhưng rồi họ về lại thế giới của mình, nơi có cánh hoa hồng treo dày vò trên gai gió. Ông già thì lặng thinh như hòn đá dưới suối trong bức tranh treo trên tường, có lẽ lão đang cố nhớ ra bốn câu thơ đã nhòe kia. 

    Không gian trở lại như lúc gã vừa mới bước vào quán, cô chủ rót tiếp một cốc bia nhỏ ngồi vào góc với cái tạp dề đã gỡ, hai cô gái thì trò chuyện gì đó của họ gã cũng không nghe rõ lắm vì vẫn chưa hoàn hồn dù đang từ từ ăn nốt tô phở đã dần nguội. Một cơn gió thổi đập vào cửa sổ nơi có cái bàn thờ, viên đã rơi xuống, lăn lộc cộc vài ba tiếng dưới sàn, cô chủ quán nhặt nó lên rồi chắp tay vài ba cái cho điều gì đó hay ai đó đã không còn hay là chưa đến. Một hạt đất sét cứng khô trên tay ông già rơi xuống, lão cúi xuống nhặt lên để qua một bên bàn rồi rót tiếp một ly rượu nhỏ. Tiếng rù rì của hai cô gái lặn dần xuống, từ ngữ ít đi mà nỗi niềm ngày một dâng lên. Ngẫm nhìn lại gã lại thấy, ở một vùng đất hẻo lánh mà họ văn mình hơn khối kẻ thành thị luôn coi mình là hiện đại, không ai xét nếp ai dù sự thể có phần hơi trái lẽ thường, có lẽ họ hiểu, trái lẽ thường là bản chất của một con người bình thường. 

    “Chị chưa bao giờ dám khởi đầu, em về đây” – Cô gái trẻ vừa nói vừa đứng dậy vùng chạy ra khỏi quán, người còn lại lặng lẽ nhìn theo đợi cho bóng cô không còn nhìn thấy thì mới quay vào trong, cô xin chủ quán cho cô xin lửa để đốt một điếu thuốc loại nhỏ, rồi ngồi đó một mình.

    Điếu thuốc trên tay cô thực khách còn lại vừa tàn một nửa, cô không hút nữa mà gác nó lên trên miệng ly hoa hồng, chờ cho nó cháy dần rồi tự lọt vào hố sâu không bật dậy nổi.”Chỉ sợ đó là khởi đầu của một bất hạnh mới mà thôi”cô thầm thì trong lặng lẽ như đang tự nói với cả cuộc đời mình vậy. Cô chú quán cũng vừa cạn ly bia, cô đặt xuống đi dọn tô phở cho gã trung niên rồi mang lên đĩa bánh đúc gã gọi trước đó, có lẽ cô đợi xem thực khách của mình ăn hết món nào mới mang lên món khác, kẻo lại no rồi thì thừa mứa. Cô mang đĩa bánh lên, dùng đũa gắp một miếng gừng đặt lên trên,”tôi phát hiện còn dư một ít nên đập ra cho vào nồi nước đường nóng, mời anh”. Cô lùi lại, quay người về phía cô khách cuối cùng hôm nay, xoa lưng cô ấy nhè nhẹ, có vẻ họ quen nhau từ trước nên hiểu chuyện gì đó đã xảy ra cho nhau. Trước cổng có tiếng bước chân dồn dập từ ngoài chạy vào quán, chủ quán bước từ trong bếp ra xem là ai, hóa ra là anh chàng tài xế xe bus mà gã trung niên gặp khi nãy. 

    “Ai giống con bé Gấm em gái em vậy chị, nhỏ vừa hớt hải chạy ra khỏi cổng em chưa kịp nhìn, giờ này nó đi đâu vậy ta, tưởng phải ở nhà ôn thi chứ”– Anh ta một tay chống nạnh một tay gãi đầu quay quay nhìn hỏi cô chủ quán.

    “Sao hôm nay về trễ vậy, làm ly bia lạnh đi, thở gì mà hổn hển như trâu”– Cô chủ quán tránh không trả lời, có lẻ cô gái trẻ vừa rồi đúng là em gái anh ta, cô đi vào trong rang một ít đậu phộng mà không nói gì thêm cả.

    Tội nghiệp anh chàng một thì tội cho cô gái bàn bên mười, cô loay hoay thu dọn túi xách và áo khoác, đánh rơi cả chìa khóa xuống nền nhà. Anh tài xế cúi nhặt dùm thì cô tránh ánh mắt không nhìn rồi giật nhanh lấy chìa khóa, đứng lên để tờ tiền 500k lại luôn trên cái bánh ăn còn dang dở rồi chạy nhanh ra khỏi cửa. Giờ thì thật tội nghiệp cho anh chàng chẳng hiểu chuyện gì, cứ gãi đầu rồi loay hoay mãi không biết trời trăng. Anh ta ngồi xuống ghế bên trái gã trung niên, vẫn còn chưa hiểu mô tê gì thì chợt thấy người quen khi nãy nên thốt lên”Ủa anh hả, nãy em còn lo cho anh định chạy theo coi có sao không, ai dè. Có duyên ghê, chú uống với con vài ly chơi cho ấm nha”. Gã trung niên cũng chẳng nghĩ ngợi được gì, ngày hôm nay đã quá nhiều sự kiện làm gã như lạc vào một bức tranh lễ hội huyên náo, tâm trạng luyến láy lẫn lộn hư thực. Hắn quyết định uống một phen mà quên mất túi chẳng còn một xu.

    “Mà sao anh lại trong bộ dạng như lúc nãy mà đến đây, ý em là nhìn anh bệ rạc lắm”– Sau vài ly ngà ngà say, vài ba câu chuyện tự thoại về bản thân thì anh tài xế bus hỏi . Anh ta là vậy, một người huyên náo, ngây ngô đến mức đôi khi vô tình tọc mạch mà không hay biết.

    “Kệ người ta mày, nhìn mày coi, toàn mùi dầu khí chứ ở đó mà chê”– Cô chủ quán cảm thấy câu hỏi quá đà nên nhanh miệng chen vào. Giọng điệu của cô có vẻ mọi người ở đây đều gắn bó, họ biết về nhau rõ nhưng cũng tế nhị không xen vào thô lỗ.

    “Không sao không sao cô, tôi bệ rạc thật mà. Anh đi lạc, ngủ quên, có lẽ quên luôn mình là ai, lạc luôn nơi mình đến”– Gã trung niên cúi đầu lè nhè đáp, gã sống lành mạnh và nguyên tắc nên ít khi động vào rượu, sau vài ba ly đã như người mơ màng.

    “Cái miệng em bậy rồi, xin lỗi anh, chị Lanh cho em thêm một xị tạ tội đi, à còn mồi gì cho em một ít nay đói quá”– Anh bạn lại gãi đầu cúi cúi rồi nói với cô chủ quán, hóa ra cô ấy tên Lanh

    “Ít thôi nha, để tui còn ngủ, bác Tư mà về là hai ông cũng phải đi chỗ khác cho tui đó, có mình tui ai dám chứa hai ông xỉn”- Chị Lanh vừa nói vừa chỉ tay về phía ông già Tư bên góc bàn có bức tranh, ông đang ngồi xếp mấy hạt đậu theo những hình thù đẹp mắt nhưng không rõ là gì. 

    Lanh đi vào bếp làm cho họ một đĩa cơm thập cẩm, gồm những gì còn sót lại trong bếp. Trong lúc đầu bếp làm đồ ăn, gã trung niên bắt đầu lè nhè kể về cuộc đời mình, từ trong bếp Lanh nghe rõ cả, có những đoạn do say nên không rõ ràng lắm nhưng nhìn chung cô phần nào hình dung được người khách lạ này, lạ đã trở thành quen chỉ sau một đêm, chung quy đời người cũng chẳng có mấy thứ để kể. Cô chủ quán làm một chảo to chia làm ba đĩa, cô đưa cho hai gã say một đĩa to, một đĩa nhỏ cô mang qua cho bác Tư,”con mời bác”, rồi ông đáp”cảm ơn chị”. Cô mang một đĩa nhỏ ngồi xuống góc quen thuộc của mình, ngồi đó dùng bữa cơm muộn của người phục vụ, những người chẳng mấy khi kể nhưng lại nghe rất nhiều.

    Được một lát sau, hai gã kia đã say khướt, cầm ly rượu không lên nổi, giọng nói cũng không ai nghe nổi. Gã trung niên thò tay vào túi thì chợt nhớ ra mình không còn tiền, gã hoảng hốt loay hoay, miệng cứ nói”Xin lỗi tôi đi vội không mang theo tiền”, vài ba câu đã gục xuống bàn mơ mơ màng màng. Đúng lúc đó ông Tư đứng lên, nhìn bức tranh rồi đọc lên một bài thơ bốn câu, có lẽ ông đã nhớ ra hay là tự đề tác.

    Nước trên nguồn chảy tuôn xuống hạ

    Người trên đời trôi nổi xót xa

    Khe suối nhỏ cánh hoa rơi rụng

    Hòn đá vùi chẳng tụng mà thông

    “Tiền đây Lanh, tính luôn tụi nó, còn Khắc, mày dẫn thằng này về xưởng tao, mai qua tính sau. Thôi bác Tư về nha con.”– Sau khi cảm tác một bài thơ giữa đêm khuya nơi núi rừng lạnh thiết, bác Tư quay ra nói với cô chủ quán rồi khều đầu anh tài xế xe bus tên Khắc. Trong mơ màng, gã trung niên chỉ nghe thấy mỗi bài thơ và”mai qua tính sau”.

    Đêm hôm ấy, mọi người đều yên bề khi về nhà, Lanh dọn dẹp quán sạch sẽ, lau hòn đá trên bệ thờ rồi đốt thêm một nén nhang. Cô kê mấy cái bàn trong quán lại, hóa ra bàn vuông để kê đầu, bàn chữ nhật gác chân, cứ thế cô đặt gối và mền ra rồi ngủ sau một ngày bình thường của người nơi đây, đâu đó cũng có vài điều lạ nhưng có lẽ rồi cũng sẽ kết thúc. Sau khi dẫn gã trung niên lạ về xưởng bác Tư, Khắc về nhà khẽ mở cửa phòng em gái thì thấy Gấm đã ngủ, vốn người tính đơn giản, anh cũng quên luôn bóng hình lờ mờ vùng chạy ra khi nãy ở Quán Rụ. Mai anh không làm việc gì nên mở tivi lên coi phim, mà không phải, là nghe phim mới đúng, anh chỉ mở để có tiếng người cho dễ ngủ, có lẽ anh đã quen không khí trên xe bus. Còn bác Tư thu xếp xong cho người lạ ngủ thì ra ngoài đi dạo cùng con chó già chỉ còn đâu đó chục cái răng, ông thích nhất giây phút này trong ngày, mọi thứ thật êm ái và xinh đẹp. 

  • Lạc hay đúng đường

    “Cọt kẹt”, tiếng cửa chiếc xe bus cũ kỹ như tâm hồn của gã đàn ông trung niên đang một mình lơ đãng nhìn ra ngoài cửa kính. Gã không nghe thấy tiếng xe dừng lại vài phút trước, tiếng nhốn nháo hành khách cũng dần tan đi, chỉ còn lại đôi lời trả giá của mấy người xe ôm với những hành khách cuối cùng còn sót lại, bao nhiêu tiền để được về nhà ?!. Gã vẫn ngồi đó bất động nhìn qua màn kính cửa sổ đóng một lớp sương dày như sự mơ hồ nào đó đã thôi thúc gã dốc vài đồng lẻ cuối cùng lên chuyến xe này, mờ mịt và vô định như khoảng thời gian qua sống trong làn khói cuộc đời. Gã nhìn thăm thẳm như xuyên qua muôn làn khói, bay trên những tầng cao đến với những thành phố xa lạ, gã không cần biết đó là đâu, chỉ cần một nơi nào đó khác là được, không còn sự lạnh lẽo đông cứng dưới cái nóng thiêu đốt ấy nữa, không còn nữa.”Không còn nữa”, gã lẩm bẩm một mình như nói với chính mình của nhiều năm trước và xa về phía những năm sau,”Không còn nữa”hắn nói với tấm cửa kính sương chiều phủ dày đặc.

    “Hôm nay sương xuống sớm, chắc lạnh lắm đây, anh về đâu cần em kêu xe ôm cho không ?”– Giọng nói của người tài xế trẻ tuổi như một cơn gió nhẹ tạm thổi tan đi mịt mù trước mắt. Người thanh niên nhỏ người, da hơi rám nắng, mắt anh ta cứ như muốn sụp xuống sau một chuyến đi dài, anh cố gắng bắt chuyện với người khách lạ mặt trong khi đang dọn dẹp rác trên xe. Người ta đến với anh khi mong mỏi được về nhà, để rồi bỏ lại anh một mình bên đống rác thải, không một lời cảm ơn,”Có lẽ trong suy nghĩ họ cảm ơn mình”anh nghĩ vậy rồi ngày qua ngày tiếp tục làm công việc của mình. 

    “Chú cho hỏi mấy giờ rồi, đây là đâu ?”– Gã trung niên khẽ bất giác quay về với thực tại, gã hỏi với giọng chậm rãi rồi lục lọi trong túi như đang tìm lại thứ gì đấy, điều gì đó đánh mất rồi chợt nhớ ra muốn tìm lại, dầu cho không rõ là có còn cần hay không nữa. 

    “Trời đất, anh hỏi gì kì vậy, trạm cuối rồi, thành phố Chạm, hồi nãy em thấy anh ngủ gục, hay đi huốc nhà luôn rồi ?”– Người tài xế ngồi xuống ghế đối diện, anh đặt cái túi đeo chéo của mình vòng ra sau lưng, người hơi cuối nhìn có vẻ dò xét người hành khách cuối cùng, câu hỏi có vẻ làm anh tỉnh ngủ như bộ phim bỗng đến phút bí hiểm, nhạc dồn dập vang lên để đi vào kịch tính.

    “Hừm, ra là đến tận Chạm, lâu rồi tôi cũng chưa đến đây, thôi xin lỗi làm phiền cậu, chắc tôi phải xuống xe rồi”– Gã vừa nói vừa nhìn quanh quất, dần tỉnh táo trở lại, đứng dậy vuốt quần áo cho thẳng thớm rồi bước xuống xe buýt, hai tay khoanh lại vào nhau vì lạnh. Người thanh niên đứng trên bậc cửa ra vào xe nhìn theo, một phần do dự vài phần lo lắng cho cái vẻ ngoài phờ phạc của người hành khách kỳ lạ, anh với tay phải lên định gọi nhưng rồi lại thôi. 

    Trạm xe đã không còn một ai, bên trong tòa nhà vận hành sót vài ánh đèn le lói, chẳng rõ là có người hay không. Bên trong cùng nhà giữ xe nhân viên có chiếc xe máy cũ, chắc hẳn của người tài xế cuối cùng về bến, mọi thứ đều như dừng lại trong giây lát, lặng lẽ trông nom nhau ở một nơi hiu hắt, thứ trông nom hiếm hoi không còn tìm thấy ở những thành phố nhộn nhịp. 

    Gã trung niên đứng trước cổng bến xe, cái lạnh làm gã không còn nghĩ gì cho thông suốt, nhìn quanh về phía con dốc bên phải cùng ngọn đồi bên trái và ánh đèn phố xá ở con đường phía trước mặt, đi lên đi xuống hay đi về phía an toàn ? Một cơn gió đột nhiên ùa từ ngọn đồi phía trên cao xuống dưới con dốc, những ánh đèn đường chập chờn treo trước nhà của người dân chớp tắt, những chiếc lá cuốn đi theo hình xoắn ốc về phía cuối con dốc sâu hoáy tưởng chừng như vô tân, nuốt đi tất cả hy vọng le lói cuối cùng. Những cuộn lá khô xoáy lúc hiện ra khi lại biến mất, nhìn từ xa gã thấy một đốm lửa đung đưa khi gió thổi ngang, xung quanh có một nhóm người đang tụ lại sưởi ấm và có thể đang nướng một vài thứ. Ánh nhìn của gã dừng lại ở họ bên đống lửa, cái lạnh thấu xương đã lấn áp toàn bộ tâm trí và hệ logic nơi một kẻ từng trải, một con ngựa đầy vết hằn đang chạy trên một thảo nguyên lạnh lẽo chỉ còn muốn có một đống lửa nhỏ cùng tiếng nói ấm áp của con người, những con người thật sự. Gã quyết định đi theo sự chỉ đường của cơn gió lạnh lẽo, với cái đầu trống trơn không mong ước gì ngoài đốm lửa nhỏ nhoi, một thứ gì đó còn le lói bên trong tảng băng tâm hồn già nua của mình. 

    Gió vẫn thổi rét buốt từ trên phía đồi xuống con dốc, gã kéo cái cổ áo sơ mi lên che cho bớt lạnh, chiếc áo còn mùi công sở trưa nay sót lại, gã như vừa mới chui ra từ một vũng bùn chưa kịp tắm rửa. Cơn lạnh đêm nơi đồi núi vẫn len lỏi vào da thịt làm gã đôi lúc như muốn buồn nôn, nhưng gã chịu được cái lạnh này, nó dễ chịu hơn nhiều so với cái lạnh mà hắn đã ngụp lặn suốt những năm qua. Cái lạnh tình người, có lúc gã chạy vội ra bờ sông vắng gần nhà, một mình, chỉ để nôn ra những thứ bản thân đã dự phần vào đó. Dần rồi nôn ra bờ sông như một nghi thức xưng tội, để mai gã còn tiếp tục mà sống, con sông như Chúa trời nhận lấy mọi tội lỗi dơ bẩn một cách thản nhiên, một bông hoa dại nở trong sương mai sẽ che mờ đi tất cả. Sự buồn nôn thì không, nó vẫn sẽ quay lại như một căn bệnh chưa được trị tận gốc, ít ra hôm nay gã đã dốc hết sức lực để đi tìm phương thuốc, dù không biết nó ở đâu và thậm chí có tồn tại hay không, gã chỉ không thể chịu đựng nổi thêm nữa.

    Hai tay bỏ vào túi quần tây dài màu xanh dương đậm, chiếc quần với cái mép quần đứt vài sợi chỉ sờn màu, không biết gã đã bỏ bê mình bao lâu, mà những người xung quanh gã đâu cũng không rõ. Chậm rãi đi từng bước xuống con dốc, đầu cúi xuống mặt đường, có một tiếng chuông gió bằng đá đâu đó vang lên như chào đón và đánh thức người khách lạ. Dưới lòng đường đã không còn chộn rộn xe cộ nữa, thay vào đó mấy chiếc lá đôi khi lại nối đuôi nhau đi ngang chạm vào cẳng tay trái gã, làm gã giật mình vì ngỡ mình còn ở phố thị. Trong cái không khí ấy, mọi thứ xung quanh đang như xầm xì bàn tán, dự đoán về câu chuyện của một người lạ. Đám lá đôi khi đang vẫy chào gã, còn đám côn trùng thì mon men tò mò đi theo, có ai đó cũng đứng nhìn ra từ trong nhà đang sáng đèn. Nhưng ở nơi đây đơn thuần đó là chuyện trò hơn là tọc mạch soi mói, kể nhau nghe rồi thôi, có lẽ trừ bọn côn trùng nhiều chuyện. 

    “Thịch”gã vấp phải một mảng gạch lát lề đường hơi chênh, một thứ tưởng chừng như không đúng vị trí lay gã tỉnh hơn trở lại, mặt ngẩng lên cao với chiếc lưng thẳng và đôi mắt mở to để nhìn xung quanh. Đốm lửa nhỏ và nhóm người khi nãy gã thấy khi còn ở trạm xe bus đã gần ngay trước mặt, lỏe nhòe trong đêm cách hắn đâu đó 50 mét. Bước tiếp với nhịp chân nhanh hơn, vừa đi gã vẫn lục lọi quanh túi mình như vẫn chưa tìm được thứ mình cần, gã còn lướt tay qua trước ngực áo mà quên mất nó không hề có túi. Bỗng gã đứng lại, lấy hai tay dụi mắt hai lần rồi đặt tay nhìn quanh qua lại vài lần, đám lửa nhỏ ở ngay trước hắn độ còn 5 mét. Hóa ra đó là một bụi bông Trang đỏ nở rực còn ở trên là cây Pháo Bông tỏa táng trổ hoa như bao phủ viền ngoài bụi bông Trang, vậy những người khi nãy hắn thấy ở đâu, họ đã đi đâu, hoa mắt sao, hay còn gì khác chưa rõ. Gã nhìn lên cao một chút về phía cái cổng rào đi vào ngôi nhà, giật bắn mình mém ngã lăn ra lề đường, bốn cái mặt người lùn đang cười trước mặt hắn. Thì ra là tượng gốm trang trí, có lẽ chẳng có gì buồn cười với gã lúc này lắm. Sau vài phút hoàn hồn, hắn nhìn lên phía trên dàn hoa Pháo Bông là một tấm bảng gỗ được đốt bằng đầu bút lửa để chạm trổ, trên đó ghi vỏn vẹn hai chữ”Quán Rụ”. Từ bên ngoài thì vẫn còn nghe thấy tiếng râm rang nói chuyện. Ngôi nhà nhìn từ xa cũng không có gì đặc biệt, hai bên đi vào có hàng hoa hồng Tiểu Muội nhỏ đang trổ hoa, đường đi vào không có đèn nên chỉ thấy vỏn vẹn năm sáu cái hoa sáng bật lên do ánh đèn trong nhà tỏa ra ngoài một ít, hay chúng chỉ nở có bao nhiêu thôi cũng chẳng rõ. Gã quay đi quanh lại vài bận, do dự với chút sợ hãi còn sót lại, nhưng quyết định đi vào, vì cũng đói lắm rồi. 

    Ngôi nhà trông giản tiện nhưng lại có vẻ rất chắc chắn và được xây cất tỉ mỉ, mọi thứ nhìn như những mảnh lego gỗ và đá xếp lại với nhau thông qua các khớp nối, chẳng thấy một vết đinh nào cả. Bên dưới sàn có ba tảng đá trung bình dùng để nâng sàn nhà bằng gỗ, có lẽ bên dưới là một hệ đá được thu xếp với nhau để đỡ lấy sàn. Ngôi nhà như toát lên cái tinh thần của không khí nơi đây, mọi thứ liên kết với nhau mà chẳng cần gán ghép phụ trợ, chẳng có gì bị thủng lỗ chỗ hay tổn thương quá mức cả, ngôi nhà cũng làm gã quên đi nỗi sợ mà thay vào đó là tò mò. 

    Bên trong chẳng có nhiều đồ nội thất bàn ghế gì nhưng lại hết sức lạ lùng, chỉ có mỗi ba cái bàn và mười cái ghế cùng vài bức tranh và một bàn thờ. Một chiếc bàn to nằm ở giữa nhà hình lục giác cùng sáu cái ghế xung quanh, cạnh cửa sổ bên trái nhìn ra khu vườn bên hông nhà là một bàn hình chữ nhật và một băng ghế dài nhỏ như chỉ dành cho hai người đang quay lưng, và một cái bàn hình vuông nhỏ lọt thỏm bên góc nhà bên phải với duy nhất một chiếc ghế có tựa lưng cho ai đó chỉ nhìn vào vách tường, hai cái ghế còn lại thì để rải rác ở hai góc trái phải ngoài cửa đi vào chẳng rõ là dành cho ai. Trên chiếc bàn nhìn ra ngoài vườn có một chiếc ly nhỏ bằng gốm, trong đó cắm duy nhất một cành hoa hồng hái trong vườn. Khi nhìn lên tường bên góc bàn hình vuông gã thấy một bức tranh vẽ khóm Trúc đang rụng lá xuống một con suối lởm chởm đá, trên đó có đề bốn câu thơ đã nhòe không đọc rõ. Chẳng có gì trên chiếc bàn to lục giác giữa nhà ngoài ba lọ gia vị muối tiêu đường cho đám đông ngồi đó. Cuối cùng là chiếc bàn thờ nằm bên cửa sổ phía phải, nhang được cắm vào một cục đất sét mềm, hương tỏa ra thoang thoảng làm dễ chịu như đất rừng, nhưng đặc biệt khi không thấy ai ngồi đó ngoài một hòn đá cuội tròn thô ráp. Cảnh tượng làm cảm xúc của gã lẫn lộn đan xen vào nhau, chút gì đó kỳ quái nhưng vô cùng thú vị nơi này, trong giây phút ấy hắn quên mất những ngổn ngang sau lưng của mình còn đó.

    Khi gã vào trong quán thì đã có năm thực khách, một ông già ngồi một mình bên trong chiếc bàn vuông, hai cô gái cùng nhau thầm thì ở băng ghế dài cạnh cửa sổ, họ có vẻ ưu tư không nhìn vào mặt nhau Trên chiếc bàn lớn giữa quán, một cậu nhóc khoảng cấp hai và anh chàng đâu đó gần ba mươi tuổi không có gì là thân thiết nhau ngồi cách xa hai cái ghế quanh bàn to ở giữa, nhìn họ như ai cũng có một câu chuyện thú vị để kể nhưng lại muốn được nghỉ ngơi vào một đêm lộng gió. Gã ngồi xuống bên trái cậu nhóc, vì đó có lẽ là lựa chọn khả dĩ và an toàn nhất cho một người lạ. Nhìn xung quanh tìm chủ quán thì không thấy đâu, cũng chẳng có thực đơn trên bàn hay thông tin nào được dán trên tường. Vừa quay đầu sang định xem cậu nhóc đang ăn gì thì có tiếng nói thỏ thẻ sau lưng gã vang lên, giọng nói thình lình đủ làm hắn một chút bồn chồn nhưng không hoảng hốt như khi đi vào:”Anh cứ gọi một trong những món mọi người đang ăn, nếu không thì quán chỉ còn có Phở”. 

    Đó là giọng của người đàn bà không còn trẻ, nhưng sức sống bên ngoài cùng sự thư thái toát ra khiến cô chưa thể già ở cái độ tuổi ấy. Tuy vậy những nếp nhăn li ti và bàn tay thô ráp của công việc chân tay lâu năm vẫn mang trong mình những câu chuyện từ rất lâu rồi. Cô ngồi trên chiếc ghế bên phải phía cửa đi vào, nhưng do cánh cửa che đi phần nào sự hiện diện của cô mà gã không nhận ra khi bước vô quán, hay sự thản lặng của cô khó mà nhận diện bởi một tên đang rối bời, cũng có thể cô cứ thế đột nhiên xuất hiện tại cuộc đời gã mà thôi. Cô đứng lên trong bộ váy hoa nhiều họa tiết trên nền vải màu như một tờ giấy sẫm màu, bên ngoài là chiếc tạp dề màu trắng. Cô đứng lên với đôi chân trần, đặt ly bia nhỏ xuống ghế, có lẽ cô đang tận hưởng cuối ngày làm việc của mình vì nghĩ sẽ chẳng còn ai đến quán nữa. 

    “Hừm, vậy cô cho tôi một tô Phở”– Gã trả lời sau vài giây nhìn quanh, cố gằng giọng một chút để toát lên vẻ trung niên của mình, cũng là để làm bản thân bình tĩnh hẳn.

    Cô không trả lời gì mà khẽ gật đầu cười cùng dấu hiệu OK bằng tay trái rồi bước vào trong bếp. Bước qua rèm vải đơn sơ bên lối trái vào bếp, để lại biết bao câu hỏi và năm con người xa lạ cho gã cùng một thứ gì đó gờn gợn. Đôi khi trong bếp phát ra tiếng tanh tách của củi cháy, đôi lúc lại lộc cộc của ly rượu ông già bàn vuông đặt xuống. Anh bạn trạc 30 thì đang hút điếu thuốc cùng lon bia và đĩa gân gà cháy tỏi anh ta nhìn gã với vẻ dò xét, hai cô gái bàn bên thì đang thầm thì chuyện của mình.

    “Hôm nay em thế nào?”– Cô gái gần 30 nghiêng sang một chút rồi hỏi, ngón tay phải áp út của cô lướt qua lại trên thành mép cái đĩa gốm nhỏ có vài chiếc bánh đúc cốt dừa, gạc một chút nước đường dính trên, có lẽ tâm hồn cô đang ở ngoài rìa một thế giới nào đó bất định, thoáng qua thoảng lại không biết đi đâu.

    “Đừng”- Cô gái trẻ hơn lấy ngón trỏ tay trái mình dừng tay cô kia lại, lộ ra một chiếc nhẫn, có lẽ cô gái đặt câu hỏi đã có chồng. Cô gái trẻ nhịp nhịp ngón tay mình vài ba cái trên chiếc nhẫn, nhìn xuống nó rồi vừa nói vừa ngẩng lên nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Chị đừng cố bắt chuyện khi không có gì để nói, thế này lại hay”– Cô gái trẻ sau vài giây nhìn ra cửa sổ thì cất tiếng, giọng cô ấm như đang nói bằng giọng mũi, cô lại nhìn vào hoa hồng trong chiếc ly nhỏ rồi đặt câu hỏi :”Chúng đang tự vệ trong lo âu hay chúng sinh ra là để tổn thương kẻ khác ?”; cô ngắt một cành hoa rồi đặt lên trên một chiếc bánh, mặt cúi nhìn chúng.

    “Có lẽ đó là phần cứng cỏi trong chúng, để có trách nhiệm tránh cho thế giới này trở nên phù phiếm, nếu chúng buông thả, có lẽ chính chúng cũng không còn biết quý trọng gì nữa”– Cô gái lớn hơn nhặt cánh hoa rồi treo chúng lên gai của chính cành hoa trong ly. Cánh hoa hồng như đang giãy dụa, dùng dằng, không phải đau khổ mà day dứt trong lưỡng nan. 

    Gã ngồi gần họ nhất nên nghe rõ những lời ưu niệm thật đẹp mà thật u sầu đấy, có lẽ những người khác cũng nghe thấy và ngẫm nghĩ về thân phận mình. Đúng lúc đó người chủ quán mang lên cho gã bát Phở bò nóng hổi, ở một nơi lạnh lẽo heo hút này càng làm chúng tỏa khói nghi ngút trông bắt mắt hơn nữa, có vẻ như một ông Bụt nào đó sẽ hiện ra để cứu giúp đời gã chăng. Chẳng có ai hiện ra cả, chỉ có mình gã và tô Phở trước mặt.

    “Cô cho hỏi còn bánh đúc không, lâu tôi không ăn mà nhìn anh bạn nhỏ ăn ngon quá nên thèm”– Thật ra gã nhìn sang hai cô gái bàn bên mà tránh không nói vì mong họ thoải mái có những phút giây trò chuyện cùng nhau.

    “À còn một ít mẹ tôi gửi từ miệt miền Tây lên chứ ở đây không làm, anh ăn phải đợi sơ chế, lạnh ăn không có ngon”– Cô chủ quán vừa nói vừa chỉ tay vào bếp.

    “Ngoài ra hôm nay thiếu gừng nên con thấy thiếu thiếu”– Cậu nhóc ngồi bên cạnh gã ngẩng đầu lên nói, miệng cười mím môi nhe tới mang tai híp luôn cả mắt.

    “Cũng phải, sáng nay quên mất, xin lỗi nha nhỏ”– Chủ quán vén váy gọn gàng trong khi khụy gối xuống bàn vừa nói vừa nhìn cười cùng vị khách nhỏ tuổi. 

    “Không có chắc cũng không sao đâu hả, một ít gừng chắc không ảnh hưởng nhiều“.

    “Xin lỗi, tôi thấy ăn cũng ổn anh à, đúng là cảm giác không trọn vẹn nhưng có lẽ không sao do bánh của bà chủ ngon dai lắm, anh thử xem sao”– Cô gái lớn tuổi quay lưng lại gặt đầu với gã rồi vừa nói vừa gãi gò má. Cô có mái tóc dài qua khỏi vai một xíu, ăn bận gọn gàng với tông màu hơi nhạt, dưới ánh đèn vàng cô như bước ra từ một bức tranh cũ kĩ, không buồn chán nhưng có phần phai mờ dần.

    “Vậy thì tình yêu ở đâu trên đời này nữa”– Cô gái trẻ vừa nằm dài ra bàn vừa khều khều cánh hoa hồng trên gai nhọn.

    Trong phút chốc cả không gian im lặng không còn một lời nào. Cảm giác một hang sâu nào đó bao trùm mọi thứ xung quanh đến nổi chẳng ai thốt ra nổi, thậm chỉ là không thể nghĩ được gì, chỉ còn lại tiếng buông đũa đặt lên đĩa gốm của ông già bên bàn vuông, ông ta đã định quay đầu nhìn lại sau lưng nhưng rồi lại thôi.  

    Cô thực khách lớn hơn bối rối, quay người đứng lên khều khều tay cô gái trẻ làm cô bật dậy quay ra nhìn. Cô ngay lập tức nhận thấy mình đã tạo nên không khí có phần hơi khó xử này, dù cho cô chẳng có tội tình gì khi hỏi một điều cô còn băn khoăn. Cô quay người đứng lên cúi đầu xin lỗi hai lần, cô làm gã trung niên cũng bối rối theo, cả hai cùng cúi gật đầu xin lỗi qua lại :”Xin lỗi tôi đã làm ồn không gian của hai người”đó là lời thú tội gã đưa ra trong khi lại thích thú lúc quan sát chuyện trước đó. Tạ lỗi vì sự thích thú, hóa ra những niềm hứng khởi đều là tội lỗi chăng ? Cũng không đến như vậy.

    “Nhịn không nổi một bữa bánh đúc không gừng, thì nói gì đến tình yêu, không đáng, không đáng nhận, không đáng”– Người thanh niên trạc 30 tuổi giọng lè nhè say quơ tay quơ chân cầm ly bia loạng choạng xém ngã. Hắn đang định nói thêm gì đó thì bà chủ quán nhanh tay dực cái bánh cuối cùng trong đĩa thằng nhỏ, nhét vào miệng anh ta. Cô quay ra đá lông nheo với thằng nhỏ rồi nói thêm :”Hôm nay miễn phí con về mai còn đi học”

    Thằng nhỏ có vẻ bực mình, cầm đũa chọt chọt vào đĩa, nhưng rồi nó cũng đứng dậy rời đi, trước khi đi nói quay ra nói với ông già ngồi trong góc bàn vuông :”Con về trước nha ông Tư”. Ông già không nói gì mà giơ tay lên, để lộ ra một ít đất sét đông cứng còn sót lại đằng sau bàn tay, không rõ là chuyện gì. Cô chủ quán thu xếp để mọi người ngồi lại vào chỗ cũ, sau đó bưng dọn đĩa rồi lau bàn chỗ thằng nhỏ vừa rời đi. Gã trung niên ngồi xuống ăn tô phở, lâu lâu lại nhìn anh bạn đang ngồm ngoàm cục bánh đúc như bị mắc nghẹn, gã đang suy nghĩ gì đó về lời của anh ta.  

    “Bánh cũng ngon quá bà chủ, chắc lâu không được ăn thế nào thấy cũng ngon, cho thêm lon bia đi chị già ơi, làm gì mà căng vậy, say thôi mà”– Người thanh niên vừa nhai vừa nói vào trong bếp nhưng bị từ chối”Đi về đi, nay uống lố rồi đó, không bán nữa đâu”.

    “Về thì về, không cho say thì thôi, ít ra tui còn dám say tình, hơn khối kẻ chưa bước ra khỏi nhà mà chê ma chê quỷ”– Hẳn bỏ tiền xuống rồi kẹp dưới ly bia cạn, vừa đi vừa quơ quào loạng choạng nhưng cũng ra được tới cổng, hắn còn khép cổng ngay ngắn trước khi đi, một gã say ngông cuồng tử tế.

    “Suốt ngày”– Cô chủ quán nhìn theo, hai tay chống nạnh, cô không lắc đầu vẻ ngao ngán, chỉ là một câu cảm thán cho anh bạn trẻ, cũng có thể cô còn nhớ về ngày xưa của mình chăng ?

    “Anh bạn đó nói cũng có lý mà, đôi khi tôi nghĩ mình không đủ sức sống để yêu thương. Mà thôi, cô có thể cho tôi một ít chanh được không ?”– Anh ta nhìn vô tô phở hay đang nhìn chính mình, nhìn những thứ đã qua, sức sống của anh ta có trở lại trong đó chưa ?

    “Anh bước ra hái giúp tôi, nó ở bên trái chỗ tôi treo cây đèn, anh thông cảm hôm nay tôi bận quá nên thiếu sót đủ thứ cả”– Cô nhóm mũi chân rồi hướng về phía trước chỉ về chỗ cây đèn, từ chỗ của gã thấy rõ chanh đang rất sai quả.

    “Làm sao để biết quả nào dùng được”– Gã buộc miệng hỏi rồi tự dưng thấy sao mình lại hỏi ngớ ngẩn như vậy.

    “Người thành thị phải không, anh cứ ra chạm vào nó, nắm chặt một chút là biết ngay mà” – Cô chủ quán lại ngồi gần bên gã, nhìn về phía những quả chanh trên cành đang chở được hái.

    “Thật ngớ ngẩn”, gã nghĩ về mình như vậy khi đứng dưới ngước cổ nhìn lên cây chanh. Hắn đưa tay lên cao dè dặt, có vẻ người thành thị nào cũng sợ cây cối một cách kì lạ. Trong lúc ấy hắn nghe giọng nói trầm của cô gái trẻ bên trong phát ra dù không rõ lắm”Còn chị thì sao, sức sống để yêu”, cô gái lớn tuổi hơn đáp cái gì đó về khổ và chịu đựng. Đúng lúc đó gai chanh đâm vào vai gã, bao nhiêu khổ của hai người con gái kia với hắn biến đâu mất hết, ký ức khi nhỏ đi hái chanh ở quê nhà thế chỗ hiện về mồn một như gã chưa bao giờ rời đi khỏi đó vậy. 

    “Mình đã từng là đứa trẻ vui vẻ, một người năng nổ và lý tưởng. Mọi thứ mình đều vạch ra kế hoạch rõ ràng, để thành công, để có gia đình đầm ấm, để hạnh phúc !!! Sao mọi thứ lại thế này, sao mọi thứ lại vuột mất như vậy, sao không mãi ở cái làng nhỏ đó mãi mãi cười đùa. Sao mình lại ở một nơi xa xôi kỳ lạ này với những con người mình còn chẳng rõ họ có tồn tại không nữa”– trong suy nghĩ có những ám ảnh bắt đầu xuất hiện, hàng ngàn tấn bông gòn bao quanh, gã vẫn chuyển động nhưng chẳng thể biết được mình đang ở đâu và chuyện gì tiếp theo. Hết đám bông gòn thì thay vào đó là đống quả chanh khổng lồ chèn vào người gã, đôi mắt cay xè còn đầu lưỡi thì đắng nghét. Bỗng nhiên dám chanh rung lên , xa trong không trung có tiếng ai đó gọi”Này anh, này”. Cái đẩy nhẹ vai của cô chủ quán làm gã trung niên bừng tỉnh trong cơn ho thốc và rơi nước mắt. Cô lắc nhẹ gã thêm lần nữa rồi hỏi”Sao anh lại đưa chanh lên mặt rồi bóp mạnh thế này, tôi nói chạm vào là biết ngay thôi mà, trời ơi dân thành phố”.

    Cô chủ quán vừa hỏi gã tự đi vào được không, vừa đi sau lưng gã để trông chừng, cô cũng không muốn chạm vào một người đàn ông lạ mặt, chỉ trông nom nhau như một con người. Cô đi vào nhà lấy cái khăn mặt ướt và một con dao nhỏ, để gã lau mặt vừa là để sắc chanh ăn tiếp tô phở còn hơi âm ấm. Hai người bàn bên cũng quay ra xem gã có cần giúp gì không nhưng rồi họ về lại thế giới của mình, nơi có cánh hoa hồng treo dày vò trên gai gió. Ông già thì lặng thinh như hòn đá dưới suối trong bức tranh treo trên tường, có lẽ lão đang cố nhớ ra bốn câu thơ đã nhòe kia. 

    Không gian trở lại như lúc gã vừa mới bước vào quán, cô chủ rót tiếp một cốc bia nhỏ ngồi vào góc với cái tạp dề đã gỡ, hai cô gái thì trò chuyện gì đó của họ gã cũng không nghe rõ lắm vì vẫn chưa hoàn hồn dù đang từ từ ăn nốt tô phở đã dần nguội. Một cơn gió thổi đập vào cửa sổ nơi có cái bàn thờ, viên đã rơi xuống, lăn lộc cộc vài ba tiếng dưới sàn, cô chủ quán nhặt nó lên rồi chắp tay vài ba cái cho điều gì đó hay ai đó đã không còn hay là chưa đến. Một hạt đất sét cứng khô trên tay ông già rơi xuống, lão cúi xuống nhặt lên để qua một bên bàn rồi rót tiếp một ly rượu nhỏ. Tiếng rù rì của hai cô gái lặn dần xuống, từ ngữ ít đi mà nỗi niềm ngày một dâng lên. Ngẫm nhìn lại gã lại thấy, ở một vùng đất hẻo lánh mà họ văn mình hơn khối kẻ thành thị luôn coi mình là hiện đại, không ai xét nếp ai dù sự thể có phần hơi trái lẽ thường, có lẽ họ hiểu, trái lẽ thường là bản chất của một con người bình thường. 

    “Chị chưa bao giờ dám khởi đầu, em về đây” – Cô gái trẻ vừa nói vừa đứng dậy vùng chạy ra khỏi quán, người còn lại lặng lẽ nhìn theo đợi cho bóng cô không còn nhìn thấy thì mới quay vào trong, cô xin chủ quán cho cô xin lửa để đốt một điếu thuốc loại nhỏ, rồi ngồi đó một mình.

    Điếu thuốc trên tay cô thực khách còn lại vừa tàn một nửa, cô không hút nữa mà gác nó lên trên miệng ly hoa hồng, chờ cho nó cháy dần rồi tự lọt vào hố sâu không bật dậy nổi.”Chỉ sợ đó là khởi đầu của một bất hạnh mới mà thôi”cô thầm thì trong lặng lẽ như đang tự nói với cả cuộc đời mình vậy. Cô chú quán cũng vừa cạn ly bia, cô đặt xuống đi dọn tô phở cho gã trung niên rồi mang lên đĩa bánh đúc gã gọi trước đó, có lẽ cô đợi xem thực khách của mình ăn hết món nào mới mang lên món khác, kẻo lại no rồi thì thừa mứa. Cô mang đĩa bánh lên, dùng đũa gắp một miếng gừng đặt lên trên,”tôi phát hiện còn dư một ít nên đập ra cho vào nồi nước đường nóng, mời anh”. Cô lùi lại, quay người về phía cô khách cuối cùng hôm nay, xoa lưng cô ấy nhè nhẹ, có vẻ họ quen nhau từ trước nên hiểu chuyện gì đó đã xảy ra cho nhau. Trước cổng có tiếng bước chân dồn dập từ ngoài chạy vào quán, chủ quán bước từ trong bếp ra xem là ai, hóa ra là anh chàng tài xế xe bus mà gã trung niên gặp khi nãy. 

    “Ai giống con bé Gấm em gái em vậy chị, nhỏ vừa hớt hải chạy ra khỏi cổng em chưa kịp nhìn, giờ này nó đi đâu vậy ta, tưởng phải ở nhà ôn thi chứ”– Anh ta một tay chống nạnh một tay gãi đầu quay quay nhìn hỏi cô chủ quán.

    “Sao hôm nay về trễ vậy, làm ly bia lạnh đi, thở gì mà hổn hển như trâu”– Cô chủ quán tránh không trả lời, có lẻ cô gái trẻ vừa rồi đúng là em gái anh ta, cô đi vào trong rang một ít đậu phộng mà không nói gì thêm cả.

    Tội nghiệp anh chàng một thì tội cho cô gái bàn bên mười, cô loay hoay thu dọn túi xách và áo khoác, đánh rơi cả chìa khóa xuống nền nhà. Anh tài xế cúi nhặt dùm thì cô tránh ánh mắt không nhìn rồi giật nhanh lấy chìa khóa, đứng lên để tờ tiền 500k lại luôn trên cái bánh ăn còn dang dở rồi chạy nhanh ra khỏi cửa. Giờ thì thật tội nghiệp cho anh chàng chẳng hiểu chuyện gì, cứ gãi đầu rồi loay hoay mãi không biết trời trăng. Anh ta ngồi xuống ghế bên trái gã trung niên, vẫn còn chưa hiểu mô tê gì thì chợt thấy người quen khi nãy nên thốt lên”Ủa anh hả, nãy em còn lo cho anh định chạy theo coi có sao không, ai dè. Có duyên ghê, chú uống với con vài ly chơi cho ấm nha”. Gã trung niên cũng chẳng nghĩ ngợi được gì, ngày hôm nay đã quá nhiều sự kiện làm gã như lạc vào một bức tranh lễ hội huyên náo, tâm trạng luyến láy lẫn lộn hư thực. Hắn quyết định uống một phen mà quên mất túi chẳng còn một xu.

    “Mà sao anh lại trong bộ dạng như lúc nãy mà đến đây, ý em là nhìn anh bệ rạc lắm”– Sau vài ly ngà ngà say, vài ba câu chuyện tự thoại về bản thân thì anh tài xế bus hỏi . Anh ta là vậy, một người huyên náo, ngây ngô đến mức đôi khi vô tình tọc mạch mà không hay biết.

    “Kệ người ta mày, nhìn mày coi, toàn mùi dầu khí chứ ở đó mà chê”– Cô chủ quán cảm thấy câu hỏi quá đà nên nhanh miệng chen vào. Giọng điệu của cô có vẻ mọi người ở đây đều gắn bó, họ biết về nhau rõ nhưng cũng tế nhị không xen vào thô lỗ.

    “Không sao không sao cô, tôi bệ rạc thật mà. Anh đi lạc, ngủ quên, có lẽ quên luôn mình là ai, lạc luôn nơi mình đến”– Gã trung niên cúi đầu lè nhè đáp, gã sống lành mạnh và nguyên tắc nên ít khi động vào rượu, sau vài ba ly đã như người mơ màng.

    “Cái miệng em bậy rồi, xin lỗi anh, chị Lanh cho em thêm một xị tạ tội đi, à còn mồi gì cho em một ít nay đói quá”– Anh bạn lại gãi đầu cúi cúi rồi nói với cô chủ quán, hóa ra cô ấy tên Lanh

    “Ít thôi nha, để tui còn ngủ, bác Tư mà về là hai ông cũng phải đi chỗ khác cho tui đó, có mình tui ai dám chứa hai ông xỉn”- Chị Lanh vừa nói vừa chỉ tay về phía ông già Tư bên góc bàn có bức tranh, ông đang ngồi xếp mấy hạt đậu theo những hình thù đẹp mắt nhưng không rõ là gì. 

    Lanh đi vào bếp làm cho họ một đĩa cơm thập cẩm, gồm những gì còn sót lại trong bếp. Trong lúc đầu bếp làm đồ ăn, gã trung niên bắt đầu lè nhè kể về cuộc đời mình, từ trong bếp Lanh nghe rõ cả, có những đoạn do say nên không rõ ràng lắm nhưng nhìn chung cô phần nào hình dung được người khách lạ này, lạ đã trở thành quen chỉ sau một đêm, chung quy đời người cũng chẳng có mấy thứ để kể. Cô chủ quán làm một chảo to chia làm ba đĩa, cô đưa cho hai gã say một đĩa to, một đĩa nhỏ cô mang qua cho bác Tư,”con mời bác”, rồi ông đáp”cảm ơn chị”. Cô mang một đĩa nhỏ ngồi xuống góc quen thuộc của mình, ngồi đó dùng bữa cơm muộn của người phục vụ, những người chẳng mấy khi kể nhưng lại nghe rất nhiều.

    Được một lát sau, hai gã kia đã say khướt, cầm ly rượu không lên nổi, giọng nói cũng không ai nghe nổi. Gã trung niên thò tay vào túi thì chợt nhớ ra mình không còn tiền, gã hoảng hốt loay hoay, miệng cứ nói”Xin lỗi tôi đi vội không mang theo tiền”, vài ba câu đã gục xuống bàn mơ mơ màng màng. Đúng lúc đó ông Tư đứng lên, nhìn bức tranh rồi đọc lên một bài thơ bốn câu, có lẽ ông đã nhớ ra hay là tự đề tác.

    Nước trên nguồn chảy tuôn xuống hạ

    Người trên đời trôi nổi xót xa

    Khe suối nhỏ cánh hoa rơi rụng

    Hòn đá vùi chẳng tụng mà thông

    “Tiền đây Lanh, tính luôn tụi nó, còn Khắc, mày dẫn thằng này về xưởng tao, mai qua tính sau. Thôi bác Tư về nha con.”– Sau khi cảm tác một bài thơ giữa đêm khuya nơi núi rừng lạnh thiết, bác Tư quay ra nói với cô chủ quán rồi khều đầu anh tài xế xe bus tên Khắc. Trong mơ màng, gã trung niên chỉ nghe thấy mỗi bài thơ và”mai qua tính sau”.

    Đêm hôm ấy, mọi người đều yên bề khi về nhà, Lanh dọn dẹp quán sạch sẽ, lau hòn đá trên bệ thờ rồi đốt thêm một nén nhang. Cô kê mấy cái bàn trong quán lại, hóa ra bàn vuông để kê đầu, bàn chữ nhật gác chân, cứ thế cô đặt gối và mền ra rồi ngủ sau một ngày bình thường của người nơi đây, đâu đó cũng có vài điều lạ nhưng có lẽ rồi cũng sẽ kết thúc. Sau khi dẫn gã trung niên lạ về xưởng bác Tư, Khắc về nhà khẽ mở cửa phòng em gái thì thấy Gấm đã ngủ, vốn người tính đơn giản, anh cũng quên luôn bóng hình lờ mờ vùng chạy ra khi nãy ở Quán Rụ. Mai anh không làm việc gì nên mở tivi lên coi phim, mà không phải, là nghe phim mới đúng, anh chỉ mở để có tiếng người cho dễ ngủ, có lẽ anh đã quen không khí trên xe bus. Còn bác Tư thu xếp xong cho người lạ ngủ thì ra ngoài đi dạo cùng con chó già chỉ còn đâu đó chục cái răng, ông thích nhất giây phút này trong ngày, mọi thứ thật êm ái và xinh đẹp. 

  • Lạc hay đúng đường

    “Cọt kẹt”, tiếng cửa chiếc xe bus cũ kỹ như tâm hồn của gã đàn ông trung niên đang một mình lơ đãng nhìn ra ngoài cửa kính. Gã không nghe thấy tiếng xe dừng lại vài phút trước, tiếng nhốn nháo hành khách cũng dần tan đi, chỉ còn lại đôi lời trả giá của mấy người xe ôm với những hành khách cuối cùng còn sót lại, bao nhiêu tiền để được về nhà ?!. Gã vẫn ngồi đó bất động nhìn qua màn kính cửa sổ đóng một lớp sương dày như sự mơ hồ nào đó đã thôi thúc gã dốc vài đồng lẻ cuối cùng lên chuyến xe này, mờ mịt và vô định như khoảng thời gian qua sống trong làn khói cuộc đời. Gã nhìn thăm thẳm như xuyên qua muôn làn khói, bay trên những tầng cao đến với những thành phố xa lạ, gã không cần biết đó là đâu, chỉ cần một nơi nào đó khác là được, không còn sự lạnh lẽo đông cứng dưới cái nóng thiêu đốt ấy nữa, không còn nữa.”Không còn nữa”, gã lẩm bẩm một mình như nói với chính mình của nhiều năm trước và xa về phía những năm sau,”Không còn nữa”hắn nói với tấm cửa kính sương chiều phủ dày đặc.

    “Hôm nay sương xuống sớm, chắc lạnh lắm đây, anh về đâu cần em kêu xe ôm cho không ?”– Giọng nói của người tài xế trẻ tuổi như một cơn gió nhẹ tạm thổi tan đi mịt mù trước mắt. Người thanh niên nhỏ người, da hơi rám nắng, mắt anh ta cứ như muốn sụp xuống sau một chuyến đi dài, anh cố gắng bắt chuyện với người khách lạ mặt trong khi đang dọn dẹp rác trên xe. Người ta đến với anh khi mong mỏi được về nhà, để rồi bỏ lại anh một mình bên đống rác thải, không một lời cảm ơn,”Có lẽ trong suy nghĩ họ cảm ơn mình”anh nghĩ vậy rồi ngày qua ngày tiếp tục làm công việc của mình. 

    “Chú cho hỏi mấy giờ rồi, đây là đâu ?”– Gã trung niên khẽ bất giác quay về với thực tại, gã hỏi với giọng chậm rãi rồi lục lọi trong túi như đang tìm lại thứ gì đấy, điều gì đó đánh mất rồi chợt nhớ ra muốn tìm lại, dầu cho không rõ là có còn cần hay không nữa. 

    “Trời đất, anh hỏi gì kì vậy, trạm cuối rồi, thành phố Chạm, hồi nãy em thấy anh ngủ gục, hay đi huốc nhà luôn rồi ?”– Người tài xế ngồi xuống ghế đối diện, anh đặt cái túi đeo chéo của mình vòng ra sau lưng, người hơi cuối nhìn có vẻ dò xét người hành khách cuối cùng, câu hỏi có vẻ làm anh tỉnh ngủ như bộ phim bỗng đến phút bí hiểm, nhạc dồn dập vang lên để đi vào kịch tính.

    “Hừm, ra là đến tận Chạm, lâu rồi tôi cũng chưa đến đây, thôi xin lỗi làm phiền cậu, chắc tôi phải xuống xe rồi”– Gã vừa nói vừa nhìn quanh quất, dần tỉnh táo trở lại, đứng dậy vuốt quần áo cho thẳng thớm rồi bước xuống xe buýt, hai tay khoanh lại vào nhau vì lạnh. Người thanh niên đứng trên bậc cửa ra vào xe nhìn theo, một phần do dự vài phần lo lắng cho cái vẻ ngoài phờ phạc của người hành khách kỳ lạ, anh với tay phải lên định gọi nhưng rồi lại thôi. 

    Trạm xe đã không còn một ai, bên trong tòa nhà vận hành sót vài ánh đèn le lói, chẳng rõ là có người hay không. Bên trong cùng nhà giữ xe nhân viên có chiếc xe máy cũ, chắc hẳn của người tài xế cuối cùng về bến, mọi thứ đều như dừng lại trong giây lát, lặng lẽ trông nom nhau ở một nơi hiu hắt, thứ trông nom hiếm hoi không còn tìm thấy ở những thành phố nhộn nhịp. 

    Gã trung niên đứng trước cổng bến xe, cái lạnh làm gã không còn nghĩ gì cho thông suốt, nhìn quanh về phía con dốc bên phải cùng ngọn đồi bên trái và ánh đèn phố xá ở con đường phía trước mặt, đi lên đi xuống hay đi về phía an toàn ? Một cơn gió đột nhiên ùa từ ngọn đồi phía trên cao xuống dưới con dốc, những ánh đèn đường chập chờn treo trước nhà của người dân chớp tắt, những chiếc lá cuốn đi theo hình xoắn ốc về phía cuối con dốc sâu hoáy tưởng chừng như vô tân, nuốt đi tất cả hy vọng le lói cuối cùng. Những cuộn lá khô xoáy lúc hiện ra khi lại biến mất, nhìn từ xa gã thấy một đốm lửa đung đưa khi gió thổi ngang, xung quanh có một nhóm người đang tụ lại sưởi ấm và có thể đang nướng một vài thứ. Ánh nhìn của gã dừng lại ở họ bên đống lửa, cái lạnh thấu xương đã lấn áp toàn bộ tâm trí và hệ logic nơi một kẻ từng trải, một con ngựa đầy vết hằn đang chạy trên một thảo nguyên lạnh lẽo chỉ còn muốn có một đống lửa nhỏ cùng tiếng nói ấm áp của con người, những con người thật sự. Gã quyết định đi theo sự chỉ đường của cơn gió lạnh lẽo, với cái đầu trống trơn không mong ước gì ngoài đốm lửa nhỏ nhoi, một thứ gì đó còn le lói bên trong tảng băng tâm hồn già nua của mình. 

    Gió vẫn thổi rét buốt từ trên phía đồi xuống con dốc, gã kéo cái cổ áo sơ mi lên che cho bớt lạnh, chiếc áo còn mùi công sở trưa nay sót lại, gã như vừa mới chui ra từ một vũng bùn chưa kịp tắm rửa. Cơn lạnh đêm nơi đồi núi vẫn len lỏi vào da thịt làm gã đôi lúc như muốn buồn nôn, nhưng gã chịu được cái lạnh này, nó dễ chịu hơn nhiều so với cái lạnh mà hắn đã ngụp lặn suốt những năm qua. Cái lạnh tình người, có lúc gã chạy vội ra bờ sông vắng gần nhà, một mình, chỉ để nôn ra những thứ bản thân đã dự phần vào đó. Dần rồi nôn ra bờ sông như một nghi thức xưng tội, để mai gã còn tiếp tục mà sống, con sông như Chúa trời nhận lấy mọi tội lỗi dơ bẩn một cách thản nhiên, một bông hoa dại nở trong sương mai sẽ che mờ đi tất cả. Sự buồn nôn thì không, nó vẫn sẽ quay lại như một căn bệnh chưa được trị tận gốc, ít ra hôm nay gã đã dốc hết sức lực để đi tìm phương thuốc, dù không biết nó ở đâu và thậm chí có tồn tại hay không, gã chỉ không thể chịu đựng nổi thêm nữa.

    Hai tay bỏ vào túi quần tây dài màu xanh dương đậm, chiếc quần với cái mép quần đứt vài sợi chỉ sờn màu, không biết gã đã bỏ bê mình bao lâu, mà những người xung quanh gã đâu cũng không rõ. Chậm rãi đi từng bước xuống con dốc, đầu cúi xuống mặt đường, có một tiếng chuông gió bằng đá đâu đó vang lên như chào đón và đánh thức người khách lạ. Dưới lòng đường đã không còn chộn rộn xe cộ nữa, thay vào đó mấy chiếc lá đôi khi lại nối đuôi nhau đi ngang chạm vào cẳng tay trái gã, làm gã giật mình vì ngỡ mình còn ở phố thị. Trong cái không khí ấy, mọi thứ xung quanh đang như xầm xì bàn tán, dự đoán về câu chuyện của một người lạ. Đám lá đôi khi đang vẫy chào gã, còn đám côn trùng thì mon men tò mò đi theo, có ai đó cũng đứng nhìn ra từ trong nhà đang sáng đèn. Nhưng ở nơi đây đơn thuần đó là chuyện trò hơn là tọc mạch soi mói, kể nhau nghe rồi thôi, có lẽ trừ bọn côn trùng nhiều chuyện. 

    “Thịch”gã vấp phải một mảng gạch lát lề đường hơi chênh, một thứ tưởng chừng như không đúng vị trí lay gã tỉnh hơn trở lại, mặt ngẩng lên cao với chiếc lưng thẳng và đôi mắt mở to để nhìn xung quanh. Đốm lửa nhỏ và nhóm người khi nãy gã thấy khi còn ở trạm xe bus đã gần ngay trước mặt, lỏe nhòe trong đêm cách hắn đâu đó 50 mét. Bước tiếp với nhịp chân nhanh hơn, vừa đi gã vẫn lục lọi quanh túi mình như vẫn chưa tìm được thứ mình cần, gã còn lướt tay qua trước ngực áo mà quên mất nó không hề có túi. Bỗng gã đứng lại, lấy hai tay dụi mắt hai lần rồi đặt tay nhìn quanh qua lại vài lần, đám lửa nhỏ ở ngay trước hắn độ còn 5 mét. Hóa ra đó là một bụi bông Trang đỏ nở rực còn ở trên là cây Pháo Bông tỏa táng trổ hoa như bao phủ viền ngoài bụi bông Trang, vậy những người khi nãy hắn thấy ở đâu, họ đã đi đâu, hoa mắt sao, hay còn gì khác chưa rõ. Gã nhìn lên cao một chút về phía cái cổng rào đi vào ngôi nhà, giật bắn mình mém ngã lăn ra lề đường, bốn cái mặt người lùn đang cười trước mặt hắn. Thì ra là tượng gốm trang trí, có lẽ chẳng có gì buồn cười với gã lúc này lắm. Sau vài phút hoàn hồn, hắn nhìn lên phía trên dàn hoa Pháo Bông là một tấm bảng gỗ được đốt bằng đầu bút lửa để chạm trổ, trên đó ghi vỏn vẹn hai chữ”Quán Rụ”. Từ bên ngoài thì vẫn còn nghe thấy tiếng râm rang nói chuyện. Ngôi nhà nhìn từ xa cũng không có gì đặc biệt, hai bên đi vào có hàng hoa hồng Tiểu Muội nhỏ đang trổ hoa, đường đi vào không có đèn nên chỉ thấy vỏn vẹn năm sáu cái hoa sáng bật lên do ánh đèn trong nhà tỏa ra ngoài một ít, hay chúng chỉ nở có bao nhiêu thôi cũng chẳng rõ. Gã quay đi quanh lại vài bận, do dự với chút sợ hãi còn sót lại, nhưng quyết định đi vào, vì cũng đói lắm rồi. 

    Ngôi nhà trông giản tiện nhưng lại có vẻ rất chắc chắn và được xây cất tỉ mỉ, mọi thứ nhìn như những mảnh lego gỗ và đá xếp lại với nhau thông qua các khớp nối, chẳng thấy một vết đinh nào cả. Bên dưới sàn có ba tảng đá trung bình dùng để nâng sàn nhà bằng gỗ, có lẽ bên dưới là một hệ đá được thu xếp với nhau để đỡ lấy sàn. Ngôi nhà như toát lên cái tinh thần của không khí nơi đây, mọi thứ liên kết với nhau mà chẳng cần gán ghép phụ trợ, chẳng có gì bị thủng lỗ chỗ hay tổn thương quá mức cả, ngôi nhà cũng làm gã quên đi nỗi sợ mà thay vào đó là tò mò. 

    Bên trong chẳng có nhiều đồ nội thất bàn ghế gì nhưng lại hết sức lạ lùng, chỉ có mỗi ba cái bàn và mười cái ghế cùng vài bức tranh và một bàn thờ. Một chiếc bàn to nằm ở giữa nhà hình lục giác cùng sáu cái ghế xung quanh, cạnh cửa sổ bên trái nhìn ra khu vườn bên hông nhà là một bàn hình chữ nhật và một băng ghế dài nhỏ như chỉ dành cho hai người đang quay lưng, và một cái bàn hình vuông nhỏ lọt thỏm bên góc nhà bên phải với duy nhất một chiếc ghế có tựa lưng cho ai đó chỉ nhìn vào vách tường, hai cái ghế còn lại thì để rải rác ở hai góc trái phải ngoài cửa đi vào chẳng rõ là dành cho ai. Trên chiếc bàn nhìn ra ngoài vườn có một chiếc ly nhỏ bằng gốm, trong đó cắm duy nhất một cành hoa hồng hái trong vườn. Khi nhìn lên tường bên góc bàn hình vuông gã thấy một bức tranh vẽ khóm Trúc đang rụng lá xuống một con suối lởm chởm đá, trên đó có đề bốn câu thơ đã nhòe không đọc rõ. Chẳng có gì trên chiếc bàn to lục giác giữa nhà ngoài ba lọ gia vị muối tiêu đường cho đám đông ngồi đó. Cuối cùng là chiếc bàn thờ nằm bên cửa sổ phía phải, nhang được cắm vào một cục đất sét mềm, hương tỏa ra thoang thoảng làm dễ chịu như đất rừng, nhưng đặc biệt khi không thấy ai ngồi đó ngoài một hòn đá cuội tròn thô ráp. Cảnh tượng làm cảm xúc của gã lẫn lộn đan xen vào nhau, chút gì đó kỳ quái nhưng vô cùng thú vị nơi này, trong giây phút ấy hắn quên mất những ngổn ngang sau lưng của mình còn đó.

    Khi gã vào trong quán thì đã có năm thực khách, một ông già ngồi một mình bên trong chiếc bàn vuông, hai cô gái cùng nhau thầm thì ở băng ghế dài cạnh cửa sổ, họ có vẻ ưu tư không nhìn vào mặt nhau Trên chiếc bàn lớn giữa quán, một cậu nhóc khoảng cấp hai và anh chàng đâu đó gần ba mươi tuổi không có gì là thân thiết nhau ngồi cách xa hai cái ghế quanh bàn to ở giữa, nhìn họ như ai cũng có một câu chuyện thú vị để kể nhưng lại muốn được nghỉ ngơi vào một đêm lộng gió. Gã ngồi xuống bên trái cậu nhóc, vì đó có lẽ là lựa chọn khả dĩ và an toàn nhất cho một người lạ. Nhìn xung quanh tìm chủ quán thì không thấy đâu, cũng chẳng có thực đơn trên bàn hay thông tin nào được dán trên tường. Vừa quay đầu sang định xem cậu nhóc đang ăn gì thì có tiếng nói thỏ thẻ sau lưng gã vang lên, giọng nói thình lình đủ làm hắn một chút bồn chồn nhưng không hoảng hốt như khi đi vào:”Anh cứ gọi một trong những món mọi người đang ăn, nếu không thì quán chỉ còn có Phở”. 

    Đó là giọng của người đàn bà không còn trẻ, nhưng sức sống bên ngoài cùng sự thư thái toát ra khiến cô chưa thể già ở cái độ tuổi ấy. Tuy vậy những nếp nhăn li ti và bàn tay thô ráp của công việc chân tay lâu năm vẫn mang trong mình những câu chuyện từ rất lâu rồi. Cô ngồi trên chiếc ghế bên phải phía cửa đi vào, nhưng do cánh cửa che đi phần nào sự hiện diện của cô mà gã không nhận ra khi bước vô quán, hay sự thản lặng của cô khó mà nhận diện bởi một tên đang rối bời, cũng có thể cô cứ thế đột nhiên xuất hiện tại cuộc đời gã mà thôi. Cô đứng lên trong bộ váy hoa nhiều họa tiết trên nền vải màu như một tờ giấy sẫm màu, bên ngoài là chiếc tạp dề màu trắng. Cô đứng lên với đôi chân trần, đặt ly bia nhỏ xuống ghế, có lẽ cô đang tận hưởng cuối ngày làm việc của mình vì nghĩ sẽ chẳng còn ai đến quán nữa. 

    “Hừm, vậy cô cho tôi một tô Phở”– Gã trả lời sau vài giây nhìn quanh, cố gằng giọng một chút để toát lên vẻ trung niên của mình, cũng là để làm bản thân bình tĩnh hẳn.

    Cô không trả lời gì mà khẽ gật đầu cười cùng dấu hiệu OK bằng tay trái rồi bước vào trong bếp. Bước qua rèm vải đơn sơ bên lối trái vào bếp, để lại biết bao câu hỏi và năm con người xa lạ cho gã cùng một thứ gì đó gờn gợn. Đôi khi trong bếp phát ra tiếng tanh tách của củi cháy, đôi lúc lại lộc cộc của ly rượu ông già bàn vuông đặt xuống. Anh bạn trạc 30 thì đang hút điếu thuốc cùng lon bia và đĩa gân gà cháy tỏi anh ta nhìn gã với vẻ dò xét, hai cô gái bàn bên thì đang thầm thì chuyện của mình.

    “Hôm nay em thế nào?”– Cô gái gần 30 nghiêng sang một chút rồi hỏi, ngón tay phải áp út của cô lướt qua lại trên thành mép cái đĩa gốm nhỏ có vài chiếc bánh đúc cốt dừa, gạc một chút nước đường dính trên, có lẽ tâm hồn cô đang ở ngoài rìa một thế giới nào đó bất định, thoáng qua thoảng lại không biết đi đâu.

    “Đừng”- Cô gái trẻ hơn lấy ngón trỏ tay trái mình dừng tay cô kia lại, lộ ra một chiếc nhẫn, có lẽ cô gái đặt câu hỏi đã có chồng. Cô gái trẻ nhịp nhịp ngón tay mình vài ba cái trên chiếc nhẫn, nhìn xuống nó rồi vừa nói vừa ngẩng lên nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Chị đừng cố bắt chuyện khi không có gì để nói, thế này lại hay”– Cô gái trẻ sau vài giây nhìn ra cửa sổ thì cất tiếng, giọng cô ấm như đang nói bằng giọng mũi, cô lại nhìn vào hoa hồng trong chiếc ly nhỏ rồi đặt câu hỏi :”Chúng đang tự vệ trong lo âu hay chúng sinh ra là để tổn thương kẻ khác ?”; cô ngắt một cành hoa rồi đặt lên trên một chiếc bánh, mặt cúi nhìn chúng.

    “Có lẽ đó là phần cứng cỏi trong chúng, để có trách nhiệm tránh cho thế giới này trở nên phù phiếm, nếu chúng buông thả, có lẽ chính chúng cũng không còn biết quý trọng gì nữa”– Cô gái lớn hơn nhặt cánh hoa rồi treo chúng lên gai của chính cành hoa trong ly. Cánh hoa hồng như đang giãy dụa, dùng dằng, không phải đau khổ mà day dứt trong lưỡng nan. 

    Gã ngồi gần họ nhất nên nghe rõ những lời ưu niệm thật đẹp mà thật u sầu đấy, có lẽ những người khác cũng nghe thấy và ngẫm nghĩ về thân phận mình. Đúng lúc đó người chủ quán mang lên cho gã bát Phở bò nóng hổi, ở một nơi lạnh lẽo heo hút này càng làm chúng tỏa khói nghi ngút trông bắt mắt hơn nữa, có vẻ như một ông Bụt nào đó sẽ hiện ra để cứu giúp đời gã chăng. Chẳng có ai hiện ra cả, chỉ có mình gã và tô Phở trước mặt.

    “Cô cho hỏi còn bánh đúc không, lâu tôi không ăn mà nhìn anh bạn nhỏ ăn ngon quá nên thèm”– Thật ra gã nhìn sang hai cô gái bàn bên mà tránh không nói vì mong họ thoải mái có những phút giây trò chuyện cùng nhau.

    “À còn một ít mẹ tôi gửi từ miệt miền Tây lên chứ ở đây không làm, anh ăn phải đợi sơ chế, lạnh ăn không có ngon”– Cô chủ quán vừa nói vừa chỉ tay vào bếp.

    “Ngoài ra hôm nay thiếu gừng nên con thấy thiếu thiếu”– Cậu nhóc ngồi bên cạnh gã ngẩng đầu lên nói, miệng cười mím môi nhe tới mang tai híp luôn cả mắt.

    “Cũng phải, sáng nay quên mất, xin lỗi nha nhỏ”– Chủ quán vén váy gọn gàng trong khi khụy gối xuống bàn vừa nói vừa nhìn cười cùng vị khách nhỏ tuổi. 

    “Không có chắc cũng không sao đâu hả, một ít gừng chắc không ảnh hưởng nhiều“.

    “Xin lỗi, tôi thấy ăn cũng ổn anh à, đúng là cảm giác không trọn vẹn nhưng có lẽ không sao do bánh của bà chủ ngon dai lắm, anh thử xem sao”– Cô gái lớn tuổi quay lưng lại gặt đầu với gã rồi vừa nói vừa gãi gò má. Cô có mái tóc dài qua khỏi vai một xíu, ăn bận gọn gàng với tông màu hơi nhạt, dưới ánh đèn vàng cô như bước ra từ một bức tranh cũ kĩ, không buồn chán nhưng có phần phai mờ dần.

    “Vậy thì tình yêu ở đâu trên đời này nữa”– Cô gái trẻ vừa nằm dài ra bàn vừa khều khều cánh hoa hồng trên gai nhọn.

    Trong phút chốc cả không gian im lặng không còn một lời nào. Cảm giác một hang sâu nào đó bao trùm mọi thứ xung quanh đến nổi chẳng ai thốt ra nổi, thậm chỉ là không thể nghĩ được gì, chỉ còn lại tiếng buông đũa đặt lên đĩa gốm của ông già bên bàn vuông, ông ta đã định quay đầu nhìn lại sau lưng nhưng rồi lại thôi.  

    Cô thực khách lớn hơn bối rối, quay người đứng lên khều khều tay cô gái trẻ làm cô bật dậy quay ra nhìn. Cô ngay lập tức nhận thấy mình đã tạo nên không khí có phần hơi khó xử này, dù cho cô chẳng có tội tình gì khi hỏi một điều cô còn băn khoăn. Cô quay người đứng lên cúi đầu xin lỗi hai lần, cô làm gã trung niên cũng bối rối theo, cả hai cùng cúi gật đầu xin lỗi qua lại :”Xin lỗi tôi đã làm ồn không gian của hai người”đó là lời thú tội gã đưa ra trong khi lại thích thú lúc quan sát chuyện trước đó. Tạ lỗi vì sự thích thú, hóa ra những niềm hứng khởi đều là tội lỗi chăng ? Cũng không đến như vậy.

    “Nhịn không nổi một bữa bánh đúc không gừng, thì nói gì đến tình yêu, không đáng, không đáng nhận, không đáng”– Người thanh niên trạc 30 tuổi giọng lè nhè say quơ tay quơ chân cầm ly bia loạng choạng xém ngã. Hắn đang định nói thêm gì đó thì bà chủ quán nhanh tay dực cái bánh cuối cùng trong đĩa thằng nhỏ, nhét vào miệng anh ta. Cô quay ra đá lông nheo với thằng nhỏ rồi nói thêm :”Hôm nay miễn phí con về mai còn đi học”

    Thằng nhỏ có vẻ bực mình, cầm đũa chọt chọt vào đĩa, nhưng rồi nó cũng đứng dậy rời đi, trước khi đi nói quay ra nói với ông già ngồi trong góc bàn vuông :”Con về trước nha ông Tư”. Ông già không nói gì mà giơ tay lên, để lộ ra một ít đất sét đông cứng còn sót lại đằng sau bàn tay, không rõ là chuyện gì. Cô chủ quán thu xếp để mọi người ngồi lại vào chỗ cũ, sau đó bưng dọn đĩa rồi lau bàn chỗ thằng nhỏ vừa rời đi. Gã trung niên ngồi xuống ăn tô phở, lâu lâu lại nhìn anh bạn đang ngồm ngoàm cục bánh đúc như bị mắc nghẹn, gã đang suy nghĩ gì đó về lời của anh ta.  

    “Bánh cũng ngon quá bà chủ, chắc lâu không được ăn thế nào thấy cũng ngon, cho thêm lon bia đi chị già ơi, làm gì mà căng vậy, say thôi mà”– Người thanh niên vừa nhai vừa nói vào trong bếp nhưng bị từ chối”Đi về đi, nay uống lố rồi đó, không bán nữa đâu”.

    “Về thì về, không cho say thì thôi, ít ra tui còn dám say tình, hơn khối kẻ chưa bước ra khỏi nhà mà chê ma chê quỷ”– Hẳn bỏ tiền xuống rồi kẹp dưới ly bia cạn, vừa đi vừa quơ quào loạng choạng nhưng cũng ra được tới cổng, hắn còn khép cổng ngay ngắn trước khi đi, một gã say ngông cuồng tử tế.

    “Suốt ngày”– Cô chủ quán nhìn theo, hai tay chống nạnh, cô không lắc đầu vẻ ngao ngán, chỉ là một câu cảm thán cho anh bạn trẻ, cũng có thể cô còn nhớ về ngày xưa của mình chăng ?

    “Anh bạn đó nói cũng có lý mà, đôi khi tôi nghĩ mình không đủ sức sống để yêu thương. Mà thôi, cô có thể cho tôi một ít chanh được không ?”– Anh ta nhìn vô tô phở hay đang nhìn chính mình, nhìn những thứ đã qua, sức sống của anh ta có trở lại trong đó chưa ?

    “Anh bước ra hái giúp tôi, nó ở bên trái chỗ tôi treo cây đèn, anh thông cảm hôm nay tôi bận quá nên thiếu sót đủ thứ cả”– Cô nhóm mũi chân rồi hướng về phía trước chỉ về chỗ cây đèn, từ chỗ của gã thấy rõ chanh đang rất sai quả.

    “Làm sao để biết quả nào dùng được”– Gã buộc miệng hỏi rồi tự dưng thấy sao mình lại hỏi ngớ ngẩn như vậy.

    “Người thành thị phải không, anh cứ ra chạm vào nó, nắm chặt một chút là biết ngay mà” – Cô chủ quán lại ngồi gần bên gã, nhìn về phía những quả chanh trên cành đang chở được hái.

    “Thật ngớ ngẩn”, gã nghĩ về mình như vậy khi đứng dưới ngước cổ nhìn lên cây chanh. Hắn đưa tay lên cao dè dặt, có vẻ người thành thị nào cũng sợ cây cối một cách kì lạ. Trong lúc ấy hắn nghe giọng nói trầm của cô gái trẻ bên trong phát ra dù không rõ lắm”Còn chị thì sao, sức sống để yêu”, cô gái lớn tuổi hơn đáp cái gì đó về khổ và chịu đựng. Đúng lúc đó gai chanh đâm vào vai gã, bao nhiêu khổ của hai người con gái kia với hắn biến đâu mất hết, ký ức khi nhỏ đi hái chanh ở quê nhà thế chỗ hiện về mồn một như gã chưa bao giờ rời đi khỏi đó vậy. 

    “Mình đã từng là đứa trẻ vui vẻ, một người năng nổ và lý tưởng. Mọi thứ mình đều vạch ra kế hoạch rõ ràng, để thành công, để có gia đình đầm ấm, để hạnh phúc !!! Sao mọi thứ lại thế này, sao mọi thứ lại vuột mất như vậy, sao không mãi ở cái làng nhỏ đó mãi mãi cười đùa. Sao mình lại ở một nơi xa xôi kỳ lạ này với những con người mình còn chẳng rõ họ có tồn tại không nữa”– trong suy nghĩ có những ám ảnh bắt đầu xuất hiện, hàng ngàn tấn bông gòn bao quanh, gã vẫn chuyển động nhưng chẳng thể biết được mình đang ở đâu và chuyện gì tiếp theo. Hết đám bông gòn thì thay vào đó là đống quả chanh khổng lồ chèn vào người gã, đôi mắt cay xè còn đầu lưỡi thì đắng nghét. Bỗng nhiên dám chanh rung lên , xa trong không trung có tiếng ai đó gọi”Này anh, này”. Cái đẩy nhẹ vai của cô chủ quán làm gã trung niên bừng tỉnh trong cơn ho thốc và rơi nước mắt. Cô lắc nhẹ gã thêm lần nữa rồi hỏi”Sao anh lại đưa chanh lên mặt rồi bóp mạnh thế này, tôi nói chạm vào là biết ngay thôi mà, trời ơi dân thành phố”.

    Cô chủ quán vừa hỏi gã tự đi vào được không, vừa đi sau lưng gã để trông chừng, cô cũng không muốn chạm vào một người đàn ông lạ mặt, chỉ trông nom nhau như một con người. Cô đi vào nhà lấy cái khăn mặt ướt và một con dao nhỏ, để gã lau mặt vừa là để sắc chanh ăn tiếp tô phở còn hơi âm ấm. Hai người bàn bên cũng quay ra xem gã có cần giúp gì không nhưng rồi họ về lại thế giới của mình, nơi có cánh hoa hồng treo dày vò trên gai gió. Ông già thì lặng thinh như hòn đá dưới suối trong bức tranh treo trên tường, có lẽ lão đang cố nhớ ra bốn câu thơ đã nhòe kia. 

    Không gian trở lại như lúc gã vừa mới bước vào quán, cô chủ rót tiếp một cốc bia nhỏ ngồi vào góc với cái tạp dề đã gỡ, hai cô gái thì trò chuyện gì đó của họ gã cũng không nghe rõ lắm vì vẫn chưa hoàn hồn dù đang từ từ ăn nốt tô phở đã dần nguội. Một cơn gió thổi đập vào cửa sổ nơi có cái bàn thờ, viên đã rơi xuống, lăn lộc cộc vài ba tiếng dưới sàn, cô chủ quán nhặt nó lên rồi chắp tay vài ba cái cho điều gì đó hay ai đó đã không còn hay là chưa đến. Một hạt đất sét cứng khô trên tay ông già rơi xuống, lão cúi xuống nhặt lên để qua một bên bàn rồi rót tiếp một ly rượu nhỏ. Tiếng rù rì của hai cô gái lặn dần xuống, từ ngữ ít đi mà nỗi niềm ngày một dâng lên. Ngẫm nhìn lại gã lại thấy, ở một vùng đất hẻo lánh mà họ văn mình hơn khối kẻ thành thị luôn coi mình là hiện đại, không ai xét nếp ai dù sự thể có phần hơi trái lẽ thường, có lẽ họ hiểu, trái lẽ thường là bản chất của một con người bình thường. 

    “Chị chưa bao giờ dám khởi đầu, em về đây” – Cô gái trẻ vừa nói vừa đứng dậy vùng chạy ra khỏi quán, người còn lại lặng lẽ nhìn theo đợi cho bóng cô không còn nhìn thấy thì mới quay vào trong, cô xin chủ quán cho cô xin lửa để đốt một điếu thuốc loại nhỏ, rồi ngồi đó một mình.

    Điếu thuốc trên tay cô thực khách còn lại vừa tàn một nửa, cô không hút nữa mà gác nó lên trên miệng ly hoa hồng, chờ cho nó cháy dần rồi tự lọt vào hố sâu không bật dậy nổi.”Chỉ sợ đó là khởi đầu của một bất hạnh mới mà thôi”cô thầm thì trong lặng lẽ như đang tự nói với cả cuộc đời mình vậy. Cô chú quán cũng vừa cạn ly bia, cô đặt xuống đi dọn tô phở cho gã trung niên rồi mang lên đĩa bánh đúc gã gọi trước đó, có lẽ cô đợi xem thực khách của mình ăn hết món nào mới mang lên món khác, kẻo lại no rồi thì thừa mứa. Cô mang đĩa bánh lên, dùng đũa gắp một miếng gừng đặt lên trên,”tôi phát hiện còn dư một ít nên đập ra cho vào nồi nước đường nóng, mời anh”. Cô lùi lại, quay người về phía cô khách cuối cùng hôm nay, xoa lưng cô ấy nhè nhẹ, có vẻ họ quen nhau từ trước nên hiểu chuyện gì đó đã xảy ra cho nhau. Trước cổng có tiếng bước chân dồn dập từ ngoài chạy vào quán, chủ quán bước từ trong bếp ra xem là ai, hóa ra là anh chàng tài xế xe bus mà gã trung niên gặp khi nãy. 

    “Ai giống con bé Gấm em gái em vậy chị, nhỏ vừa hớt hải chạy ra khỏi cổng em chưa kịp nhìn, giờ này nó đi đâu vậy ta, tưởng phải ở nhà ôn thi chứ”– Anh ta một tay chống nạnh một tay gãi đầu quay quay nhìn hỏi cô chủ quán.

    “Sao hôm nay về trễ vậy, làm ly bia lạnh đi, thở gì mà hổn hển như trâu”– Cô chủ quán tránh không trả lời, có lẻ cô gái trẻ vừa rồi đúng là em gái anh ta, cô đi vào trong rang một ít đậu phộng mà không nói gì thêm cả.

    Tội nghiệp anh chàng một thì tội cho cô gái bàn bên mười, cô loay hoay thu dọn túi xách và áo khoác, đánh rơi cả chìa khóa xuống nền nhà. Anh tài xế cúi nhặt dùm thì cô tránh ánh mắt không nhìn rồi giật nhanh lấy chìa khóa, đứng lên để tờ tiền 500k lại luôn trên cái bánh ăn còn dang dở rồi chạy nhanh ra khỏi cửa. Giờ thì thật tội nghiệp cho anh chàng chẳng hiểu chuyện gì, cứ gãi đầu rồi loay hoay mãi không biết trời trăng. Anh ta ngồi xuống ghế bên trái gã trung niên, vẫn còn chưa hiểu mô tê gì thì chợt thấy người quen khi nãy nên thốt lên”Ủa anh hả, nãy em còn lo cho anh định chạy theo coi có sao không, ai dè. Có duyên ghê, chú uống với con vài ly chơi cho ấm nha”. Gã trung niên cũng chẳng nghĩ ngợi được gì, ngày hôm nay đã quá nhiều sự kiện làm gã như lạc vào một bức tranh lễ hội huyên náo, tâm trạng luyến láy lẫn lộn hư thực. Hắn quyết định uống một phen mà quên mất túi chẳng còn một xu.

    “Mà sao anh lại trong bộ dạng như lúc nãy mà đến đây, ý em là nhìn anh bệ rạc lắm”– Sau vài ly ngà ngà say, vài ba câu chuyện tự thoại về bản thân thì anh tài xế bus hỏi . Anh ta là vậy, một người huyên náo, ngây ngô đến mức đôi khi vô tình tọc mạch mà không hay biết.

    “Kệ người ta mày, nhìn mày coi, toàn mùi dầu khí chứ ở đó mà chê”– Cô chủ quán cảm thấy câu hỏi quá đà nên nhanh miệng chen vào. Giọng điệu của cô có vẻ mọi người ở đây đều gắn bó, họ biết về nhau rõ nhưng cũng tế nhị không xen vào thô lỗ.

    “Không sao không sao cô, tôi bệ rạc thật mà. Anh đi lạc, ngủ quên, có lẽ quên luôn mình là ai, lạc luôn nơi mình đến”– Gã trung niên cúi đầu lè nhè đáp, gã sống lành mạnh và nguyên tắc nên ít khi động vào rượu, sau vài ba ly đã như người mơ màng.

    “Cái miệng em bậy rồi, xin lỗi anh, chị Lanh cho em thêm một xị tạ tội đi, à còn mồi gì cho em một ít nay đói quá”– Anh bạn lại gãi đầu cúi cúi rồi nói với cô chủ quán, hóa ra cô ấy tên Lanh

    “Ít thôi nha, để tui còn ngủ, bác Tư mà về là hai ông cũng phải đi chỗ khác cho tui đó, có mình tui ai dám chứa hai ông xỉn”- Chị Lanh vừa nói vừa chỉ tay về phía ông già Tư bên góc bàn có bức tranh, ông đang ngồi xếp mấy hạt đậu theo những hình thù đẹp mắt nhưng không rõ là gì. 

    Lanh đi vào bếp làm cho họ một đĩa cơm thập cẩm, gồm những gì còn sót lại trong bếp. Trong lúc đầu bếp làm đồ ăn, gã trung niên bắt đầu lè nhè kể về cuộc đời mình, từ trong bếp Lanh nghe rõ cả, có những đoạn do say nên không rõ ràng lắm nhưng nhìn chung cô phần nào hình dung được người khách lạ này, lạ đã trở thành quen chỉ sau một đêm, chung quy đời người cũng chẳng có mấy thứ để kể. Cô chủ quán làm một chảo to chia làm ba đĩa, cô đưa cho hai gã say một đĩa to, một đĩa nhỏ cô mang qua cho bác Tư,”con mời bác”, rồi ông đáp”cảm ơn chị”. Cô mang một đĩa nhỏ ngồi xuống góc quen thuộc của mình, ngồi đó dùng bữa cơm muộn của người phục vụ, những người chẳng mấy khi kể nhưng lại nghe rất nhiều.

    Được một lát sau, hai gã kia đã say khướt, cầm ly rượu không lên nổi, giọng nói cũng không ai nghe nổi. Gã trung niên thò tay vào túi thì chợt nhớ ra mình không còn tiền, gã hoảng hốt loay hoay, miệng cứ nói”Xin lỗi tôi đi vội không mang theo tiền”, vài ba câu đã gục xuống bàn mơ mơ màng màng. Đúng lúc đó ông Tư đứng lên, nhìn bức tranh rồi đọc lên một bài thơ bốn câu, có lẽ ông đã nhớ ra hay là tự đề tác.

    Nước trên nguồn chảy tuôn xuống hạ

    Người trên đời trôi nổi xót xa

    Khe suối nhỏ cánh hoa rơi rụng

    Hòn đá vùi chẳng tụng mà thông

    “Tiền đây Lanh, tính luôn tụi nó, còn Khắc, mày dẫn thằng này về xưởng tao, mai qua tính sau. Thôi bác Tư về nha con.”– Sau khi cảm tác một bài thơ giữa đêm khuya nơi núi rừng lạnh thiết, bác Tư quay ra nói với cô chủ quán rồi khều đầu anh tài xế xe bus tên Khắc. Trong mơ màng, gã trung niên chỉ nghe thấy mỗi bài thơ và”mai qua tính sau”.

    Đêm hôm ấy, mọi người đều yên bề khi về nhà, Lanh dọn dẹp quán sạch sẽ, lau hòn đá trên bệ thờ rồi đốt thêm một nén nhang. Cô kê mấy cái bàn trong quán lại, hóa ra bàn vuông để kê đầu, bàn chữ nhật gác chân, cứ thế cô đặt gối và mền ra rồi ngủ sau một ngày bình thường của người nơi đây, đâu đó cũng có vài điều lạ nhưng có lẽ rồi cũng sẽ kết thúc. Sau khi dẫn gã trung niên lạ về xưởng bác Tư, Khắc về nhà khẽ mở cửa phòng em gái thì thấy Gấm đã ngủ, vốn người tính đơn giản, anh cũng quên luôn bóng hình lờ mờ vùng chạy ra khi nãy ở Quán Rụ. Mai anh không làm việc gì nên mở tivi lên coi phim, mà không phải, là nghe phim mới đúng, anh chỉ mở để có tiếng người cho dễ ngủ, có lẽ anh đã quen không khí trên xe bus. Còn bác Tư thu xếp xong cho người lạ ngủ thì ra ngoài đi dạo cùng con chó già chỉ còn đâu đó chục cái răng, ông thích nhất giây phút này trong ngày, mọi thứ thật êm ái và xinh đẹp. 

  • Lạc hay đúng đường

    “Cọt kẹt”, tiếng cửa chiếc xe bus cũ kỹ như tâm hồn của gã đàn ông trung niên đang một mình lơ đãng nhìn ra ngoài cửa kính. Gã không nghe thấy tiếng xe dừng lại vài phút trước, tiếng nhốn nháo hành khách cũng dần tan đi, chỉ còn lại đôi lời trả giá của mấy người xe ôm với những hành khách cuối cùng còn sót lại, bao nhiêu tiền để được về nhà ?!. Gã vẫn ngồi đó bất động nhìn qua màn kính cửa sổ đóng một lớp sương dày như sự mơ hồ nào đó đã thôi thúc gã dốc vài đồng lẻ cuối cùng lên chuyến xe này, mờ mịt và vô định như khoảng thời gian qua sống trong làn khói cuộc đời. Gã nhìn thăm thẳm như xuyên qua muôn làn khói, bay trên những tầng cao đến với những thành phố xa lạ, gã không cần biết đó là đâu, chỉ cần một nơi nào đó khác là được, không còn sự lạnh lẽo đông cứng dưới cái nóng thiêu đốt ấy nữa, không còn nữa.”Không còn nữa”, gã lẩm bẩm một mình như nói với chính mình của nhiều năm trước và xa về phía những năm sau,”Không còn nữa”hắn nói với tấm cửa kính sương chiều phủ dày đặc.

    “Hôm nay sương xuống sớm, chắc lạnh lắm đây, anh về đâu cần em kêu xe ôm cho không ?”– Giọng nói của người tài xế trẻ tuổi như một cơn gió nhẹ tạm thổi tan đi mịt mù trước mắt. Người thanh niên nhỏ người, da hơi rám nắng, mắt anh ta cứ như muốn sụp xuống sau một chuyến đi dài, anh cố gắng bắt chuyện với người khách lạ mặt trong khi đang dọn dẹp rác trên xe. Người ta đến với anh khi mong mỏi được về nhà, để rồi bỏ lại anh một mình bên đống rác thải, không một lời cảm ơn,”Có lẽ trong suy nghĩ họ cảm ơn mình”anh nghĩ vậy rồi ngày qua ngày tiếp tục làm công việc của mình. 

    “Chú cho hỏi mấy giờ rồi, đây là đâu ?”– Gã trung niên khẽ bất giác quay về với thực tại, gã hỏi với giọng chậm rãi rồi lục lọi trong túi như đang tìm lại thứ gì đấy, điều gì đó đánh mất rồi chợt nhớ ra muốn tìm lại, dầu cho không rõ là có còn cần hay không nữa. 

    “Trời đất, anh hỏi gì kì vậy, trạm cuối rồi, thành phố Chạm, hồi nãy em thấy anh ngủ gục, hay đi huốc nhà luôn rồi ?”– Người tài xế ngồi xuống ghế đối diện, anh đặt cái túi đeo chéo của mình vòng ra sau lưng, người hơi cuối nhìn có vẻ dò xét người hành khách cuối cùng, câu hỏi có vẻ làm anh tỉnh ngủ như bộ phim bỗng đến phút bí hiểm, nhạc dồn dập vang lên để đi vào kịch tính.

    “Hừm, ra là đến tận Chạm, lâu rồi tôi cũng chưa đến đây, thôi xin lỗi làm phiền cậu, chắc tôi phải xuống xe rồi”– Gã vừa nói vừa nhìn quanh quất, dần tỉnh táo trở lại, đứng dậy vuốt quần áo cho thẳng thớm rồi bước xuống xe buýt, hai tay khoanh lại vào nhau vì lạnh. Người thanh niên đứng trên bậc cửa ra vào xe nhìn theo, một phần do dự vài phần lo lắng cho cái vẻ ngoài phờ phạc của người hành khách kỳ lạ, anh với tay phải lên định gọi nhưng rồi lại thôi. 

    Trạm xe đã không còn một ai, bên trong tòa nhà vận hành sót vài ánh đèn le lói, chẳng rõ là có người hay không. Bên trong cùng nhà giữ xe nhân viên có chiếc xe máy cũ, chắc hẳn của người tài xế cuối cùng về bến, mọi thứ đều như dừng lại trong giây lát, lặng lẽ trông nom nhau ở một nơi hiu hắt, thứ trông nom hiếm hoi không còn tìm thấy ở những thành phố nhộn nhịp. 

    Gã trung niên đứng trước cổng bến xe, cái lạnh làm gã không còn nghĩ gì cho thông suốt, nhìn quanh về phía con dốc bên phải cùng ngọn đồi bên trái và ánh đèn phố xá ở con đường phía trước mặt, đi lên đi xuống hay đi về phía an toàn ? Một cơn gió đột nhiên ùa từ ngọn đồi phía trên cao xuống dưới con dốc, những ánh đèn đường chập chờn treo trước nhà của người dân chớp tắt, những chiếc lá cuốn đi theo hình xoắn ốc về phía cuối con dốc sâu hoáy tưởng chừng như vô tân, nuốt đi tất cả hy vọng le lói cuối cùng. Những cuộn lá khô xoáy lúc hiện ra khi lại biến mất, nhìn từ xa gã thấy một đốm lửa đung đưa khi gió thổi ngang, xung quanh có một nhóm người đang tụ lại sưởi ấm và có thể đang nướng một vài thứ. Ánh nhìn của gã dừng lại ở họ bên đống lửa, cái lạnh thấu xương đã lấn áp toàn bộ tâm trí và hệ logic nơi một kẻ từng trải, một con ngựa đầy vết hằn đang chạy trên một thảo nguyên lạnh lẽo chỉ còn muốn có một đống lửa nhỏ cùng tiếng nói ấm áp của con người, những con người thật sự. Gã quyết định đi theo sự chỉ đường của cơn gió lạnh lẽo, với cái đầu trống trơn không mong ước gì ngoài đốm lửa nhỏ nhoi, một thứ gì đó còn le lói bên trong tảng băng tâm hồn già nua của mình. 

    Gió vẫn thổi rét buốt từ trên phía đồi xuống con dốc, gã kéo cái cổ áo sơ mi lên che cho bớt lạnh, chiếc áo còn mùi công sở trưa nay sót lại, gã như vừa mới chui ra từ một vũng bùn chưa kịp tắm rửa. Cơn lạnh đêm nơi đồi núi vẫn len lỏi vào da thịt làm gã đôi lúc như muốn buồn nôn, nhưng gã chịu được cái lạnh này, nó dễ chịu hơn nhiều so với cái lạnh mà hắn đã ngụp lặn suốt những năm qua. Cái lạnh tình người, có lúc gã chạy vội ra bờ sông vắng gần nhà, một mình, chỉ để nôn ra những thứ bản thân đã dự phần vào đó. Dần rồi nôn ra bờ sông như một nghi thức xưng tội, để mai gã còn tiếp tục mà sống, con sông như Chúa trời nhận lấy mọi tội lỗi dơ bẩn một cách thản nhiên, một bông hoa dại nở trong sương mai sẽ che mờ đi tất cả. Sự buồn nôn thì không, nó vẫn sẽ quay lại như một căn bệnh chưa được trị tận gốc, ít ra hôm nay gã đã dốc hết sức lực để đi tìm phương thuốc, dù không biết nó ở đâu và thậm chí có tồn tại hay không, gã chỉ không thể chịu đựng nổi thêm nữa.

    Hai tay bỏ vào túi quần tây dài màu xanh dương đậm, chiếc quần với cái mép quần đứt vài sợi chỉ sờn màu, không biết gã đã bỏ bê mình bao lâu, mà những người xung quanh gã đâu cũng không rõ. Chậm rãi đi từng bước xuống con dốc, đầu cúi xuống mặt đường, có một tiếng chuông gió bằng đá đâu đó vang lên như chào đón và đánh thức người khách lạ. Dưới lòng đường đã không còn chộn rộn xe cộ nữa, thay vào đó mấy chiếc lá đôi khi lại nối đuôi nhau đi ngang chạm vào cẳng tay trái gã, làm gã giật mình vì ngỡ mình còn ở phố thị. Trong cái không khí ấy, mọi thứ xung quanh đang như xầm xì bàn tán, dự đoán về câu chuyện của một người lạ. Đám lá đôi khi đang vẫy chào gã, còn đám côn trùng thì mon men tò mò đi theo, có ai đó cũng đứng nhìn ra từ trong nhà đang sáng đèn. Nhưng ở nơi đây đơn thuần đó là chuyện trò hơn là tọc mạch soi mói, kể nhau nghe rồi thôi, có lẽ trừ bọn côn trùng nhiều chuyện. 

    “Thịch”gã vấp phải một mảng gạch lát lề đường hơi chênh, một thứ tưởng chừng như không đúng vị trí lay gã tỉnh hơn trở lại, mặt ngẩng lên cao với chiếc lưng thẳng và đôi mắt mở to để nhìn xung quanh. Đốm lửa nhỏ và nhóm người khi nãy gã thấy khi còn ở trạm xe bus đã gần ngay trước mặt, lỏe nhòe trong đêm cách hắn đâu đó 50 mét. Bước tiếp với nhịp chân nhanh hơn, vừa đi gã vẫn lục lọi quanh túi mình như vẫn chưa tìm được thứ mình cần, gã còn lướt tay qua trước ngực áo mà quên mất nó không hề có túi. Bỗng gã đứng lại, lấy hai tay dụi mắt hai lần rồi đặt tay nhìn quanh qua lại vài lần, đám lửa nhỏ ở ngay trước hắn độ còn 5 mét. Hóa ra đó là một bụi bông Trang đỏ nở rực còn ở trên là cây Pháo Bông tỏa táng trổ hoa như bao phủ viền ngoài bụi bông Trang, vậy những người khi nãy hắn thấy ở đâu, họ đã đi đâu, hoa mắt sao, hay còn gì khác chưa rõ. Gã nhìn lên cao một chút về phía cái cổng rào đi vào ngôi nhà, giật bắn mình mém ngã lăn ra lề đường, bốn cái mặt người lùn đang cười trước mặt hắn. Thì ra là tượng gốm trang trí, có lẽ chẳng có gì buồn cười với gã lúc này lắm. Sau vài phút hoàn hồn, hắn nhìn lên phía trên dàn hoa Pháo Bông là một tấm bảng gỗ được đốt bằng đầu bút lửa để chạm trổ, trên đó ghi vỏn vẹn hai chữ”Quán Rụ”. Từ bên ngoài thì vẫn còn nghe thấy tiếng râm rang nói chuyện. Ngôi nhà nhìn từ xa cũng không có gì đặc biệt, hai bên đi vào có hàng hoa hồng Tiểu Muội nhỏ đang trổ hoa, đường đi vào không có đèn nên chỉ thấy vỏn vẹn năm sáu cái hoa sáng bật lên do ánh đèn trong nhà tỏa ra ngoài một ít, hay chúng chỉ nở có bao nhiêu thôi cũng chẳng rõ. Gã quay đi quanh lại vài bận, do dự với chút sợ hãi còn sót lại, nhưng quyết định đi vào, vì cũng đói lắm rồi. 

    Ngôi nhà trông giản tiện nhưng lại có vẻ rất chắc chắn và được xây cất tỉ mỉ, mọi thứ nhìn như những mảnh lego gỗ và đá xếp lại với nhau thông qua các khớp nối, chẳng thấy một vết đinh nào cả. Bên dưới sàn có ba tảng đá trung bình dùng để nâng sàn nhà bằng gỗ, có lẽ bên dưới là một hệ đá được thu xếp với nhau để đỡ lấy sàn. Ngôi nhà như toát lên cái tinh thần của không khí nơi đây, mọi thứ liên kết với nhau mà chẳng cần gán ghép phụ trợ, chẳng có gì bị thủng lỗ chỗ hay tổn thương quá mức cả, ngôi nhà cũng làm gã quên đi nỗi sợ mà thay vào đó là tò mò. 

    Bên trong chẳng có nhiều đồ nội thất bàn ghế gì nhưng lại hết sức lạ lùng, chỉ có mỗi ba cái bàn và mười cái ghế cùng vài bức tranh và một bàn thờ. Một chiếc bàn to nằm ở giữa nhà hình lục giác cùng sáu cái ghế xung quanh, cạnh cửa sổ bên trái nhìn ra khu vườn bên hông nhà là một bàn hình chữ nhật và một băng ghế dài nhỏ như chỉ dành cho hai người đang quay lưng, và một cái bàn hình vuông nhỏ lọt thỏm bên góc nhà bên phải với duy nhất một chiếc ghế có tựa lưng cho ai đó chỉ nhìn vào vách tường, hai cái ghế còn lại thì để rải rác ở hai góc trái phải ngoài cửa đi vào chẳng rõ là dành cho ai. Trên chiếc bàn nhìn ra ngoài vườn có một chiếc ly nhỏ bằng gốm, trong đó cắm duy nhất một cành hoa hồng hái trong vườn. Khi nhìn lên tường bên góc bàn hình vuông gã thấy một bức tranh vẽ khóm Trúc đang rụng lá xuống một con suối lởm chởm đá, trên đó có đề bốn câu thơ đã nhòe không đọc rõ. Chẳng có gì trên chiếc bàn to lục giác giữa nhà ngoài ba lọ gia vị muối tiêu đường cho đám đông ngồi đó. Cuối cùng là chiếc bàn thờ nằm bên cửa sổ phía phải, nhang được cắm vào một cục đất sét mềm, hương tỏa ra thoang thoảng làm dễ chịu như đất rừng, nhưng đặc biệt khi không thấy ai ngồi đó ngoài một hòn đá cuội tròn thô ráp. Cảnh tượng làm cảm xúc của gã lẫn lộn đan xen vào nhau, chút gì đó kỳ quái nhưng vô cùng thú vị nơi này, trong giây phút ấy hắn quên mất những ngổn ngang sau lưng của mình còn đó.

    Khi gã vào trong quán thì đã có năm thực khách, một ông già ngồi một mình bên trong chiếc bàn vuông, hai cô gái cùng nhau thầm thì ở băng ghế dài cạnh cửa sổ, họ có vẻ ưu tư không nhìn vào mặt nhau Trên chiếc bàn lớn giữa quán, một cậu nhóc khoảng cấp hai và anh chàng đâu đó gần ba mươi tuổi không có gì là thân thiết nhau ngồi cách xa hai cái ghế quanh bàn to ở giữa, nhìn họ như ai cũng có một câu chuyện thú vị để kể nhưng lại muốn được nghỉ ngơi vào một đêm lộng gió. Gã ngồi xuống bên trái cậu nhóc, vì đó có lẽ là lựa chọn khả dĩ và an toàn nhất cho một người lạ. Nhìn xung quanh tìm chủ quán thì không thấy đâu, cũng chẳng có thực đơn trên bàn hay thông tin nào được dán trên tường. Vừa quay đầu sang định xem cậu nhóc đang ăn gì thì có tiếng nói thỏ thẻ sau lưng gã vang lên, giọng nói thình lình đủ làm hắn một chút bồn chồn nhưng không hoảng hốt như khi đi vào:”Anh cứ gọi một trong những món mọi người đang ăn, nếu không thì quán chỉ còn có Phở”. 

    Đó là giọng của người đàn bà không còn trẻ, nhưng sức sống bên ngoài cùng sự thư thái toát ra khiến cô chưa thể già ở cái độ tuổi ấy. Tuy vậy những nếp nhăn li ti và bàn tay thô ráp của công việc chân tay lâu năm vẫn mang trong mình những câu chuyện từ rất lâu rồi. Cô ngồi trên chiếc ghế bên phải phía cửa đi vào, nhưng do cánh cửa che đi phần nào sự hiện diện của cô mà gã không nhận ra khi bước vô quán, hay sự thản lặng của cô khó mà nhận diện bởi một tên đang rối bời, cũng có thể cô cứ thế đột nhiên xuất hiện tại cuộc đời gã mà thôi. Cô đứng lên trong bộ váy hoa nhiều họa tiết trên nền vải màu như một tờ giấy sẫm màu, bên ngoài là chiếc tạp dề màu trắng. Cô đứng lên với đôi chân trần, đặt ly bia nhỏ xuống ghế, có lẽ cô đang tận hưởng cuối ngày làm việc của mình vì nghĩ sẽ chẳng còn ai đến quán nữa. 

    “Hừm, vậy cô cho tôi một tô Phở”– Gã trả lời sau vài giây nhìn quanh, cố gằng giọng một chút để toát lên vẻ trung niên của mình, cũng là để làm bản thân bình tĩnh hẳn.

    Cô không trả lời gì mà khẽ gật đầu cười cùng dấu hiệu OK bằng tay trái rồi bước vào trong bếp. Bước qua rèm vải đơn sơ bên lối trái vào bếp, để lại biết bao câu hỏi và năm con người xa lạ cho gã cùng một thứ gì đó gờn gợn. Đôi khi trong bếp phát ra tiếng tanh tách của củi cháy, đôi lúc lại lộc cộc của ly rượu ông già bàn vuông đặt xuống. Anh bạn trạc 30 thì đang hút điếu thuốc cùng lon bia và đĩa gân gà cháy tỏi anh ta nhìn gã với vẻ dò xét, hai cô gái bàn bên thì đang thầm thì chuyện của mình.

    “Hôm nay em thế nào?”– Cô gái gần 30 nghiêng sang một chút rồi hỏi, ngón tay phải áp út của cô lướt qua lại trên thành mép cái đĩa gốm nhỏ có vài chiếc bánh đúc cốt dừa, gạc một chút nước đường dính trên, có lẽ tâm hồn cô đang ở ngoài rìa một thế giới nào đó bất định, thoáng qua thoảng lại không biết đi đâu.

    “Đừng”- Cô gái trẻ hơn lấy ngón trỏ tay trái mình dừng tay cô kia lại, lộ ra một chiếc nhẫn, có lẽ cô gái đặt câu hỏi đã có chồng. Cô gái trẻ nhịp nhịp ngón tay mình vài ba cái trên chiếc nhẫn, nhìn xuống nó rồi vừa nói vừa ngẩng lên nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Chị đừng cố bắt chuyện khi không có gì để nói, thế này lại hay”– Cô gái trẻ sau vài giây nhìn ra cửa sổ thì cất tiếng, giọng cô ấm như đang nói bằng giọng mũi, cô lại nhìn vào hoa hồng trong chiếc ly nhỏ rồi đặt câu hỏi :”Chúng đang tự vệ trong lo âu hay chúng sinh ra là để tổn thương kẻ khác ?”; cô ngắt một cành hoa rồi đặt lên trên một chiếc bánh, mặt cúi nhìn chúng.

    “Có lẽ đó là phần cứng cỏi trong chúng, để có trách nhiệm tránh cho thế giới này trở nên phù phiếm, nếu chúng buông thả, có lẽ chính chúng cũng không còn biết quý trọng gì nữa”– Cô gái lớn hơn nhặt cánh hoa rồi treo chúng lên gai của chính cành hoa trong ly. Cánh hoa hồng như đang giãy dụa, dùng dằng, không phải đau khổ mà day dứt trong lưỡng nan. 

    Gã ngồi gần họ nhất nên nghe rõ những lời ưu niệm thật đẹp mà thật u sầu đấy, có lẽ những người khác cũng nghe thấy và ngẫm nghĩ về thân phận mình. Đúng lúc đó người chủ quán mang lên cho gã bát Phở bò nóng hổi, ở một nơi lạnh lẽo heo hút này càng làm chúng tỏa khói nghi ngút trông bắt mắt hơn nữa, có vẻ như một ông Bụt nào đó sẽ hiện ra để cứu giúp đời gã chăng. Chẳng có ai hiện ra cả, chỉ có mình gã và tô Phở trước mặt.

    “Cô cho hỏi còn bánh đúc không, lâu tôi không ăn mà nhìn anh bạn nhỏ ăn ngon quá nên thèm”– Thật ra gã nhìn sang hai cô gái bàn bên mà tránh không nói vì mong họ thoải mái có những phút giây trò chuyện cùng nhau.

    “À còn một ít mẹ tôi gửi từ miệt miền Tây lên chứ ở đây không làm, anh ăn phải đợi sơ chế, lạnh ăn không có ngon”– Cô chủ quán vừa nói vừa chỉ tay vào bếp.

    “Ngoài ra hôm nay thiếu gừng nên con thấy thiếu thiếu”– Cậu nhóc ngồi bên cạnh gã ngẩng đầu lên nói, miệng cười mím môi nhe tới mang tai híp luôn cả mắt.

    “Cũng phải, sáng nay quên mất, xin lỗi nha nhỏ”– Chủ quán vén váy gọn gàng trong khi khụy gối xuống bàn vừa nói vừa nhìn cười cùng vị khách nhỏ tuổi. 

    “Không có chắc cũng không sao đâu hả, một ít gừng chắc không ảnh hưởng nhiều“.

    “Xin lỗi, tôi thấy ăn cũng ổn anh à, đúng là cảm giác không trọn vẹn nhưng có lẽ không sao do bánh của bà chủ ngon dai lắm, anh thử xem sao”– Cô gái lớn tuổi quay lưng lại gặt đầu với gã rồi vừa nói vừa gãi gò má. Cô có mái tóc dài qua khỏi vai một xíu, ăn bận gọn gàng với tông màu hơi nhạt, dưới ánh đèn vàng cô như bước ra từ một bức tranh cũ kĩ, không buồn chán nhưng có phần phai mờ dần.

    “Vậy thì tình yêu ở đâu trên đời này nữa”– Cô gái trẻ vừa nằm dài ra bàn vừa khều khều cánh hoa hồng trên gai nhọn.

    Trong phút chốc cả không gian im lặng không còn một lời nào. Cảm giác một hang sâu nào đó bao trùm mọi thứ xung quanh đến nổi chẳng ai thốt ra nổi, thậm chỉ là không thể nghĩ được gì, chỉ còn lại tiếng buông đũa đặt lên đĩa gốm của ông già bên bàn vuông, ông ta đã định quay đầu nhìn lại sau lưng nhưng rồi lại thôi.  

    Cô thực khách lớn hơn bối rối, quay người đứng lên khều khều tay cô gái trẻ làm cô bật dậy quay ra nhìn. Cô ngay lập tức nhận thấy mình đã tạo nên không khí có phần hơi khó xử này, dù cho cô chẳng có tội tình gì khi hỏi một điều cô còn băn khoăn. Cô quay người đứng lên cúi đầu xin lỗi hai lần, cô làm gã trung niên cũng bối rối theo, cả hai cùng cúi gật đầu xin lỗi qua lại :”Xin lỗi tôi đã làm ồn không gian của hai người”đó là lời thú tội gã đưa ra trong khi lại thích thú lúc quan sát chuyện trước đó. Tạ lỗi vì sự thích thú, hóa ra những niềm hứng khởi đều là tội lỗi chăng ? Cũng không đến như vậy.

    “Nhịn không nổi một bữa bánh đúc không gừng, thì nói gì đến tình yêu, không đáng, không đáng nhận, không đáng”– Người thanh niên trạc 30 tuổi giọng lè nhè say quơ tay quơ chân cầm ly bia loạng choạng xém ngã. Hắn đang định nói thêm gì đó thì bà chủ quán nhanh tay dực cái bánh cuối cùng trong đĩa thằng nhỏ, nhét vào miệng anh ta. Cô quay ra đá lông nheo với thằng nhỏ rồi nói thêm :”Hôm nay miễn phí con về mai còn đi học”

    Thằng nhỏ có vẻ bực mình, cầm đũa chọt chọt vào đĩa, nhưng rồi nó cũng đứng dậy rời đi, trước khi đi nói quay ra nói với ông già ngồi trong góc bàn vuông :”Con về trước nha ông Tư”. Ông già không nói gì mà giơ tay lên, để lộ ra một ít đất sét đông cứng còn sót lại đằng sau bàn tay, không rõ là chuyện gì. Cô chủ quán thu xếp để mọi người ngồi lại vào chỗ cũ, sau đó bưng dọn đĩa rồi lau bàn chỗ thằng nhỏ vừa rời đi. Gã trung niên ngồi xuống ăn tô phở, lâu lâu lại nhìn anh bạn đang ngồm ngoàm cục bánh đúc như bị mắc nghẹn, gã đang suy nghĩ gì đó về lời của anh ta.  

    “Bánh cũng ngon quá bà chủ, chắc lâu không được ăn thế nào thấy cũng ngon, cho thêm lon bia đi chị già ơi, làm gì mà căng vậy, say thôi mà”– Người thanh niên vừa nhai vừa nói vào trong bếp nhưng bị từ chối”Đi về đi, nay uống lố rồi đó, không bán nữa đâu”.

    “Về thì về, không cho say thì thôi, ít ra tui còn dám say tình, hơn khối kẻ chưa bước ra khỏi nhà mà chê ma chê quỷ”– Hẳn bỏ tiền xuống rồi kẹp dưới ly bia cạn, vừa đi vừa quơ quào loạng choạng nhưng cũng ra được tới cổng, hắn còn khép cổng ngay ngắn trước khi đi, một gã say ngông cuồng tử tế.

    “Suốt ngày”– Cô chủ quán nhìn theo, hai tay chống nạnh, cô không lắc đầu vẻ ngao ngán, chỉ là một câu cảm thán cho anh bạn trẻ, cũng có thể cô còn nhớ về ngày xưa của mình chăng ?

    “Anh bạn đó nói cũng có lý mà, đôi khi tôi nghĩ mình không đủ sức sống để yêu thương. Mà thôi, cô có thể cho tôi một ít chanh được không ?”– Anh ta nhìn vô tô phở hay đang nhìn chính mình, nhìn những thứ đã qua, sức sống của anh ta có trở lại trong đó chưa ?

    “Anh bước ra hái giúp tôi, nó ở bên trái chỗ tôi treo cây đèn, anh thông cảm hôm nay tôi bận quá nên thiếu sót đủ thứ cả”– Cô nhóm mũi chân rồi hướng về phía trước chỉ về chỗ cây đèn, từ chỗ của gã thấy rõ chanh đang rất sai quả.

    “Làm sao để biết quả nào dùng được”– Gã buộc miệng hỏi rồi tự dưng thấy sao mình lại hỏi ngớ ngẩn như vậy.

    “Người thành thị phải không, anh cứ ra chạm vào nó, nắm chặt một chút là biết ngay mà” – Cô chủ quán lại ngồi gần bên gã, nhìn về phía những quả chanh trên cành đang chở được hái.

    “Thật ngớ ngẩn”, gã nghĩ về mình như vậy khi đứng dưới ngước cổ nhìn lên cây chanh. Hắn đưa tay lên cao dè dặt, có vẻ người thành thị nào cũng sợ cây cối một cách kì lạ. Trong lúc ấy hắn nghe giọng nói trầm của cô gái trẻ bên trong phát ra dù không rõ lắm”Còn chị thì sao, sức sống để yêu”, cô gái lớn tuổi hơn đáp cái gì đó về khổ và chịu đựng. Đúng lúc đó gai chanh đâm vào vai gã, bao nhiêu khổ của hai người con gái kia với hắn biến đâu mất hết, ký ức khi nhỏ đi hái chanh ở quê nhà thế chỗ hiện về mồn một như gã chưa bao giờ rời đi khỏi đó vậy. 

    “Mình đã từng là đứa trẻ vui vẻ, một người năng nổ và lý tưởng. Mọi thứ mình đều vạch ra kế hoạch rõ ràng, để thành công, để có gia đình đầm ấm, để hạnh phúc !!! Sao mọi thứ lại thế này, sao mọi thứ lại vuột mất như vậy, sao không mãi ở cái làng nhỏ đó mãi mãi cười đùa. Sao mình lại ở một nơi xa xôi kỳ lạ này với những con người mình còn chẳng rõ họ có tồn tại không nữa”– trong suy nghĩ có những ám ảnh bắt đầu xuất hiện, hàng ngàn tấn bông gòn bao quanh, gã vẫn chuyển động nhưng chẳng thể biết được mình đang ở đâu và chuyện gì tiếp theo. Hết đám bông gòn thì thay vào đó là đống quả chanh khổng lồ chèn vào người gã, đôi mắt cay xè còn đầu lưỡi thì đắng nghét. Bỗng nhiên dám chanh rung lên , xa trong không trung có tiếng ai đó gọi”Này anh, này”. Cái đẩy nhẹ vai của cô chủ quán làm gã trung niên bừng tỉnh trong cơn ho thốc và rơi nước mắt. Cô lắc nhẹ gã thêm lần nữa rồi hỏi”Sao anh lại đưa chanh lên mặt rồi bóp mạnh thế này, tôi nói chạm vào là biết ngay thôi mà, trời ơi dân thành phố”.

    Cô chủ quán vừa hỏi gã tự đi vào được không, vừa đi sau lưng gã để trông chừng, cô cũng không muốn chạm vào một người đàn ông lạ mặt, chỉ trông nom nhau như một con người. Cô đi vào nhà lấy cái khăn mặt ướt và một con dao nhỏ, để gã lau mặt vừa là để sắc chanh ăn tiếp tô phở còn hơi âm ấm. Hai người bàn bên cũng quay ra xem gã có cần giúp gì không nhưng rồi họ về lại thế giới của mình, nơi có cánh hoa hồng treo dày vò trên gai gió. Ông già thì lặng thinh như hòn đá dưới suối trong bức tranh treo trên tường, có lẽ lão đang cố nhớ ra bốn câu thơ đã nhòe kia. 

    Không gian trở lại như lúc gã vừa mới bước vào quán, cô chủ rót tiếp một cốc bia nhỏ ngồi vào góc với cái tạp dề đã gỡ, hai cô gái thì trò chuyện gì đó của họ gã cũng không nghe rõ lắm vì vẫn chưa hoàn hồn dù đang từ từ ăn nốt tô phở đã dần nguội. Một cơn gió thổi đập vào cửa sổ nơi có cái bàn thờ, viên đã rơi xuống, lăn lộc cộc vài ba tiếng dưới sàn, cô chủ quán nhặt nó lên rồi chắp tay vài ba cái cho điều gì đó hay ai đó đã không còn hay là chưa đến. Một hạt đất sét cứng khô trên tay ông già rơi xuống, lão cúi xuống nhặt lên để qua một bên bàn rồi rót tiếp một ly rượu nhỏ. Tiếng rù rì của hai cô gái lặn dần xuống, từ ngữ ít đi mà nỗi niềm ngày một dâng lên. Ngẫm nhìn lại gã lại thấy, ở một vùng đất hẻo lánh mà họ văn mình hơn khối kẻ thành thị luôn coi mình là hiện đại, không ai xét nếp ai dù sự thể có phần hơi trái lẽ thường, có lẽ họ hiểu, trái lẽ thường là bản chất của một con người bình thường. 

    “Chị chưa bao giờ dám khởi đầu, em về đây” – Cô gái trẻ vừa nói vừa đứng dậy vùng chạy ra khỏi quán, người còn lại lặng lẽ nhìn theo đợi cho bóng cô không còn nhìn thấy thì mới quay vào trong, cô xin chủ quán cho cô xin lửa để đốt một điếu thuốc loại nhỏ, rồi ngồi đó một mình.

    Điếu thuốc trên tay cô thực khách còn lại vừa tàn một nửa, cô không hút nữa mà gác nó lên trên miệng ly hoa hồng, chờ cho nó cháy dần rồi tự lọt vào hố sâu không bật dậy nổi.”Chỉ sợ đó là khởi đầu của một bất hạnh mới mà thôi”cô thầm thì trong lặng lẽ như đang tự nói với cả cuộc đời mình vậy. Cô chú quán cũng vừa cạn ly bia, cô đặt xuống đi dọn tô phở cho gã trung niên rồi mang lên đĩa bánh đúc gã gọi trước đó, có lẽ cô đợi xem thực khách của mình ăn hết món nào mới mang lên món khác, kẻo lại no rồi thì thừa mứa. Cô mang đĩa bánh lên, dùng đũa gắp một miếng gừng đặt lên trên,”tôi phát hiện còn dư một ít nên đập ra cho vào nồi nước đường nóng, mời anh”. Cô lùi lại, quay người về phía cô khách cuối cùng hôm nay, xoa lưng cô ấy nhè nhẹ, có vẻ họ quen nhau từ trước nên hiểu chuyện gì đó đã xảy ra cho nhau. Trước cổng có tiếng bước chân dồn dập từ ngoài chạy vào quán, chủ quán bước từ trong bếp ra xem là ai, hóa ra là anh chàng tài xế xe bus mà gã trung niên gặp khi nãy. 

    “Ai giống con bé Gấm em gái em vậy chị, nhỏ vừa hớt hải chạy ra khỏi cổng em chưa kịp nhìn, giờ này nó đi đâu vậy ta, tưởng phải ở nhà ôn thi chứ”– Anh ta một tay chống nạnh một tay gãi đầu quay quay nhìn hỏi cô chủ quán.

    “Sao hôm nay về trễ vậy, làm ly bia lạnh đi, thở gì mà hổn hển như trâu”– Cô chủ quán tránh không trả lời, có lẻ cô gái trẻ vừa rồi đúng là em gái anh ta, cô đi vào trong rang một ít đậu phộng mà không nói gì thêm cả.

    Tội nghiệp anh chàng một thì tội cho cô gái bàn bên mười, cô loay hoay thu dọn túi xách và áo khoác, đánh rơi cả chìa khóa xuống nền nhà. Anh tài xế cúi nhặt dùm thì cô tránh ánh mắt không nhìn rồi giật nhanh lấy chìa khóa, đứng lên để tờ tiền 500k lại luôn trên cái bánh ăn còn dang dở rồi chạy nhanh ra khỏi cửa. Giờ thì thật tội nghiệp cho anh chàng chẳng hiểu chuyện gì, cứ gãi đầu rồi loay hoay mãi không biết trời trăng. Anh ta ngồi xuống ghế bên trái gã trung niên, vẫn còn chưa hiểu mô tê gì thì chợt thấy người quen khi nãy nên thốt lên”Ủa anh hả, nãy em còn lo cho anh định chạy theo coi có sao không, ai dè. Có duyên ghê, chú uống với con vài ly chơi cho ấm nha”. Gã trung niên cũng chẳng nghĩ ngợi được gì, ngày hôm nay đã quá nhiều sự kiện làm gã như lạc vào một bức tranh lễ hội huyên náo, tâm trạng luyến láy lẫn lộn hư thực. Hắn quyết định uống một phen mà quên mất túi chẳng còn một xu.

    “Mà sao anh lại trong bộ dạng như lúc nãy mà đến đây, ý em là nhìn anh bệ rạc lắm”– Sau vài ly ngà ngà say, vài ba câu chuyện tự thoại về bản thân thì anh tài xế bus hỏi . Anh ta là vậy, một người huyên náo, ngây ngô đến mức đôi khi vô tình tọc mạch mà không hay biết.

    “Kệ người ta mày, nhìn mày coi, toàn mùi dầu khí chứ ở đó mà chê”– Cô chủ quán cảm thấy câu hỏi quá đà nên nhanh miệng chen vào. Giọng điệu của cô có vẻ mọi người ở đây đều gắn bó, họ biết về nhau rõ nhưng cũng tế nhị không xen vào thô lỗ.

    “Không sao không sao cô, tôi bệ rạc thật mà. Anh đi lạc, ngủ quên, có lẽ quên luôn mình là ai, lạc luôn nơi mình đến”– Gã trung niên cúi đầu lè nhè đáp, gã sống lành mạnh và nguyên tắc nên ít khi động vào rượu, sau vài ba ly đã như người mơ màng.

    “Cái miệng em bậy rồi, xin lỗi anh, chị Lanh cho em thêm một xị tạ tội đi, à còn mồi gì cho em một ít nay đói quá”– Anh bạn lại gãi đầu cúi cúi rồi nói với cô chủ quán, hóa ra cô ấy tên Lanh

    “Ít thôi nha, để tui còn ngủ, bác Tư mà về là hai ông cũng phải đi chỗ khác cho tui đó, có mình tui ai dám chứa hai ông xỉn”- Chị Lanh vừa nói vừa chỉ tay về phía ông già Tư bên góc bàn có bức tranh, ông đang ngồi xếp mấy hạt đậu theo những hình thù đẹp mắt nhưng không rõ là gì. 

    Lanh đi vào bếp làm cho họ một đĩa cơm thập cẩm, gồm những gì còn sót lại trong bếp. Trong lúc đầu bếp làm đồ ăn, gã trung niên bắt đầu lè nhè kể về cuộc đời mình, từ trong bếp Lanh nghe rõ cả, có những đoạn do say nên không rõ ràng lắm nhưng nhìn chung cô phần nào hình dung được người khách lạ này, lạ đã trở thành quen chỉ sau một đêm, chung quy đời người cũng chẳng có mấy thứ để kể. Cô chủ quán làm một chảo to chia làm ba đĩa, cô đưa cho hai gã say một đĩa to, một đĩa nhỏ cô mang qua cho bác Tư,”con mời bác”, rồi ông đáp”cảm ơn chị”. Cô mang một đĩa nhỏ ngồi xuống góc quen thuộc của mình, ngồi đó dùng bữa cơm muộn của người phục vụ, những người chẳng mấy khi kể nhưng lại nghe rất nhiều.

    Được một lát sau, hai gã kia đã say khướt, cầm ly rượu không lên nổi, giọng nói cũng không ai nghe nổi. Gã trung niên thò tay vào túi thì chợt nhớ ra mình không còn tiền, gã hoảng hốt loay hoay, miệng cứ nói”Xin lỗi tôi đi vội không mang theo tiền”, vài ba câu đã gục xuống bàn mơ mơ màng màng. Đúng lúc đó ông Tư đứng lên, nhìn bức tranh rồi đọc lên một bài thơ bốn câu, có lẽ ông đã nhớ ra hay là tự đề tác.

    Nước trên nguồn chảy tuôn xuống hạ

    Người trên đời trôi nổi xót xa

    Khe suối nhỏ cánh hoa rơi rụng

    Hòn đá vùi chẳng tụng mà thông

    “Tiền đây Lanh, tính luôn tụi nó, còn Khắc, mày dẫn thằng này về xưởng tao, mai qua tính sau. Thôi bác Tư về nha con.”– Sau khi cảm tác một bài thơ giữa đêm khuya nơi núi rừng lạnh thiết, bác Tư quay ra nói với cô chủ quán rồi khều đầu anh tài xế xe bus tên Khắc. Trong mơ màng, gã trung niên chỉ nghe thấy mỗi bài thơ và”mai qua tính sau”.

    Đêm hôm ấy, mọi người đều yên bề khi về nhà, Lanh dọn dẹp quán sạch sẽ, lau hòn đá trên bệ thờ rồi đốt thêm một nén nhang. Cô kê mấy cái bàn trong quán lại, hóa ra bàn vuông để kê đầu, bàn chữ nhật gác chân, cứ thế cô đặt gối và mền ra rồi ngủ sau một ngày bình thường của người nơi đây, đâu đó cũng có vài điều lạ nhưng có lẽ rồi cũng sẽ kết thúc. Sau khi dẫn gã trung niên lạ về xưởng bác Tư, Khắc về nhà khẽ mở cửa phòng em gái thì thấy Gấm đã ngủ, vốn người tính đơn giản, anh cũng quên luôn bóng hình lờ mờ vùng chạy ra khi nãy ở Quán Rụ. Mai anh không làm việc gì nên mở tivi lên coi phim, mà không phải, là nghe phim mới đúng, anh chỉ mở để có tiếng người cho dễ ngủ, có lẽ anh đã quen không khí trên xe bus. Còn bác Tư thu xếp xong cho người lạ ngủ thì ra ngoài đi dạo cùng con chó già chỉ còn đâu đó chục cái răng, ông thích nhất giây phút này trong ngày, mọi thứ thật êm ái và xinh đẹp. 

  • Lạc hay đúng đường

    “Cọt kẹt”, tiếng cửa chiếc xe bus cũ kỹ như tâm hồn của gã đàn ông trung niên đang một mình lơ đãng nhìn ra ngoài cửa kính. Gã không nghe thấy tiếng xe dừng lại vài phút trước, tiếng nhốn nháo hành khách cũng dần tan đi, chỉ còn lại đôi lời trả giá của mấy người xe ôm với những hành khách cuối cùng còn sót lại, bao nhiêu tiền để được về nhà ?!. Gã vẫn ngồi đó bất động nhìn qua màn kính cửa sổ đóng một lớp sương dày như sự mơ hồ nào đó đã thôi thúc gã dốc vài đồng lẻ cuối cùng lên chuyến xe này, mờ mịt và vô định như khoảng thời gian qua sống trong làn khói cuộc đời. Gã nhìn thăm thẳm như xuyên qua muôn làn khói, bay trên những tầng cao đến với những thành phố xa lạ, gã không cần biết đó là đâu, chỉ cần một nơi nào đó khác là được, không còn sự lạnh lẽo đông cứng dưới cái nóng thiêu đốt ấy nữa, không còn nữa.”Không còn nữa”, gã lẩm bẩm một mình như nói với chính mình của nhiều năm trước và xa về phía những năm sau,”Không còn nữa”hắn nói với tấm cửa kính sương chiều phủ dày đặc.

    “Hôm nay sương xuống sớm, chắc lạnh lắm đây, anh về đâu cần em kêu xe ôm cho không ?”– Giọng nói của người tài xế trẻ tuổi như một cơn gió nhẹ tạm thổi tan đi mịt mù trước mắt. Người thanh niên nhỏ người, da hơi rám nắng, mắt anh ta cứ như muốn sụp xuống sau một chuyến đi dài, anh cố gắng bắt chuyện với người khách lạ mặt trong khi đang dọn dẹp rác trên xe. Người ta đến với anh khi mong mỏi được về nhà, để rồi bỏ lại anh một mình bên đống rác thải, không một lời cảm ơn,”Có lẽ trong suy nghĩ họ cảm ơn mình”anh nghĩ vậy rồi ngày qua ngày tiếp tục làm công việc của mình. 

    “Chú cho hỏi mấy giờ rồi, đây là đâu ?”– Gã trung niên khẽ bất giác quay về với thực tại, gã hỏi với giọng chậm rãi rồi lục lọi trong túi như đang tìm lại thứ gì đấy, điều gì đó đánh mất rồi chợt nhớ ra muốn tìm lại, dầu cho không rõ là có còn cần hay không nữa. 

    “Trời đất, anh hỏi gì kì vậy, trạm cuối rồi, thành phố Chạm, hồi nãy em thấy anh ngủ gục, hay đi huốc nhà luôn rồi ?”– Người tài xế ngồi xuống ghế đối diện, anh đặt cái túi đeo chéo của mình vòng ra sau lưng, người hơi cuối nhìn có vẻ dò xét người hành khách cuối cùng, câu hỏi có vẻ làm anh tỉnh ngủ như bộ phim bỗng đến phút bí hiểm, nhạc dồn dập vang lên để đi vào kịch tính.

    “Hừm, ra là đến tận Chạm, lâu rồi tôi cũng chưa đến đây, thôi xin lỗi làm phiền cậu, chắc tôi phải xuống xe rồi”– Gã vừa nói vừa nhìn quanh quất, dần tỉnh táo trở lại, đứng dậy vuốt quần áo cho thẳng thớm rồi bước xuống xe buýt, hai tay khoanh lại vào nhau vì lạnh. Người thanh niên đứng trên bậc cửa ra vào xe nhìn theo, một phần do dự vài phần lo lắng cho cái vẻ ngoài phờ phạc của người hành khách kỳ lạ, anh với tay phải lên định gọi nhưng rồi lại thôi. 

    Trạm xe đã không còn một ai, bên trong tòa nhà vận hành sót vài ánh đèn le lói, chẳng rõ là có người hay không. Bên trong cùng nhà giữ xe nhân viên có chiếc xe máy cũ, chắc hẳn của người tài xế cuối cùng về bến, mọi thứ đều như dừng lại trong giây lát, lặng lẽ trông nom nhau ở một nơi hiu hắt, thứ trông nom hiếm hoi không còn tìm thấy ở những thành phố nhộn nhịp. 

    Gã trung niên đứng trước cổng bến xe, cái lạnh làm gã không còn nghĩ gì cho thông suốt, nhìn quanh về phía con dốc bên phải cùng ngọn đồi bên trái và ánh đèn phố xá ở con đường phía trước mặt, đi lên đi xuống hay đi về phía an toàn ? Một cơn gió đột nhiên ùa từ ngọn đồi phía trên cao xuống dưới con dốc, những ánh đèn đường chập chờn treo trước nhà của người dân chớp tắt, những chiếc lá cuốn đi theo hình xoắn ốc về phía cuối con dốc sâu hoáy tưởng chừng như vô tân, nuốt đi tất cả hy vọng le lói cuối cùng. Những cuộn lá khô xoáy lúc hiện ra khi lại biến mất, nhìn từ xa gã thấy một đốm lửa đung đưa khi gió thổi ngang, xung quanh có một nhóm người đang tụ lại sưởi ấm và có thể đang nướng một vài thứ. Ánh nhìn của gã dừng lại ở họ bên đống lửa, cái lạnh thấu xương đã lấn áp toàn bộ tâm trí và hệ logic nơi một kẻ từng trải, một con ngựa đầy vết hằn đang chạy trên một thảo nguyên lạnh lẽo chỉ còn muốn có một đống lửa nhỏ cùng tiếng nói ấm áp của con người, những con người thật sự. Gã quyết định đi theo sự chỉ đường của cơn gió lạnh lẽo, với cái đầu trống trơn không mong ước gì ngoài đốm lửa nhỏ nhoi, một thứ gì đó còn le lói bên trong tảng băng tâm hồn già nua của mình. 

    Gió vẫn thổi rét buốt từ trên phía đồi xuống con dốc, gã kéo cái cổ áo sơ mi lên che cho bớt lạnh, chiếc áo còn mùi công sở trưa nay sót lại, gã như vừa mới chui ra từ một vũng bùn chưa kịp tắm rửa. Cơn lạnh đêm nơi đồi núi vẫn len lỏi vào da thịt làm gã đôi lúc như muốn buồn nôn, nhưng gã chịu được cái lạnh này, nó dễ chịu hơn nhiều so với cái lạnh mà hắn đã ngụp lặn suốt những năm qua. Cái lạnh tình người, có lúc gã chạy vội ra bờ sông vắng gần nhà, một mình, chỉ để nôn ra những thứ bản thân đã dự phần vào đó. Dần rồi nôn ra bờ sông như một nghi thức xưng tội, để mai gã còn tiếp tục mà sống, con sông như Chúa trời nhận lấy mọi tội lỗi dơ bẩn một cách thản nhiên, một bông hoa dại nở trong sương mai sẽ che mờ đi tất cả. Sự buồn nôn thì không, nó vẫn sẽ quay lại như một căn bệnh chưa được trị tận gốc, ít ra hôm nay gã đã dốc hết sức lực để đi tìm phương thuốc, dù không biết nó ở đâu và thậm chí có tồn tại hay không, gã chỉ không thể chịu đựng nổi thêm nữa.

    Hai tay bỏ vào túi quần tây dài màu xanh dương đậm, chiếc quần với cái mép quần đứt vài sợi chỉ sờn màu, không biết gã đã bỏ bê mình bao lâu, mà những người xung quanh gã đâu cũng không rõ. Chậm rãi đi từng bước xuống con dốc, đầu cúi xuống mặt đường, có một tiếng chuông gió bằng đá đâu đó vang lên như chào đón và đánh thức người khách lạ. Dưới lòng đường đã không còn chộn rộn xe cộ nữa, thay vào đó mấy chiếc lá đôi khi lại nối đuôi nhau đi ngang chạm vào cẳng tay trái gã, làm gã giật mình vì ngỡ mình còn ở phố thị. Trong cái không khí ấy, mọi thứ xung quanh đang như xầm xì bàn tán, dự đoán về câu chuyện của một người lạ. Đám lá đôi khi đang vẫy chào gã, còn đám côn trùng thì mon men tò mò đi theo, có ai đó cũng đứng nhìn ra từ trong nhà đang sáng đèn. Nhưng ở nơi đây đơn thuần đó là chuyện trò hơn là tọc mạch soi mói, kể nhau nghe rồi thôi, có lẽ trừ bọn côn trùng nhiều chuyện. 

    “Thịch”gã vấp phải một mảng gạch lát lề đường hơi chênh, một thứ tưởng chừng như không đúng vị trí lay gã tỉnh hơn trở lại, mặt ngẩng lên cao với chiếc lưng thẳng và đôi mắt mở to để nhìn xung quanh. Đốm lửa nhỏ và nhóm người khi nãy gã thấy khi còn ở trạm xe bus đã gần ngay trước mặt, lỏe nhòe trong đêm cách hắn đâu đó 50 mét. Bước tiếp với nhịp chân nhanh hơn, vừa đi gã vẫn lục lọi quanh túi mình như vẫn chưa tìm được thứ mình cần, gã còn lướt tay qua trước ngực áo mà quên mất nó không hề có túi. Bỗng gã đứng lại, lấy hai tay dụi mắt hai lần rồi đặt tay nhìn quanh qua lại vài lần, đám lửa nhỏ ở ngay trước hắn độ còn 5 mét. Hóa ra đó là một bụi bông Trang đỏ nở rực còn ở trên là cây Pháo Bông tỏa táng trổ hoa như bao phủ viền ngoài bụi bông Trang, vậy những người khi nãy hắn thấy ở đâu, họ đã đi đâu, hoa mắt sao, hay còn gì khác chưa rõ. Gã nhìn lên cao một chút về phía cái cổng rào đi vào ngôi nhà, giật bắn mình mém ngã lăn ra lề đường, bốn cái mặt người lùn đang cười trước mặt hắn. Thì ra là tượng gốm trang trí, có lẽ chẳng có gì buồn cười với gã lúc này lắm. Sau vài phút hoàn hồn, hắn nhìn lên phía trên dàn hoa Pháo Bông là một tấm bảng gỗ được đốt bằng đầu bút lửa để chạm trổ, trên đó ghi vỏn vẹn hai chữ”Quán Rụ”. Từ bên ngoài thì vẫn còn nghe thấy tiếng râm rang nói chuyện. Ngôi nhà nhìn từ xa cũng không có gì đặc biệt, hai bên đi vào có hàng hoa hồng Tiểu Muội nhỏ đang trổ hoa, đường đi vào không có đèn nên chỉ thấy vỏn vẹn năm sáu cái hoa sáng bật lên do ánh đèn trong nhà tỏa ra ngoài một ít, hay chúng chỉ nở có bao nhiêu thôi cũng chẳng rõ. Gã quay đi quanh lại vài bận, do dự với chút sợ hãi còn sót lại, nhưng quyết định đi vào, vì cũng đói lắm rồi. 

    Ngôi nhà trông giản tiện nhưng lại có vẻ rất chắc chắn và được xây cất tỉ mỉ, mọi thứ nhìn như những mảnh lego gỗ và đá xếp lại với nhau thông qua các khớp nối, chẳng thấy một vết đinh nào cả. Bên dưới sàn có ba tảng đá trung bình dùng để nâng sàn nhà bằng gỗ, có lẽ bên dưới là một hệ đá được thu xếp với nhau để đỡ lấy sàn. Ngôi nhà như toát lên cái tinh thần của không khí nơi đây, mọi thứ liên kết với nhau mà chẳng cần gán ghép phụ trợ, chẳng có gì bị thủng lỗ chỗ hay tổn thương quá mức cả, ngôi nhà cũng làm gã quên đi nỗi sợ mà thay vào đó là tò mò. 

    Bên trong chẳng có nhiều đồ nội thất bàn ghế gì nhưng lại hết sức lạ lùng, chỉ có mỗi ba cái bàn và mười cái ghế cùng vài bức tranh và một bàn thờ. Một chiếc bàn to nằm ở giữa nhà hình lục giác cùng sáu cái ghế xung quanh, cạnh cửa sổ bên trái nhìn ra khu vườn bên hông nhà là một bàn hình chữ nhật và một băng ghế dài nhỏ như chỉ dành cho hai người đang quay lưng, và một cái bàn hình vuông nhỏ lọt thỏm bên góc nhà bên phải với duy nhất một chiếc ghế có tựa lưng cho ai đó chỉ nhìn vào vách tường, hai cái ghế còn lại thì để rải rác ở hai góc trái phải ngoài cửa đi vào chẳng rõ là dành cho ai. Trên chiếc bàn nhìn ra ngoài vườn có một chiếc ly nhỏ bằng gốm, trong đó cắm duy nhất một cành hoa hồng hái trong vườn. Khi nhìn lên tường bên góc bàn hình vuông gã thấy một bức tranh vẽ khóm Trúc đang rụng lá xuống một con suối lởm chởm đá, trên đó có đề bốn câu thơ đã nhòe không đọc rõ. Chẳng có gì trên chiếc bàn to lục giác giữa nhà ngoài ba lọ gia vị muối tiêu đường cho đám đông ngồi đó. Cuối cùng là chiếc bàn thờ nằm bên cửa sổ phía phải, nhang được cắm vào một cục đất sét mềm, hương tỏa ra thoang thoảng làm dễ chịu như đất rừng, nhưng đặc biệt khi không thấy ai ngồi đó ngoài một hòn đá cuội tròn thô ráp. Cảnh tượng làm cảm xúc của gã lẫn lộn đan xen vào nhau, chút gì đó kỳ quái nhưng vô cùng thú vị nơi này, trong giây phút ấy hắn quên mất những ngổn ngang sau lưng của mình còn đó.

    Khi gã vào trong quán thì đã có năm thực khách, một ông già ngồi một mình bên trong chiếc bàn vuông, hai cô gái cùng nhau thầm thì ở băng ghế dài cạnh cửa sổ, họ có vẻ ưu tư không nhìn vào mặt nhau Trên chiếc bàn lớn giữa quán, một cậu nhóc khoảng cấp hai và anh chàng đâu đó gần ba mươi tuổi không có gì là thân thiết nhau ngồi cách xa hai cái ghế quanh bàn to ở giữa, nhìn họ như ai cũng có một câu chuyện thú vị để kể nhưng lại muốn được nghỉ ngơi vào một đêm lộng gió. Gã ngồi xuống bên trái cậu nhóc, vì đó có lẽ là lựa chọn khả dĩ và an toàn nhất cho một người lạ. Nhìn xung quanh tìm chủ quán thì không thấy đâu, cũng chẳng có thực đơn trên bàn hay thông tin nào được dán trên tường. Vừa quay đầu sang định xem cậu nhóc đang ăn gì thì có tiếng nói thỏ thẻ sau lưng gã vang lên, giọng nói thình lình đủ làm hắn một chút bồn chồn nhưng không hoảng hốt như khi đi vào:”Anh cứ gọi một trong những món mọi người đang ăn, nếu không thì quán chỉ còn có Phở”. 

    Đó là giọng của người đàn bà không còn trẻ, nhưng sức sống bên ngoài cùng sự thư thái toát ra khiến cô chưa thể già ở cái độ tuổi ấy. Tuy vậy những nếp nhăn li ti và bàn tay thô ráp của công việc chân tay lâu năm vẫn mang trong mình những câu chuyện từ rất lâu rồi. Cô ngồi trên chiếc ghế bên phải phía cửa đi vào, nhưng do cánh cửa che đi phần nào sự hiện diện của cô mà gã không nhận ra khi bước vô quán, hay sự thản lặng của cô khó mà nhận diện bởi một tên đang rối bời, cũng có thể cô cứ thế đột nhiên xuất hiện tại cuộc đời gã mà thôi. Cô đứng lên trong bộ váy hoa nhiều họa tiết trên nền vải màu như một tờ giấy sẫm màu, bên ngoài là chiếc tạp dề màu trắng. Cô đứng lên với đôi chân trần, đặt ly bia nhỏ xuống ghế, có lẽ cô đang tận hưởng cuối ngày làm việc của mình vì nghĩ sẽ chẳng còn ai đến quán nữa. 

    “Hừm, vậy cô cho tôi một tô Phở”– Gã trả lời sau vài giây nhìn quanh, cố gằng giọng một chút để toát lên vẻ trung niên của mình, cũng là để làm bản thân bình tĩnh hẳn.

    Cô không trả lời gì mà khẽ gật đầu cười cùng dấu hiệu OK bằng tay trái rồi bước vào trong bếp. Bước qua rèm vải đơn sơ bên lối trái vào bếp, để lại biết bao câu hỏi và năm con người xa lạ cho gã cùng một thứ gì đó gờn gợn. Đôi khi trong bếp phát ra tiếng tanh tách của củi cháy, đôi lúc lại lộc cộc của ly rượu ông già bàn vuông đặt xuống. Anh bạn trạc 30 thì đang hút điếu thuốc cùng lon bia và đĩa gân gà cháy tỏi anh ta nhìn gã với vẻ dò xét, hai cô gái bàn bên thì đang thầm thì chuyện của mình.

    “Hôm nay em thế nào?”– Cô gái gần 30 nghiêng sang một chút rồi hỏi, ngón tay phải áp út của cô lướt qua lại trên thành mép cái đĩa gốm nhỏ có vài chiếc bánh đúc cốt dừa, gạc một chút nước đường dính trên, có lẽ tâm hồn cô đang ở ngoài rìa một thế giới nào đó bất định, thoáng qua thoảng lại không biết đi đâu.

    “Đừng”- Cô gái trẻ hơn lấy ngón trỏ tay trái mình dừng tay cô kia lại, lộ ra một chiếc nhẫn, có lẽ cô gái đặt câu hỏi đã có chồng. Cô gái trẻ nhịp nhịp ngón tay mình vài ba cái trên chiếc nhẫn, nhìn xuống nó rồi vừa nói vừa ngẩng lên nhìn ra ngoài cửa sổ.

    “Chị đừng cố bắt chuyện khi không có gì để nói, thế này lại hay”– Cô gái trẻ sau vài giây nhìn ra cửa sổ thì cất tiếng, giọng cô ấm như đang nói bằng giọng mũi, cô lại nhìn vào hoa hồng trong chiếc ly nhỏ rồi đặt câu hỏi :”Chúng đang tự vệ trong lo âu hay chúng sinh ra là để tổn thương kẻ khác ?”; cô ngắt một cành hoa rồi đặt lên trên một chiếc bánh, mặt cúi nhìn chúng.

    “Có lẽ đó là phần cứng cỏi trong chúng, để có trách nhiệm tránh cho thế giới này trở nên phù phiếm, nếu chúng buông thả, có lẽ chính chúng cũng không còn biết quý trọng gì nữa”– Cô gái lớn hơn nhặt cánh hoa rồi treo chúng lên gai của chính cành hoa trong ly. Cánh hoa hồng như đang giãy dụa, dùng dằng, không phải đau khổ mà day dứt trong lưỡng nan. 

    Gã ngồi gần họ nhất nên nghe rõ những lời ưu niệm thật đẹp mà thật u sầu đấy, có lẽ những người khác cũng nghe thấy và ngẫm nghĩ về thân phận mình. Đúng lúc đó người chủ quán mang lên cho gã bát Phở bò nóng hổi, ở một nơi lạnh lẽo heo hút này càng làm chúng tỏa khói nghi ngút trông bắt mắt hơn nữa, có vẻ như một ông Bụt nào đó sẽ hiện ra để cứu giúp đời gã chăng. Chẳng có ai hiện ra cả, chỉ có mình gã và tô Phở trước mặt.

    “Cô cho hỏi còn bánh đúc không, lâu tôi không ăn mà nhìn anh bạn nhỏ ăn ngon quá nên thèm”– Thật ra gã nhìn sang hai cô gái bàn bên mà tránh không nói vì mong họ thoải mái có những phút giây trò chuyện cùng nhau.

    “À còn một ít mẹ tôi gửi từ miệt miền Tây lên chứ ở đây không làm, anh ăn phải đợi sơ chế, lạnh ăn không có ngon”– Cô chủ quán vừa nói vừa chỉ tay vào bếp.

    “Ngoài ra hôm nay thiếu gừng nên con thấy thiếu thiếu”– Cậu nhóc ngồi bên cạnh gã ngẩng đầu lên nói, miệng cười mím môi nhe tới mang tai híp luôn cả mắt.

    “Cũng phải, sáng nay quên mất, xin lỗi nha nhỏ”– Chủ quán vén váy gọn gàng trong khi khụy gối xuống bàn vừa nói vừa nhìn cười cùng vị khách nhỏ tuổi. 

    “Không có chắc cũng không sao đâu hả, một ít gừng chắc không ảnh hưởng nhiều“.

    “Xin lỗi, tôi thấy ăn cũng ổn anh à, đúng là cảm giác không trọn vẹn nhưng có lẽ không sao do bánh của bà chủ ngon dai lắm, anh thử xem sao”– Cô gái lớn tuổi quay lưng lại gặt đầu với gã rồi vừa nói vừa gãi gò má. Cô có mái tóc dài qua khỏi vai một xíu, ăn bận gọn gàng với tông màu hơi nhạt, dưới ánh đèn vàng cô như bước ra từ một bức tranh cũ kĩ, không buồn chán nhưng có phần phai mờ dần.

    “Vậy thì tình yêu ở đâu trên đời này nữa”– Cô gái trẻ vừa nằm dài ra bàn vừa khều khều cánh hoa hồng trên gai nhọn.

    Trong phút chốc cả không gian im lặng không còn một lời nào. Cảm giác một hang sâu nào đó bao trùm mọi thứ xung quanh đến nổi chẳng ai thốt ra nổi, thậm chỉ là không thể nghĩ được gì, chỉ còn lại tiếng buông đũa đặt lên đĩa gốm của ông già bên bàn vuông, ông ta đã định quay đầu nhìn lại sau lưng nhưng rồi lại thôi.  

    Cô thực khách lớn hơn bối rối, quay người đứng lên khều khều tay cô gái trẻ làm cô bật dậy quay ra nhìn. Cô ngay lập tức nhận thấy mình đã tạo nên không khí có phần hơi khó xử này, dù cho cô chẳng có tội tình gì khi hỏi một điều cô còn băn khoăn. Cô quay người đứng lên cúi đầu xin lỗi hai lần, cô làm gã trung niên cũng bối rối theo, cả hai cùng cúi gật đầu xin lỗi qua lại :”Xin lỗi tôi đã làm ồn không gian của hai người”đó là lời thú tội gã đưa ra trong khi lại thích thú lúc quan sát chuyện trước đó. Tạ lỗi vì sự thích thú, hóa ra những niềm hứng khởi đều là tội lỗi chăng ? Cũng không đến như vậy.

    “Nhịn không nổi một bữa bánh đúc không gừng, thì nói gì đến tình yêu, không đáng, không đáng nhận, không đáng”– Người thanh niên trạc 30 tuổi giọng lè nhè say quơ tay quơ chân cầm ly bia loạng choạng xém ngã. Hắn đang định nói thêm gì đó thì bà chủ quán nhanh tay dực cái bánh cuối cùng trong đĩa thằng nhỏ, nhét vào miệng anh ta. Cô quay ra đá lông nheo với thằng nhỏ rồi nói thêm :”Hôm nay miễn phí con về mai còn đi học”

    Thằng nhỏ có vẻ bực mình, cầm đũa chọt chọt vào đĩa, nhưng rồi nó cũng đứng dậy rời đi, trước khi đi nói quay ra nói với ông già ngồi trong góc bàn vuông :”Con về trước nha ông Tư”. Ông già không nói gì mà giơ tay lên, để lộ ra một ít đất sét đông cứng còn sót lại đằng sau bàn tay, không rõ là chuyện gì. Cô chủ quán thu xếp để mọi người ngồi lại vào chỗ cũ, sau đó bưng dọn đĩa rồi lau bàn chỗ thằng nhỏ vừa rời đi. Gã trung niên ngồi xuống ăn tô phở, lâu lâu lại nhìn anh bạn đang ngồm ngoàm cục bánh đúc như bị mắc nghẹn, gã đang suy nghĩ gì đó về lời của anh ta.  

    “Bánh cũng ngon quá bà chủ, chắc lâu không được ăn thế nào thấy cũng ngon, cho thêm lon bia đi chị già ơi, làm gì mà căng vậy, say thôi mà”– Người thanh niên vừa nhai vừa nói vào trong bếp nhưng bị từ chối”Đi về đi, nay uống lố rồi đó, không bán nữa đâu”.

    “Về thì về, không cho say thì thôi, ít ra tui còn dám say tình, hơn khối kẻ chưa bước ra khỏi nhà mà chê ma chê quỷ”– Hẳn bỏ tiền xuống rồi kẹp dưới ly bia cạn, vừa đi vừa quơ quào loạng choạng nhưng cũng ra được tới cổng, hắn còn khép cổng ngay ngắn trước khi đi, một gã say ngông cuồng tử tế.

    “Suốt ngày”– Cô chủ quán nhìn theo, hai tay chống nạnh, cô không lắc đầu vẻ ngao ngán, chỉ là một câu cảm thán cho anh bạn trẻ, cũng có thể cô còn nhớ về ngày xưa của mình chăng ?

    “Anh bạn đó nói cũng có lý mà, đôi khi tôi nghĩ mình không đủ sức sống để yêu thương. Mà thôi, cô có thể cho tôi một ít chanh được không ?”– Anh ta nhìn vô tô phở hay đang nhìn chính mình, nhìn những thứ đã qua, sức sống của anh ta có trở lại trong đó chưa ?

    “Anh bước ra hái giúp tôi, nó ở bên trái chỗ tôi treo cây đèn, anh thông cảm hôm nay tôi bận quá nên thiếu sót đủ thứ cả”– Cô nhóm mũi chân rồi hướng về phía trước chỉ về chỗ cây đèn, từ chỗ của gã thấy rõ chanh đang rất sai quả.

    “Làm sao để biết quả nào dùng được”– Gã buộc miệng hỏi rồi tự dưng thấy sao mình lại hỏi ngớ ngẩn như vậy.

    “Người thành thị phải không, anh cứ ra chạm vào nó, nắm chặt một chút là biết ngay mà” – Cô chủ quán lại ngồi gần bên gã, nhìn về phía những quả chanh trên cành đang chở được hái.

    “Thật ngớ ngẩn”, gã nghĩ về mình như vậy khi đứng dưới ngước cổ nhìn lên cây chanh. Hắn đưa tay lên cao dè dặt, có vẻ người thành thị nào cũng sợ cây cối một cách kì lạ. Trong lúc ấy hắn nghe giọng nói trầm của cô gái trẻ bên trong phát ra dù không rõ lắm”Còn chị thì sao, sức sống để yêu”, cô gái lớn tuổi hơn đáp cái gì đó về khổ và chịu đựng. Đúng lúc đó gai chanh đâm vào vai gã, bao nhiêu khổ của hai người con gái kia với hắn biến đâu mất hết, ký ức khi nhỏ đi hái chanh ở quê nhà thế chỗ hiện về mồn một như gã chưa bao giờ rời đi khỏi đó vậy. 

    “Mình đã từng là đứa trẻ vui vẻ, một người năng nổ và lý tưởng. Mọi thứ mình đều vạch ra kế hoạch rõ ràng, để thành công, để có gia đình đầm ấm, để hạnh phúc !!! Sao mọi thứ lại thế này, sao mọi thứ lại vuột mất như vậy, sao không mãi ở cái làng nhỏ đó mãi mãi cười đùa. Sao mình lại ở một nơi xa xôi kỳ lạ này với những con người mình còn chẳng rõ họ có tồn tại không nữa”– trong suy nghĩ có những ám ảnh bắt đầu xuất hiện, hàng ngàn tấn bông gòn bao quanh, gã vẫn chuyển động nhưng chẳng thể biết được mình đang ở đâu và chuyện gì tiếp theo. Hết đám bông gòn thì thay vào đó là đống quả chanh khổng lồ chèn vào người gã, đôi mắt cay xè còn đầu lưỡi thì đắng nghét. Bỗng nhiên dám chanh rung lên , xa trong không trung có tiếng ai đó gọi”Này anh, này”. Cái đẩy nhẹ vai của cô chủ quán làm gã trung niên bừng tỉnh trong cơn ho thốc và rơi nước mắt. Cô lắc nhẹ gã thêm lần nữa rồi hỏi”Sao anh lại đưa chanh lên mặt rồi bóp mạnh thế này, tôi nói chạm vào là biết ngay thôi mà, trời ơi dân thành phố”.

    Cô chủ quán vừa hỏi gã tự đi vào được không, vừa đi sau lưng gã để trông chừng, cô cũng không muốn chạm vào một người đàn ông lạ mặt, chỉ trông nom nhau như một con người. Cô đi vào nhà lấy cái khăn mặt ướt và một con dao nhỏ, để gã lau mặt vừa là để sắc chanh ăn tiếp tô phở còn hơi âm ấm. Hai người bàn bên cũng quay ra xem gã có cần giúp gì không nhưng rồi họ về lại thế giới của mình, nơi có cánh hoa hồng treo dày vò trên gai gió. Ông già thì lặng thinh như hòn đá dưới suối trong bức tranh treo trên tường, có lẽ lão đang cố nhớ ra bốn câu thơ đã nhòe kia. 

    Không gian trở lại như lúc gã vừa mới bước vào quán, cô chủ rót tiếp một cốc bia nhỏ ngồi vào góc với cái tạp dề đã gỡ, hai cô gái thì trò chuyện gì đó của họ gã cũng không nghe rõ lắm vì vẫn chưa hoàn hồn dù đang từ từ ăn nốt tô phở đã dần nguội. Một cơn gió thổi đập vào cửa sổ nơi có cái bàn thờ, viên đã rơi xuống, lăn lộc cộc vài ba tiếng dưới sàn, cô chủ quán nhặt nó lên rồi chắp tay vài ba cái cho điều gì đó hay ai đó đã không còn hay là chưa đến. Một hạt đất sét cứng khô trên tay ông già rơi xuống, lão cúi xuống nhặt lên để qua một bên bàn rồi rót tiếp một ly rượu nhỏ. Tiếng rù rì của hai cô gái lặn dần xuống, từ ngữ ít đi mà nỗi niềm ngày một dâng lên. Ngẫm nhìn lại gã lại thấy, ở một vùng đất hẻo lánh mà họ văn mình hơn khối kẻ thành thị luôn coi mình là hiện đại, không ai xét nếp ai dù sự thể có phần hơi trái lẽ thường, có lẽ họ hiểu, trái lẽ thường là bản chất của một con người bình thường. 

    “Chị chưa bao giờ dám khởi đầu, em về đây” – Cô gái trẻ vừa nói vừa đứng dậy vùng chạy ra khỏi quán, người còn lại lặng lẽ nhìn theo đợi cho bóng cô không còn nhìn thấy thì mới quay vào trong, cô xin chủ quán cho cô xin lửa để đốt một điếu thuốc loại nhỏ, rồi ngồi đó một mình.

    Điếu thuốc trên tay cô thực khách còn lại vừa tàn một nửa, cô không hút nữa mà gác nó lên trên miệng ly hoa hồng, chờ cho nó cháy dần rồi tự lọt vào hố sâu không bật dậy nổi.”Chỉ sợ đó là khởi đầu của một bất hạnh mới mà thôi”cô thầm thì trong lặng lẽ như đang tự nói với cả cuộc đời mình vậy. Cô chú quán cũng vừa cạn ly bia, cô đặt xuống đi dọn tô phở cho gã trung niên rồi mang lên đĩa bánh đúc gã gọi trước đó, có lẽ cô đợi xem thực khách của mình ăn hết món nào mới mang lên món khác, kẻo lại no rồi thì thừa mứa. Cô mang đĩa bánh lên, dùng đũa gắp một miếng gừng đặt lên trên,”tôi phát hiện còn dư một ít nên đập ra cho vào nồi nước đường nóng, mời anh”. Cô lùi lại, quay người về phía cô khách cuối cùng hôm nay, xoa lưng cô ấy nhè nhẹ, có vẻ họ quen nhau từ trước nên hiểu chuyện gì đó đã xảy ra cho nhau. Trước cổng có tiếng bước chân dồn dập từ ngoài chạy vào quán, chủ quán bước từ trong bếp ra xem là ai, hóa ra là anh chàng tài xế xe bus mà gã trung niên gặp khi nãy. 

    “Ai giống con bé Gấm em gái em vậy chị, nhỏ vừa hớt hải chạy ra khỏi cổng em chưa kịp nhìn, giờ này nó đi đâu vậy ta, tưởng phải ở nhà ôn thi chứ”– Anh ta một tay chống nạnh một tay gãi đầu quay quay nhìn hỏi cô chủ quán.

    “Sao hôm nay về trễ vậy, làm ly bia lạnh đi, thở gì mà hổn hển như trâu”– Cô chủ quán tránh không trả lời, có lẻ cô gái trẻ vừa rồi đúng là em gái anh ta, cô đi vào trong rang một ít đậu phộng mà không nói gì thêm cả.

    Tội nghiệp anh chàng một thì tội cho cô gái bàn bên mười, cô loay hoay thu dọn túi xách và áo khoác, đánh rơi cả chìa khóa xuống nền nhà. Anh tài xế cúi nhặt dùm thì cô tránh ánh mắt không nhìn rồi giật nhanh lấy chìa khóa, đứng lên để tờ tiền 500k lại luôn trên cái bánh ăn còn dang dở rồi chạy nhanh ra khỏi cửa. Giờ thì thật tội nghiệp cho anh chàng chẳng hiểu chuyện gì, cứ gãi đầu rồi loay hoay mãi không biết trời trăng. Anh ta ngồi xuống ghế bên trái gã trung niên, vẫn còn chưa hiểu mô tê gì thì chợt thấy người quen khi nãy nên thốt lên”Ủa anh hả, nãy em còn lo cho anh định chạy theo coi có sao không, ai dè. Có duyên ghê, chú uống với con vài ly chơi cho ấm nha”. Gã trung niên cũng chẳng nghĩ ngợi được gì, ngày hôm nay đã quá nhiều sự kiện làm gã như lạc vào một bức tranh lễ hội huyên náo, tâm trạng luyến láy lẫn lộn hư thực. Hắn quyết định uống một phen mà quên mất túi chẳng còn một xu.

    “Mà sao anh lại trong bộ dạng như lúc nãy mà đến đây, ý em là nhìn anh bệ rạc lắm”– Sau vài ly ngà ngà say, vài ba câu chuyện tự thoại về bản thân thì anh tài xế bus hỏi . Anh ta là vậy, một người huyên náo, ngây ngô đến mức đôi khi vô tình tọc mạch mà không hay biết.

    “Kệ người ta mày, nhìn mày coi, toàn mùi dầu khí chứ ở đó mà chê”– Cô chủ quán cảm thấy câu hỏi quá đà nên nhanh miệng chen vào. Giọng điệu của cô có vẻ mọi người ở đây đều gắn bó, họ biết về nhau rõ nhưng cũng tế nhị không xen vào thô lỗ.

    “Không sao không sao cô, tôi bệ rạc thật mà. Anh đi lạc, ngủ quên, có lẽ quên luôn mình là ai, lạc luôn nơi mình đến”– Gã trung niên cúi đầu lè nhè đáp, gã sống lành mạnh và nguyên tắc nên ít khi động vào rượu, sau vài ba ly đã như người mơ màng.

    “Cái miệng em bậy rồi, xin lỗi anh, chị Lanh cho em thêm một xị tạ tội đi, à còn mồi gì cho em một ít nay đói quá”– Anh bạn lại gãi đầu cúi cúi rồi nói với cô chủ quán, hóa ra cô ấy tên Lanh

    “Ít thôi nha, để tui còn ngủ, bác Tư mà về là hai ông cũng phải đi chỗ khác cho tui đó, có mình tui ai dám chứa hai ông xỉn”- Chị Lanh vừa nói vừa chỉ tay về phía ông già Tư bên góc bàn có bức tranh, ông đang ngồi xếp mấy hạt đậu theo những hình thù đẹp mắt nhưng không rõ là gì. 

    Lanh đi vào bếp làm cho họ một đĩa cơm thập cẩm, gồm những gì còn sót lại trong bếp. Trong lúc đầu bếp làm đồ ăn, gã trung niên bắt đầu lè nhè kể về cuộc đời mình, từ trong bếp Lanh nghe rõ cả, có những đoạn do say nên không rõ ràng lắm nhưng nhìn chung cô phần nào hình dung được người khách lạ này, lạ đã trở thành quen chỉ sau một đêm, chung quy đời người cũng chẳng có mấy thứ để kể. Cô chủ quán làm một chảo to chia làm ba đĩa, cô đưa cho hai gã say một đĩa to, một đĩa nhỏ cô mang qua cho bác Tư,”con mời bác”, rồi ông đáp”cảm ơn chị”. Cô mang một đĩa nhỏ ngồi xuống góc quen thuộc của mình, ngồi đó dùng bữa cơm muộn của người phục vụ, những người chẳng mấy khi kể nhưng lại nghe rất nhiều.

    Được một lát sau, hai gã kia đã say khướt, cầm ly rượu không lên nổi, giọng nói cũng không ai nghe nổi. Gã trung niên thò tay vào túi thì chợt nhớ ra mình không còn tiền, gã hoảng hốt loay hoay, miệng cứ nói”Xin lỗi tôi đi vội không mang theo tiền”, vài ba câu đã gục xuống bàn mơ mơ màng màng. Đúng lúc đó ông Tư đứng lên, nhìn bức tranh rồi đọc lên một bài thơ bốn câu, có lẽ ông đã nhớ ra hay là tự đề tác.

    Nước trên nguồn chảy tuôn xuống hạ

    Người trên đời trôi nổi xót xa

    Khe suối nhỏ cánh hoa rơi rụng

    Hòn đá vùi chẳng tụng mà thông

    “Tiền đây Lanh, tính luôn tụi nó, còn Khắc, mày dẫn thằng này về xưởng tao, mai qua tính sau. Thôi bác Tư về nha con.”– Sau khi cảm tác một bài thơ giữa đêm khuya nơi núi rừng lạnh thiết, bác Tư quay ra nói với cô chủ quán rồi khều đầu anh tài xế xe bus tên Khắc. Trong mơ màng, gã trung niên chỉ nghe thấy mỗi bài thơ và”mai qua tính sau”.

    Đêm hôm ấy, mọi người đều yên bề khi về nhà, Lanh dọn dẹp quán sạch sẽ, lau hòn đá trên bệ thờ rồi đốt thêm một nén nhang. Cô kê mấy cái bàn trong quán lại, hóa ra bàn vuông để kê đầu, bàn chữ nhật gác chân, cứ thế cô đặt gối và mền ra rồi ngủ sau một ngày bình thường của người nơi đây, đâu đó cũng có vài điều lạ nhưng có lẽ rồi cũng sẽ kết thúc. Sau khi dẫn gã trung niên lạ về xưởng bác Tư, Khắc về nhà khẽ mở cửa phòng em gái thì thấy Gấm đã ngủ, vốn người tính đơn giản, anh cũng quên luôn bóng hình lờ mờ vùng chạy ra khi nãy ở Quán Rụ. Mai anh không làm việc gì nên mở tivi lên coi phim, mà không phải, là nghe phim mới đúng, anh chỉ mở để có tiếng người cho dễ ngủ, có lẽ anh đã quen không khí trên xe bus. Còn bác Tư thu xếp xong cho người lạ ngủ thì ra ngoài đi dạo cùng con chó già chỉ còn đâu đó chục cái răng, ông thích nhất giây phút này trong ngày, mọi thứ thật êm ái và xinh đẹp.